Nắng mùa hè đầu tiên chiếu đúng vào khung cửa sổ phía đông vào một buổi sáng cuối tháng Sáu, đúng như Kael từng tưởng tượng trong một đêm cuối đông nhiều tháng trước, khi anh còn ngồi bên đống than tàn, tay nắm tay Yumi, chưa biết trước khoảnh khắc này sẽ trông như thế nào. Giờ đây, khi ánh sáng thật sự trải một vệt vàng ấm lên sàn đá, nó không đánh thức hai đứa trẻ bằng một tia nắng dịu dàng như anh vẫn hình dung, mà bằng việc chiếu thẳng vào mắt Seren, khiến con bé nhăn mặt, ré lên một tiếng phản đối đủ lớn để đánh thức luôn cả Corin đang ngủ cạnh đó trong cùng một chiếc nôi gỗ đã bắt đầu chật.
"Con giống mẹ ở khoản này," Kael nói, bế Seren lên, đung đưa nhẹ cho tới khi tiếng khóc dịu xuống thành tiếng ư ử khó chịu. "Không thích bị làm phiền buổi sáng."
"Con giống bố ở khoản phản ứng chậm nửa nhịp," Yumi đáp từ phía bồn rửa, tóc còn rối, đang cố dỗ Corin bằng cách cho cậu bé nắm lấy một ngón tay cô, "vì con đã dậy được một lúc rồi mà vẫn chưa quyết định có nên khóc theo em gái hay không."
Draven xuất hiện ở ngưỡng cửa, một tay xách chiếc túi da lớn đã được xếp gọn từ tối hôm trước, tay kia cầm hai chiếc bình sữa bằng gốm Bà Mộc từng gửi tặng nhân dịp đầy tháng. "Xe đã sẵn sàng," anh nói, "con la mới còn khỏe hơn con cũ nhiều, nếu hai người còn định cãi nhau chuyện ai khóc giống ai thì cứ tự nhiên, chúng ta vẫn còn thời gian."
Họ rời căn nhà đá dưới chân Vực Liệt ngay sau bữa sáng, để lại phía sau khung cửa sổ phía đông đang hắt nắng lên một chiếc nôi trống, hai con thú gỗ nhỏ Draven khắc năm ngoái vẫn đứng canh gác nơi đầu giường, và vệt sáng trắng mảnh nơi miệng vực xa xa, giờ đây chỉ còn là một phần quen thuộc của phong cảnh buổi sáng, không còn khiến ai trong ba người phải liếc mắt về phía đó lần thứ hai.
Con đường tới Rạng Đông, giờ đã được rút ngắn hơn hẳn nhờ đoạn đường Petra khai thông năm ngoái xuyên qua rìa Vực Liệt, mất chưa tới một ngày rưỡi thay vì hai ngày rưỡi như trước, nhưng ngay từ khi còn cách cổng Thành nửa buổi đường, cả ba đã cảm nhận được một điều gì đó khác lạ đang chờ phía trước: dòng người trên đường đông hơn hẳn bất cứ dịp nào Kael còn nhớ, không phải dòng người vội vã của thương nhân hay lính trạm như những năm chiến tranh, mà một dòng chảy chậm rãi, mang theo cờ hiệu, lồng đèn cuộn gọn, và tiếng cười trẻ con vọng ra từ những cỗ xe chất đầy hành lý.
"Cả lục địa thật sự tụ họp lại," Draven nói, giọng anh có chút ngỡ ngàng dù đã được báo trước cả tháng, khi họ đi ngang một đoàn xe mang cờ hiệu đá vàng nhạt của Vọng Cốc, sát cạnh một đoàn khác treo cờ muối trắng của Diêm Vực, những lá cờ mà, bốn năm trước, hiếm khi xuất hiện cùng lúc trên cùng một con đường ngoài những dịp Hội Đồng triệu tập khẩn cấp.
Yumi, ngồi ở băng ghế sau cùng Seren trong lòng, nhìn ra ngoài qua khung cửa xe, im lặng một lúc trước khi lên tiếng, giọng cô nhẹ nhưng rõ. "Em nhớ lần đầu tiên bọn mình đi trên con đường này," cô nói, "chỉ hai người, không ai biết mặt ai ngoài Thất Trụ, và cả hai đều đang tính xem phải làm gì nếu bị phát hiện trước khi tới nơi."
