Trời chưa sáng hẳn. Sương còn đọng trên mấy ngọn cỏ ven đường, ướt cả ống chân đứa nào đi trước. Sơn vừa kéo cái quần ngắn lên cho khỏi sụp bùn thì đã nghe tiếng gọi quen thuộc ngoài ngõ:
-Sơn ơi! Đi chưa?
Lý Văn Thơ đứng dưới chân dốc, mặt mũi lấm tấm nước sương, một tay xách cặp, một tay phe phẩy cái mũ lưỡi trai cũ. Cái áo sờn vai nó mặc đã bạc màu, nhưng vẫn là cái áo lành nhất nó có. Mẹ nó mất sớm, bố nó quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời, cho nên cái gì nó cũng phải tự lo từ hồi chưa biết buộc dây giày.
Sơn chạy ra. Hai đứa đi song song qua đầu ngõ, ngang cái sân gạch đã mòn của bà Hợi. Bà đã dậy từ bao giờ, đang ngồi bên bếp tro, tay chống gậy tre, cái nón lá sờn vắt trên vai. Thấy hai cái bóng nhỏ, bà với tay vào cái rổ đội:
-Khoai đây, khoai đây. Cầm lấy mà ăn cho ấm bụng.
Sơn nhận củ khoai còn nóng, bóc vỏ cháy xém, hơi khói bay lên thơm nức mũi. Thơ cũng được một củ, nhưng nó cắn nửa cái đã hết, vừa nhai vừa nói:
-Khoai bà Hợi bùi thật. Thế mà nhà tao đào mãi chẳng được củ nào ra hồn.
-Nhà mày đất bạc màu, chịu thôi.
-Biết thế. Nhưng mà tao thích đất nhà mày hơn. Đất đỏ, trồng gì cũng lên. Có cái dốc này là ghét. Ngày nào cũng phải leo, mà dốc thì dài, đá thì lởm chởm.
Hai đứa bắt đầu vượt dốc. Con dốc đất đỏ đổ xuống đường liên xã, mùa mưa thì trơn như mỡ, mùa khô thì bụi mù mịt. Sơn đi quen, biết chỗ nào rễ cây trồi lên, chỗ nào đá tảng nghiêng, cho nên cứ thế mà bước đều. Thơ đi sau, vừa thở vừa kể:
-Mày biết gì chưa? Con chó nhà bác Ba đẻ bốn con. Bốn con luôn. Một con đen, ba con lang.
-Lang như con vàng nhà tao hả?
-Không. Lang chỗ này là trắng đen, nhìn như chó đi giữa hai mùa.
Sơn cười. Nó thích cái cách Thơ nói. Chuyện gì qua miệng Thơ cũng có hình, có màu, như thể cả cái xóm nghèo này đều là tranh vẽ của nó.
-Còn mày có gì kể không? Thơ hỏi.
-Nhà tao hôm qua cắt lúa. Bố tao thức từ bốn giờ sáng, đạp xe đi từ xã qua huyện.
-Trời, bố mày ăn lương mà cũng cực.
-Ừ. Đạp một cái xe cũ kỹ, giày thì rách đế, tao thấy thương nhưng không dám nói.
Thơ im một lúc. Nó vốn nhanh nhảu, nhưng có những chuyện nó im.
Thơ lái sang chuyện khác:
-Vậy mày có thấy bọn con gái lớp bên hát không? Hôm qua chúng nó tập văn nghệ, cô giáo bắt đứng hàng ngang.
-Có. Tao cầm cái trống khua cho vui, cô bảo tao khua sai nhịp.
-Sai nhịp là giỏi rồi. Tao còn chưa được cầm trống.
Con dốc vẫn dài. Phía trên, khói bếp bay lên xám xịt trên mấy nóc nhà tranh. Tiếng gà gáy, tiếng chó sủa, tiếng người gọi nhau đi làm sớm. Mùi rơm, mùi phân trâu, mùi củi ướt. Sơn hít một cái thật sâu, nhớ như in cái mùi này.
Sơn hỏi:
-Mày có nhớ hôm bão không? Nước ngập gần hết bờ mương. Nhà bác Tư bị sập cái chuồng lợn.
-Nhớ. Bà Hợi ôm tao chạy, gậy còn quên ở hiên.
-Bà ấy thương tụi mình như cháu ruột.
Thơ cười hì hì, nhưng mắt nhìn xuống đường. Nó không nói nữa. Sơn cũng không hỏi. Cả hai đứa đều hiểu, có những tình thương phải đếm bằng củ khoai, nắm xôi, không bằng lời.
Xuống hết dốc, con đường liên xã hiện ra, đất đỏ, hai bên trồng sắn lúp xúp. Xa xa, dưới chân đồi, mái trường làng nằm giữa bạt ngàn cây. Cây bàng già trước sân đứng trơ trụi, mấy cành khẳng khiu như bàn tay xòe ra che cho lũ trẻ. Sơn thích cái cây đó. Nó hay ngồi dưới gốc, nghe tiếng lá xào xạc mà tưởng tượng ra những chuyện xa lắc.
Thơ bỗng nghiêm giọng hỏi:
-Sơn này, mày ở đây mãi với tao hả?
Sơn khựng lại. Nó không trả lời được. Bố nó dạo này hay nói chuyện trên huyện, mẹ nó hay ngồi im nhìn mấy tập giấy tờ. Không ai bảo gì nó, nhưng nó biết có cái gì đang đổi thay.
-Tao không biết, Sơn nói thật.
-Không biết thì thôi vậy, Thơ nói, rồi đổi giọng. Nhưng trước khi mày đi đâu thì cũng phải kể cho tao hết chuyện cái xóm này đã. Tao không chịu kể một mình đâu.
Trống trường đã điểm. Ba tiếng, dồn dập, vang lên giữa buổi sớm trong veo. Hai đứa chạy nước rút qua cánh đồng, dép nhựa đập lộp bộp trên đất. Sơn vừa chạy vừa cười, một cái cười vô cớ, cái cười của đứa trẻ chưa biết rằng có những buổi sáng đi học cùng bạn, sau này chỉ còn nhớ được chứ không còn được sống lại.
Phía trước, cánh cổng trường làng đang mở ra.
Lớp học nằm ở đầu xóm, chỗ con dốc đất đỏ vừa hết thì ngoặt vào một quãng đường đất hẹp, hai bên là vườn sắn của mấy nhà. Nếu không phải vì có tiếng đọc bài vọng ra thì người lạ đi ngang dễ tưởng đó là cái kho thóc ai dựng tạm. Bốn vách nứa, mái tranh, nền đất nện. Mùa mưa thì dột, mùa nắng thì bụi, còn mùa gió như mùa này thì gió lùa qua từng khe nứa nghe rào rào như có ai đó thổi sáo ở phía sau.
Sơn ngồi bàn thứ hai, dãy bên trái. Cái bàn ghép bằng ba tấm ván khác cỡ, đóng vội nên đứa nào gác tay mạnh là đầu kia nảy lên. Ngay cạnh nó là thằng Thơ, mặc cái áo cũ đã bạc, vai phải vá một miếng vải xanh không cùng màu. Thơ học dở hơn Sơn, nhưng chữ nó viết tròn trịa lạ thường, nắn nót từng nét như người ta móc từng củ sắn khỏi đất. Cả lớp hai mươi mấy đứa, đứa nào cũng áo vá, nhưng vá theo kiểu của nhà nó. Đứa vá bằng vải bao tải, đứa vá bằng vải áo cũ của bố, đứa thì cởi áo anh ra mặc, ống tay dài trùm cả bàn tay. Chẳng ai thấy xấu hổ vì chuyện đó. Ở làng này, áo vá là chuyện tự nhiên như củ khoai có vỏ.
Cô Nguyệt đứng trên bục gỗ. Bục cũng vá. Chỗ thì vá bằng thanh tre, chỗ thì lót thêm một viên gạch mộc cho khỏi kêu. Cô mặc chiếc áo sơ mi trắng đã ngả màu nước trà, cổ áo hơi sờn, nhưng lúc nào cũng gọn gàng, tóc buộc sau gáy bằng một sợi dây đen. Trong ký ức của Sơn, cô chưa một lần nào mặc áo nhàu. Cô nói tiếng Kinh pha chút giọng địa phương, chữ nào ra chữ nấy, chậm rãi, ngắt ở những chỗ mà đứa chậm hiểu cũng kịp theo.
Hôm ấy cô giảng về phép chia. Cô viết lên bảng một hàng số, viên phấn kêu ken két. Bảng gỗ sơn đen đã bạc, chỗ giữa loang lổ như da người già, nên chữ viết tới đó phải ấn mạnh. Cô ấn mạnh thật, vai hơi rướn lên, rồi quay lại, đưa mắt nhìn khắp lớp. Cái nhìn ấy không dữ, mà chặt. Nó dừng lại ở từng đứa, đủ lâu để đứa đang nghịch ngầm phải ngồi thẳng, đủ nhanh để đứa đang học không bị ngắt mạch.
-Thơ.
Thơ giật mình, đứng dậy, ghế kéo trên nền đất một tiếng xoẹt.
-Em lên chia bài này cho cô.
Thơ lên bảng. Nó cầm phấn bằng cả bàn tay, viết được nửa bài thì khựng lại. Cả lớp im. Gió lùa qua vách nứa, thổi bay mấy sợi tóc lòa xòa trên trán cô Nguyệt. Cô không giục, cũng không mắng. Cô chỉ bước tới, đứng bên cạnh, nói nhỏ đủ để mình Thơ nghe:
-Chia cho hết. Còn dư thì ghi ra. Không sao.
Thơ viết tiếp. Số dư nó ghi lệch một chút, cô vẫn gật đầu. Khi nó về chỗ, mặt đỏ như gấc, cô nói với cả lớp, giọng vẫn đều đều:
-Các em nghe cho rõ. Cái gì không hiểu thì hỏi. Không hiểu mà im mới là cái dốt. Còn hiểu rồi mà không nói, đó là cái tội của người học.
Sơn ngồi im, nghe câu đó mà trong bụng có cái gì đó lắng xuống. Nó không hiểu hết, nhưng nó nhớ. Nhiều năm sau, ở một thành phố khác, đứng trước bảng của một ngôi trường xây gạch, nó sẽ nhớ lại câu này, và nhớ lại cái cách cô Nguyệt nói nó, không cao giọng, không đập thước.
Có một trận mưa rào đổ xuống giữa buổi. Mái tranh thấm, nước nhỏ xuống vài chỗ, mấy đứa ngồi dưới phải nghiêng người. Cô Nguyệt bảo cả lớp dịch bàn sang bên, chỗ khô thì ngồi, chỗ dột thì lấy cặp che. Cô tự tay bê một chồng sách giáo khoa cũ kỹ trên bàn mình đặt lên bục, khỏi ướt. Sách cũ, gáy đã sờn, mỗi cuốn có tên ba bốn đứa học trò cũ viết chồng lên nhau. Sơn từng được mượn một cuốn, mang về nhà, bọc bằng giấy báo cẩn thận, hôm sau trả đúng hẹn. Cô nhìn nó, gật đầu, không khen một câu nào, nhưng trong mắt cô có cái gì đó giống như hài lòng. Sơn nhớ mãi cái gật đầu ấy hơn cả những lời khen.
Buổi học hôm ấy tan muộn vì mưa. Bà Hợi, cái bà cụ già ở đầu ngõ nhà Sơn, chống gậy tre đội nón lá sờn lọ mọ tới đứng dưới hiên chờ cháu. Bà dúi cho mỗi đứa một củ khoai lang luộc còn nóng, bốc khói trong mưa. Thơ cầm củ khoai, bẻ đôi, đưa Sơn một nửa. Hai đứa ngồi trên bậc thềm đất, ăn khoai, nhìn mưa rơi xuống vườn sắn. Sơn cắn một miếng, ngọt, bùi, nóng tới mức phải vừa nhai vừa hà hơi.
Cô Nguyệt đi ra, tay ôm một chồng vở. Cô dừng lại nhìn hai đứa, rồi nhìn cả cái sân đất loang nước. Cô nói với không khí nhiều hơn là nói với ai:
-Nhà nào nghèo thì trời cũng chẳng thương. Nhưng chữ nghĩa thì nó công bằng. Học được là của mình, không ai lấy mất.
Nói xong, cô đi. Dáng cô nghiêng nghiêng trong mưa, đi từ từ, không vội. Sơn nhìn theo cho tới khi cái bóng ấy khuất sau khúc ngoặt của rặng tre.
Đêm đó, Sơn nằm trên cái phản tre, nghe mưa rơi trên mái lá, trong bụng còn ấm củ khoai của bà Hợi. Ở cuối làng, nhà Thơ chắc còn đang chong đèn dầu, Thơ học bài xong lại lo cho hai đứa em. Bố nó đi làm xa, mẹ nó mất sớm. Sơn nghĩ tới chữ của Thơ, tròn trịa, nắn nót. Rồi nó nghĩ tới viên phấn của cô Nguyệt, tới chỗ bảng bạc màu, tới câu "không hiểu mà im mới là cái dốt". Nó không biết đời mình rồi sẽ đi đâu. Nó mới chỉ là một đứa trẻ ở cuối con dốc đất đỏ, nằm nghe mưa, và tin rằng ngày mai cô Nguyệt vẫn sẽ đứng trên cái bục gỗ vá, vẫn sẽ viết chữ ken két lên tấm bảng ấy, và cả cái làng nghèo này vẫn sẽ sống đúng như nó đang sống. Sơn không biết rằng chỉ một thời gian nữa, cái bục gỗ, vách nứa và củ khoai của bà Hợi sẽ thành ký ức. Nó chỉ biết rằng, lúc ấy, trong căn nhà tranh dột, nó thấy mình được ở đâu đó rất rõ ràng.
Hôm ấy là tiết tập đọc, tiết thứ hai của buổi sáng. Trời vào độ tháng Chín, nắng chưa gắt, chỉ đủ vàng một dải trên bục gỗ kê gạch đã sờn, nơi cô Nguyệt đặt quyển sách giáo khoa và cây thước gỗ dài.
Cô Nguyệt là cô giáo chủ nhiệm của lớp Sơn. Người nhỏ, tóc buộc gọn sau gáy, áo sơ mi bạc màu ở cổ, giọng nói không to nhưng mỗi lần cô dằn xuống là cả lớp im như thóc. Trong trường, đứa nào cũng biết cô không thiên vị ai, khen ra khen, mắng ra mắng, mà mắng thì bao giờ cũng có lý.
Cô gọi Thơ.
Thơ đứng dậy. Cái ghế gỗ đẩy ra sau một tiếng kịt nhỏ. Nó cầm sách bằng hai tay, cúi gằm, chân trần đặt hẳn lên thanh gỗ ngang đã mòn nhẵn của bàn học. Quần áo nó là quần áo cũ của bố nó thắt lại, và trên vai áo, chỗ gần cổ, có một miếng vá hình chữ nhật, chỉ khâu thẳng đơ.
Nó đọc.
Giọng nó chậm. Chậm như người đi trên con dốc đất đỏ mỗi buổi sáng, chậm đến nỗi mỗi tiếng chữ rớt ra như người ta bốc từng hòn đá một. Tới câu thứ hai thì nó ngập, cái chữ "rì rào" mãi mới bật ra được. Cả lớp cười. Tiếng cười nhỏ thôi, len lén, rồi thành một đợt như lá khô bị gió xốc, đứa ngồi bàn đầu cười khục khục trong tay áo, đứa bàn cuối cười hẳn ra thành tiếng.
Sơn ngồi bàn ba, thấy nóng ran hai tai. Nóng như bị chính nó đọc sai vậy.
Cô Nguyệt gõ thước xuống mép bàn. Một tiếng "cộc".
-Cười cái gì? cô hỏi, giọng không to. Các em đọc hay hơn bạn được mấy chữ? Hay hơn thì đứng lên đọc cho cả lớp nghe.
Không đứa nào đứng lên. Cái im lặng kéo dài chừng ba nhịp thở. Cô hạ thước xuống, nhìn Thơ, giọng dịu đi một chút:
-Con đọc chậm nhưng con không bỏ chữ nào. Ngồi xuống. Về nhà đọc lại bài, đọc to, đọc cho cái bếp nó nghe.
Thơ dạ một tiếng bé xíu, ngồi xuống, mắt dán xuống mặt bàn. Cái mặt bàn gỗ xước đầy ngòi bút, chỗ nào cũng có tên một đứa nào đó khắc vào.
Rồi cô gọi Sơn.
Sơn đứng dậy, hít một hơi. Bài hôm ấy là một bài thơ ngắn, bốn câu, tả buổi sáng ở nông thôn. Bố nó đã dạy nó bài này từ trước, hôm bố đi huyện về, ăn cơm xong, bố ngồi trước hiên, mở cuốn sách của nó ra và bảo: "Đọc cho bố nghe. Đọc to, đọc chậm, đừng có nuốt chữ."
Nó đọc. Một hơi, liền mạch, chữ nọ nhả vào chữ kia vừa vặn. Đọc hết, nó im, chờ.
Cô Nguyệt nhìn nó, hơi nghiêng đầu, rồi gật một cái. Cô cầm phấn, viết bên cột điểm một con chín to đùng, nét phấn trắng đằm trên nền đen.
-Được, cô nói. Các em thấy chưa, đọc là phải như bạn Sơn đây. Không phải bạn ấy học giỏi hơn ai đâu, bạn ấy đọc buổi tối ở nhà. Bố bạn ấy dạy bạn ấy đấy.
Cả lớp quay lại nhìn Sơn. Có đứa cười với nó, có đứa chỉ nhìn rồi quay đi. Sơn ngồi xuống, trong bụng thấy một cái gì nhẹ nhẹ, ấm, tưởng như là nắng.
Nhưng rồi nó quay sang trái.
Thơ đang nhìn nó. Không phải nhìn theo kiểu ganh tị của mấy đứa con nhà khá hơn trong lớp, cái kiểu nhìn mà nó quen, kiểu "à, nó có vở mới, còn mình thì không". Mắt Thơ buồn một cách khác. Buồn như cái buồn của đứa chưa bao giờ có ai ngồi cạnh dạy nó đọc một câu nào. Cái buồn của nhà không có mẹ từ năm nó lên bốn. Bố Thơ đi làm nương từ sáng tinh mơ đến tối mịt, về đến nhà thì cơm đã phải tự nấu, mà nấu bằng bếp củi thì thổi mãi không đỏ, đến lúc ăn được thì chữ nghĩa trong đầu đã tắt tự khi nào.
Thơ nhìn nó một nhịp thôi, rồi quay đi, hai tay đan vào nhau trên mặt bàn.
Sơn thấy cái ấm trong bụng mình nguội dần. Nó chợt nhớ sáng nay, cũng như mọi sáng, Thơ đứng ở đầu ngõ gọi: "Sơn ơi! Sơn ơi, đi học không?" Nhà Thơ ở cuối làng, chỗ con dốc đất đỏ dài đổ xuống đường liên xã, muốn đến nhà Sơn thì phải đi ngược lên, mà nó chưa bao giờ kêu mệt. Sáng nào cũng đứng đó, hai tay xỏ vào túi quần, gọi hai ba lần, đến khi Sơn chạy ra thì cười hì hì, hỏi: "Hôm nay mày làm bài chưa?"
Hôm qua nó trả lời: "Làm rồi."
Hôm nay nó đã biết câu trả lời đó là một cái gì hơi nhói.
Tiết tập đọc hết. Trống ra chơi đánh ba tiếng khô khan, cả lớp ùa ra sân như ong vỡ tổ. Sơn chậm chân. Thơ cũng chậm chân. Hai đứa cùng bước ra cái cửa hẹp, vai suýt chạm nhau.
Ngoài sân, cây bàng già ở góc trường đang rụng lá đỏ, rụng từng cái một, xoay xoay rồi đáp xuống đất. Thơ đi trước, Sơn đi sau. Không đứa nào nói gì. Đi đến gốc bàng thì Thơ dừng lại, cúi xuống, nhặt một chiếc lá, quay mặt đi, rồi nói, giọng nhỏ như giọng đọc bài lúc nãy:
-Tao đọc chậm, chứ tao có ngu đâu.
Sơn đứng im. Nó muốn nói một câu gì đó. Muốn nói "tao biết", muốn nói "tối nay mày qua nhà tao, tao với mày đọc chung", muốn nói "bố tao dạy được hai đứa mà". Nhưng cổ nó nghẹn lại, và cái tính hay im của nó, cái tính mà sau này nó mang theo xuống thành phố và đâm ra có lúc hại nó, lại trỗi lên trước.
Thơ buông chiếc lá xuống. Gió thổi, chiếc lá lăn hai vòng rồi nằm im trên nền đất.
-Thôi, tao đi chơi bi, Thơ nói.
Nó chạy. Chân trần nện xuống sân gạch vỡ nghe lép bép. Sơn đứng lại dưới gốc bàng, nhìn theo cái lưng áo vá đang nhỏ dần ở phía cuối sân.
Trống trường vừa dứt ba tiếng, sân đất đỏ đã bùng lên như nồi nước sôi. Lũ trẻ lớp dưới ùa ra trước, chân đất chạy lạo xạo trên lớp cát mịn, đứa nào cũng giành chỗ dưới gốc bàng già để chơi ô ăn quan. Cái cây ấy nghiêng hẳn về phía hàng rào, tán lá xòe rộng che mát cả một góc sân, gốc nổi u lên như nắm tay người khổng lồ. Sơn vẫn nhớ mùa hè năm ngoái, cả xóm leo lên đó hái quả, quả bàng chín vàng, ăn chua chua bùi bùi, hạt luộc lên ăn thay cơm.
Sơn đi chậm hơn mọi ngày. Sáng nay mẹ dúi cho cái cặp nặng trịch, bảo "đi đường cẩn thận", rồi quay vào bếp như thể không có gì lạ. Cậu đứng dưới hiên nhìn lũ bạn đang chơi, tay đút túi áo, chưa muốn mở cặp ra.
Thơ từ đâu chạy tới, đầu trần, tóc ướt mồ hôi dính vào trán. Cái quần nâu của nó đã bạc màu, ống thấp ống cao, người gầy nhom nhưng chạy nhanh nhất xóm. Nó thở hồng hộc, tay cầm một gói lá chuối gói vụng về, buộc bằng sợi lạt khô.
-Sơn! Tao phần mày này.
Nó ngồi xổm xuống cạnh bậc tam cấp, cẩn thận gỡ sợi lạt. Bên trong là một nắm xôi trắng, còn hơi ấm, có mấy hạt muối vừng rắc lấm tấm. Nắm xôi chắc chỉ bằng nửa bàn tay Thơ, nhưng vo tròn chặt, chắc hơn nắm cơm bình thường.
-Bà ngoại tao nấu sáng nay. Bả bảo tao mang đi học ăn cho chắc bụng.
Sơn nhìn nắm xôi, rồi nhìn Thơ. Cậu biết nhà Thơ. Mẹ nó mất từ hồi nó lên bốn, bố nó một mình làm ruộng, lại còn nuôi thêm hai đứa em. Bữa cơm nhà nó thường là ngô luộc với rau rừng, hôm nào được bữa cơm trắng là hôm ấy có khách. Bà ngoại nó ở tận bản trên, lâu lâu mới xuống, chắt chiu được bát gạo nếp nào thì để dành cho cháu đi học.
-Mày ăn một nửa thôi, Sơn nói. Tao có cơm mà.
-Thì chia hai. Thơ cười hì hì, để lộ hàm răng sún. Mày mở cặp ra đi, tao biết thừa mẹ mày không cho mày đi học với cái bụng rỗng bao giờ.
Sơn mở cặp. Hộp cơm bằng nhôm đã móp, mẹ gói trong mo cau rồi mới đặt xuống đáy cặp cho khỏi đổ. Cậu mở nắp.
Cơm độn khoai. Khoai lang vàng, xắt miếng to, xếp đều trên nền cơm trắng. Nhưng hôm nay phần cơm dày hơn thật. Dày hơn mọi khi. Không phải chỉ vài hạt độn lẫn vào gạo như những buổi khác mà là một lớp cơm trắng lèn chặt, phía dưới mới tới khoai. Mẹ dúi cho cậu một củ khoai lang luộc nữa bọc giấy báo, vẫn còn âm ấm.
Sơn ngồi im. Cậu chợt nhớ sáng nay mẹ dậy sớm hơn thường lệ. Tiếng cháy nổ lép bép trong bếp, tiếng soong cơm mở nắp, rồi tiếng thở dài rất khẽ mà cậu nghe thấy khi còn nằm trong mền. Yến ngủ say bên cạnh, tay nắm vạt áo cậu. Bố đã đạp xe đi từ tinh mơ, qua huyện, đôi kính gọng nhựa buộc dây thun đen nhấp nhô trên sống mũi theo từng vòng bàn đạp.
Mẹ không nói gì. Mẹ chỉ gói cơm dày hơn.
-Sao mày đứng người ra thế? Thơ huých tay. Cơm nguội bây giờ.
Sơn gật đầu, bẻ đôi nắm xôi. Đưa cho Thơ một nửa.
-Tao ăn với mày.
-Chớ mày không ăn cơm hả?
-Có. Chút nữa tao ăn.
Sơn nhét nửa nắm xôi vào miệng. Xôi nếp dẻo, muối vừng béo, cắn một miếng là thơm từ mũi tới cổ họng. Cậu nhai chậm. Bỗng thấy ngon hơn bất cứ thứ gì từng ăn. Không phải vì nếp. Vì cái cảm giác ở giữa sân trường đất đỏ này, hai thằng nhỏ ngồi xổm cạnh nhau, chia nhau một nắm xôi nhỏ xíu mà thấy như đang ăn cả một bữa cỗ.
Thơ ăn hết phần mình trong ba miệng, vét cả hạt vừng còn dính ở mép lá chuối, xong mới ngửa cổ lên trời thở ra một hơi khoan khoái.
-Đã ghê. Bữa nào tao bảo bà ngoại nấu thêm, tao chia mày nữa.
-Ừ. Bữa nào tao xin mẹ tao dúi thêm khoai cho mày.
Thơ khoát tay, rồi đứng dậy, phủi đất đỏ bám ở mông quần.
-Thôi, tao đi nhảy dây với tụi con Liên đây.
Nó chạy đi. Đôi chân trần của nó đập lên nền sân nghe bép bép, nhanh như con dế. Sơn ngồi lại, hộp cơm vẫn mở trong lòng. Cậu lấy nắp đậy lại, gói vào mo cau cẩn thận như mẹ gói. Một củ khoai lang nằm trong lòng bàn tay, vàng ươm.
Sơn đút củ khoai vào túi áo, không ăn. Để dành. Để dành cho Yến buổi chiều, hoặc cho lần nào tan học sớm mà bụng réo.
Cậu nhìn quanh sân. Gốc bàng già vẫn xòe tán. Bọn lớp dưới vẫn hét nhau um trời. Trên hàng rào tre khô, một con chim sâu đang nhảy nhót, đầu đỏ như miếng ớt chín.
Trong bụng Sơn, nửa nắm xôi còn ấm. Nhưng trong ngực cậu có thứ khác còn ấm hơn. Thứ ấy không gọi được thành tên. Chỉ là cái hiểu ra đơn giản: mẹ đã gói cơm dày hơn, không phải vì mẹ thấy cậu đói, mà vì mẹ biết cậu sẽ chia cho Thơ. Và mẹ chấp nhận chuyện đó. Thậm chí mẹ muốn chuyện đó.
Trống vào lớp. Sơn đứng dậy, phủi đất ở đáy quần, xách cặp đi vào. Đi ngang cửa lớp, cậu thấy Thơ đang cúi xuống nhặt một viên sỏi dưới chân, chắc để chơi ô quan với tụi bạn. Thơ ngẩng lên, gật đầu một cái. Sơn gật lại.
Hai đứa nhỏ, mỗi đứa một nửa nắm xôi, đi vào hai dãy hành lang khác nhau. Ngoài sân, nắng đã lên, đổ vàng cả thềm đất đỏ.
****
Chiều hôm khác, Sơn sang nhà Thơ. Góc sân đất nhà Thơ nằm khuất sau bếp, chỗ hai bức tường đất ăn vào nhau thành một cái nêm. Mùa này đất khô, đi chân trần lên nghe ram rám, nhưng bên dưới vẫn âm ẩm cái lạnh của đêm núi chưa tan. Sơn ngồi bệt xuống cạnh Thơ, hai đứa quay mặt ra khoảng sân không lát gì, chỉ có vệt nước heo chảy quen lối thành một rãnh bóng loáng. Con lợn trong chuồng rúc mõm vào máng, nghe tiếng người thì ụt ịt đòi thêm.
Thơ đang bẻ ngô. Bắp ngô lép, hạt nào hạt nấy khô quắt, bẻ xong Thơ hất vỏ về phía bờ rào, cái đống rơm đã cao quá đầu gối. Sơn lấy trong túi vải ra một cuốn sách, bọc lại từ lâu bằng giấy báo, mấy chữ TÍNH đã bôi nước vôi của bố Thơ lem chữ "Toán" thành một vệt trắng ngoằn ngoèo. Sơn đặt cuốn sách lên đùi Thơ.
-Tao mới xin được. Của anh Hòa lớp trên, chị đó học xong rồi, cô bảo ai không có thì lại lấy.
Thơ cầm lên, lật một tờ, ngón tay đen dính nhựa ngô để lại một vết mờ trên mép trang. Cuốn sách cũ, gáy đã nứt, mấy trang giữa bị chuột cắn mất một góc, chỗ hình vẽ bị trẻ nào tô mực xanh lè lên. Thơ cười. Cái cười của nó lúc nào cũng nhanh, như một thằng vô tư lắm, cười xong là khuôn mặt lại trở về vẻ già hơn tuổi.
-Thôi, mày để lại mà dùng.
-Tao có rồi. Nhà tao năm nay mua được hai cuốn, ba tao đặt trên huyện. Còn cuốn này cũ, để mày dùng cũng được.
-Của cô phát hả?
-Của cô phát. Ai không có thì lên nhận.
Thơ gật gù, lại lật một tờ nữa. Có tờ bị ai xé mất, mép giấy còn nguyên vết răng cưa. Thơ đọc lẩm nhẩm một dòng, đọc đến giữa thì dừng, như thể nhận ra mình đang đọc cái gì đó không thuộc về mình. Nó đặt cuốn sách xuống đất, cạnh một cái bát sứt, trong bát có nắm muối hạt để khô.
Sơn nhìn cuốn sách nằm trên đất đỏ, lại nhìn bạn. Hai năm nay Thơ học giỏi, cô giáo nói vậy. Hồi năm ngoái, Thơ được giấy khen, bố Thơ đem dán lên cạnh bàn thờ mẹ, dán bằng cơm nguội, đến Tết vẫn còn dính. Ấy thế mà sách thì lúc nào cũng đi mượn, đi xin, có năm phải chép tay từ cuốn của thằng khác, chép từ đầu năm đến gần Tết mới xong cuốn Địa.
Sơn nói, giọng cố làm ra vẻ bình thường:
-Sao mày không lên xin cô? Cô để phần nhiều lắm. Tao thấy trong hòm cô còn mấy chục cuốn.
Thơ không trả lời ngay. Nó bẻ nốt cái bắp ngô cuối, đưa tay gạt đám vỏ về phía đống rơm, rồi ngồi ngửa mặt lên trời. Bây giờ là lúc trời chiều đang xuống chầm chậm, mây trên đỉnh núi phớt hồng lên, khói bếp từ mấy nhà dưới xóm bắt đầu dựng thẳng lên trong cái lặng của bản.
-Nhà tao còn phải lo cái ăn.
Thơ nói câu đó bằng cái giọng nhẹ tênh, vẫn cười, hai cái răng cửa sứt một bên vì ngã cây sim năm ngoái. Nó cười y như lúc hai đứa ném đá xuống suối, y như lúc nó khoe mới bắt được con cá chạch nhỏ. Nhưng cười xong, nó cúi xuống, lấy ngón tay chọc chọc vào đất, đào một cái lỗ nhỏ, rồi lại lấp lại.
Sơn ngồi im. Có cái gì đó đang trào lên trong cổ, vừa nghẹn vừa nóng, làm cậu không dám mở miệng lần nữa. Sơn biết nhà Thơ. Mẹ mất từ hồi Thơ lên bốn, bố ở vậy nuôi ba đứa, quanh năm một gánh ngô đổi muối, một con lợn để dành đến Tết. Cái ăn là cái lo lớn nhất, to hơn sách vở, to hơn cái giấy khen dán bằng cơm nguội, to hơn cả nỗi ham học của một thằng nhỏ mười tuổi. Sơn nhà cũng nghèo, nhưng bố làm cán bộ huyện, mẹ dạy tiểu học, tháng nào cũng có đồng lương dầu, gạo mua tem phiếu, đỡ hơn cái lo từng bữa của nhà Thơ gấp vạn. Cái đỡ hơn đó bây giờ nằm giữa hai đứa ở góc sân đất, lặng thinh, không ai gọi tên.
Sơn nhặt cuốn sách lên, phủi đất bám ở mép, rồi đặt trở về đùi bạn. Thơ không đẩy ra nữa, nhưng cũng không cầm. Hai đứa cứ để cuốn sách nằm đó, giữa một bên là bàn tay đen nhựa ngô, một bên là bàn tay sạch hơn nhưng cũng rẻ rúng chẳng kém. Gió chiều thổi qua, cuộn mấy trang giấy đã rời gáy lật phật. Con lợn lại ụt ịt.
Sơn nghĩ tới chuyện bố dặn: học cho giỏi. Bố nói câu đó mỗi bữa cơm, mỗi lần Sơn lười. Nhưng giỏi thì ngày mai là gì? Có đổi được bắp ngô còn lo cái ăn không? Có khiến nhà Thơ có cái ăn rồi mới lo tới sách không? Sơn không trả lời được. Cậu chỉ thấy mình may hơn bạn một bậc, mà cái may đó lại làm cậu xấu hổ như một thứ ăn cắp.
-Thôi tao về. Ba tao hôm nay đi huyện về sớm, tao phải xong cơm cho em.
Thơ đứng dậy, phủi đ-ít quần, cầm cuốn sách lên và đặt gọn lên cái bờ tường đất. Nó không nói sẽ dùng, cũng không nói sẽ trả. Nó chỉ nói:
-Mai tao gọi mày đi học.
-Ờ.
Sơn đứng dậy, bước qua cái rãnh nước heo đã khô se, lách qua cái cổng tre gài bằng dây chun cũ. Ra tới đường, cậu ngoái lại. Thơ đang đi ngược vào trong, dáng nhỏ thó so với đụn rơm cao. Trên đỉnh núi, màu hồng đã tắt, trời chuyển sang màu chàm. Dưới xóm, tiếng chó sủa thành một hàng. Sơn bước xuống con dốc đất đỏ, mỗi bước một bụi đất bám vào gót, trong bụng vẫn còn nguyên cái cảm giác nghẹn của người vừa nghe được một câu trả lời không ai muốn mình nghe.
Bữa cơm tối ở nhà
Nhà Sơn nằm cuối làng, chỗ con dốc đất đỏ dài đổ xuống đường liên xã. Chiều nào cũng vậy, khi mặt trời lặn về phía sau rặng tre, cái dốc ấy tím lại như một vệt mực loang, rồi tối hẳn đi. Trong bếp, mẹ Sơn đã đun nước sôi, gạo vo sẵn trong nồi gang, bên cạnh là mấy củ sắn mẹ bổ dọc, xếp cạnh khoai lang từ sáng.
-Sơn, ra gọi em vào ăn cơm.
Yến đang ngồi chơi trước hiên với mấy viên sỏi, miệng lẩm bẩm một câu hát gì đó nghe không rõ chữ. Nó mới năm tuổi, tóc lưa thưa, mặt lem luốc như con mèo nhọ nồi. Nghe anh gọi, nó đứng dậy phủi đ-ít quần rồi lon ton chạy vào, hai tay còn cầm chặt hai viên sỏi trắng.
Bố Sơn về khi trời đã sập tối hẳn. Tiếng xe đạp cũ lạch cạch ngoài ngõ, rồi tiếng chống chân xuống sân đất nghe cái "cộp". Bố đi từ xã qua huyện bằng chiếc xe ấy, ngày nào cũng vậy, sáng đi khi trời còn mờ, tối về khi cơm đã bắc lên bếp. Cái gọng kính nhựa của bố bị gãy một bên, nối lại bằng dây thun đen, mồ hôi xuống ướt cả gọng, bố phải lấy tay đẩy lên mấy lần mới ngồi được xuống chiếu.
-Hôm nay họp hành gì mà về muộn rứa? mẹ Sơn vừa bưng nồi cơm ra vừa hỏi.
-Huyện xuống cái đoàn kiểm tra, ngồi nghe nó nói mãi. Bố Sơn tháo kính, lấy vạt áo lau. Mà ở nhà có gì ăn không, đói quá rồi.
Mâm cơm bày ra trên chiếu cói, bốn người ngồi quây lại. Cơm độn khoai, một bát canh rau cải nấu với mấy con cá khô, thêm đĩa muối vừng. Mẹ Sơn xới cơm cho bố trước, rồi tới Sơn, rồi tới Yến. Bố Sơn gắp miếng cá khô to nhất đặt vào bát Sơn.
-Lớp hôm nay có gì không, con?
Sơn nhai cơm, nghĩ một lúc. Những chuyện định kể thì nhiều lắm: bài kiểm tra tập làm văn cô giáo cho chín điểm, cái cảnh bị thằng Đức đầu xóm trêu vì đi học muộn, rồi chuyện con chó nhà bà Hợi đẻ được ba con. Nhưng Sơn chọn kể chuyện cô giáo khen.
-Cô giáo cho con chín điểm, hơn hôm trước hai điểm. Cô nói con viết văn có ý.
Bố Sơn gật gù, đẩy kính lên sống mũi. Mẹ Sơn cười, gắp thêm cho Sơn một miếng canh.
-Đấy, cố lên. Bố mẹ không cần con làm to tát gì, chỉ cần con học được cái chữ, sau này đừng vất vả như chúng tao.
Yến ngồi bên cạnh chen vào, giọng non choẹt:
-Anh Sơn hôm nay còn cho bạn Thơ nửa củ khoai.
Sơn khựng lại một giây, rồi cúi mặt xuống bát cơm, ăn vội.
Bởi vì chuyện thật thì không như vậy. Hôm nay giờ ra chơi, cả lớp kéo ra sân, đứa nào cũng bóc cơm nắm trong túi vải ra ăn. Sơn có cơm gói trong lá chuối, bên trong độn khoai, nhưng mẹ gói riêng cho một quả trứng luộc. Thơ ngồi ở góc sân, phía dưới bóng cây bàng già, không mở túi. Sơn đi tới, ngồi xuống cạnh, đưa nửa củ khoai. Thơ nhận, ăn ngon lành, rồi nói một câu rất nhỏ:
-Nhà tớ hết gạo.
Nói xong, Thơ cười, cười cái kiểu như thể đó là chuyện bình thường, chuyện nhà tớ tháng nào chẳng có vài ngày như thế. Nhưng Sơn ngồi đó, tay còn cầm quả trứng chưa bóc, tự nhiên thấy quả trứng nặng trịu, không dám bóc ra trước mặt bạn. Sơn ăn hết nửa củ khoai, để dành quả trứng, tới lúc về nhà mới ăn lén trong buồng.
Sơn không kể chuyện đó cho bố mẹ. Trong bụng Sơn có một cái gì đó vừa nhục nhã vừa hãnh diện, hai thứ chộn vào nhau, không tách ra được. Nhục nhã vì Sơn thấy mình khác Thơ, vì Sơn có một quả trứng để dành còn Thơ thì không có gì. Hãnh diện vì Sơn đã cho Thơ nửa củ khoai, như thể mình vừa làm được một việc gì đó rất to. Cái hãnh diện ấy làm Sơn ghê người, ghê hơn cả cái nhục nhã. Thì ra trước giờ Sơn tưởng mình với Thơ giống nhau, cùng cái xóm nghèo này, cùng cái áo rách vai này. Không giống. Nhà Sơn có một quả trứng. Nhà Thơ thì không.
Bố Sơn ăn thêm bát cơm nữa, mồ hôi trên trán còn chưa khô, nói:
-Mà Thơ dạo này học thế nào?
-Bạn ấy vẫn học giỏi. Cô bảo bạn ấy viết chữ đẹp nhất lớp. Sơn nói thật. Kể chuyện Thơ học giỏi thì Sơn thấy dễ hơn nhiều.
Mẹ Sơn thở dài, đặt đũa xuống:
-Tội nghiệp. Mẹ nó mất sớm, bố nó quanh năm lam lũ. Cái thằng bé ấy mà có điều kiện...
Mẹ không nói hết câu. Trong nhà im một lúc, chỉ còn tiếng Yến nhai khoai côm cốp. Sơn nhìn quanh mâm cơm, nhìn bát canh còn hơn nửa, nhìn đĩa muối vừng mẹ rang từ hôm chủ nhật, nhìn cái đèn dầu đặt ở góc chiếu, ngọn lửa chao chao theo gió lùa từ cửa sổ vào. Căn nhà này, cái mâm cơm này, với thiên hạ thì chả đáng gì, nhưng với Thơ thì chắc là cả một giấc mơ. Vậy mà Thơ chưa bao giờ mở túi ra xin, chưa bao giờ khóc, chưa bao giờ nói "nhà tớ hết gạo" theo một cái giọng khác ngoài cái giọng tỉnh queo ấy.
Sơn bỗng thấy mình ngồi ở giữa mâm cơm mà lạ hoắc, như thể vừa từ một nơi nào khác bước vào, một nơi mà từ trước tới giờ Sơn tưởng mình đứng ở ngoài.
-Con ăn đi, ngồi nghĩ gì thế? Bố Sơn gõ đũa vào bát.
-Vâng, con ăn đây ạ.
Sơn cúi đầu, xúc một miếng cơm độn khoai đưa lên miệng. Khoai bùi, cơm dẻo, cắn tới đâu là ấm tới đó. Ngoài sân, con dế gọi nhau trong đám cỏ ướt, tiếng lanh lảnh kéo dài theo con dốc đất đỏ xuống tận đường liên xã. Sơn ăn hết bát cơm, không kể thêm gì nữa. Cái quả trứng trong buồng vẫn còn đó, nằm trong túi vải, chưa bóc. Sơn quyết định sáng mai sẽ để dành nó cho Thơ, nhưng quyết định được một lúc thì Sơn lại đổi ý: biết đâu Thơ sẽ giận, biết đâu Thơ sẽ hiểu ra rằng Sơn đã nhìn thấy cái túi không mở của bạn, và cái điều Sơn sợ nhất, Sơn cũng không gọi được thành tên, là sợ Thơ sẽ bắt đầu nhìn Sơn bằng con mắt khác, con mắt mà Sơn vừa mới nhìn Thơ.
Nồi cơm còn ít. Mẹ Sơn trút hết vào bát bố, bố ăn nốt rồi đặt bát xuống, đẩy kính lên, hỏi Yến có muốn bố kể chuyện không. Yến gật đầu lia lịa, tay vẫn còn nắm hai viên sỏi. Sơn ngồi im bên cạnh, nghe bố kể chuyện cũ về một anh lính gì đó ở đâu đó, không vào tai. Trong đầu Sơn chỉ còn cái góc sân có bóng bàng, và một thằng bé ngồi đó ăn nửa củ khoai ngon lành như ăn một cái gì quý lắm.