"Giờ thì cả nhà bốn người, một con la, và không ai buồn để ý tới bọn mình giữa đám đông này," Kael nói, một khóe miệng anh nhếch lên khi liếc sang cô. "Đó có lẽ là điều lạ lùng nhất trong tất cả những điều lạ lùng đã xảy ra."
Họ vào tới cổng Thành Rạng Đông vào giữa trưa, và cảnh tượng bên trong khiến ngay cả Kael, người từng đứng giữa quảng trường chính vào đêm khai mạc Đại Tranh Kế Vực năm năm trước, cũng phải chậm bước đánh giá lại cả một Thành đang biến hình trước mắt mình. Những đại lộ đá trắng vốn quen thuộc với sự trang nghiêm lạnh lùng của một trung tâm chính trị giờ giăng đầy dây cờ nhiều màu chạy từ mái nhà này sang mái nhà khác: đá vôi trắng của Rạng Đông, xanh đen của Minh Dạ, đồng đỏ của Lôi Đình, và, lần đầu tiên treo công khai giữa quảng trường trung tâm không phải như một sự khiêu khích mà như một lời mời, dải màu xám tro điểm than hồng của Ashfall, điều mà chỉ vài năm trước, hẳn sẽ là không tưởng.
Họ tìm được Bà Mộc trước cả khi tìm tới quảng trường chính, đúng như Kael đã dự đoán, vì bà đã dựng một quầy nhỏ ngay rìa chợ phiên tạm, gần đủ để nhìn thấy các bậc thềm dẫn lên Minh Đài nhưng đủ xa để tránh đám đông chen chúc nhất. Chiếc nồi lớn quen thuộc từ Lò Sưởi Cũ, được Boran đích thân giúp bà chở tới bằng xe ngựa riêng của ông, đang tỏa hơi nghi ngút giữa cái nóng mùa hè, và một hàng dài khách đứng chờ, phần lớn không biết họ đang xếp hàng trước quầy hàng của người phụ nữ từng múc bát cháo đầu tiên cho gần như toàn bộ Nhị Thập Tinh còn sống.
"Ta không định để cả một đại lễ trôi qua mà không có ít nhất một bát cháo nóng đúng nghĩa," Bà Mộc nói, khi thấy ba người và hai đứa trẻ tiến lại gần, bà bỏ dở việc múc cháo cho khách để chạy vội ra ôm lấy Yumi trước, "dù ta phải nhờ Boran khiêng cả cái nồi này xuyên nửa lục địa."
"Ta chỉ khiêng nó lên xe thôi," Boran nói, đứng gần đó, cây gậy gỗ giờ chỉ còn dựa hờ vào một cái ghế chứ không còn cần chống mỗi bước, "phần còn lại là do con la của tôi làm hết."
Elowen tìm tới họ ngay sau đó, khoác chiếc áo choàng thạch anh trắng vàng mới, viền phát sáng nhẹ hơn hẳn phiên bản cũ, một dấu hiệu nhỏ của cấp bậc mới cô vừa được trao trong hàng ngũ Minh Đài, và Halvor đi sát cạnh cô, mang một chiếc túi lớn đựng đầy những cuộn giấy da cần cho nghi lễ chiều nay.
"Các người tới đúng lúc," Elowen nói, cúi xuống nhìn Corin đang tò mò với lấy một lọn tóc của cô, "buổi lễ chính thức bắt đầu lúc mặt trời qua đỉnh đầu một canh giờ, nhưng tôi nghĩ hai người sẽ muốn có mặt sớm hơn, để tránh phải chen qua cả một biển người."
"Ai sẽ nói trước Hội Đồng?" Kael hỏi, dù trong giọng anh không hề có sự lo lắng của một người từng đứng trước phiên tòa chính trị, chỉ là một câu hỏi thường tình.
"Không phải tôi," Elowen nói, một nụ cười nhẹ thoáng qua. "Lần này, Bát Trụ nghĩ đã tới lúc để một người không phải chính trị gia đứng lên trước, trước khi chúng tôi nói bất cứ điều gì mang tính nghi thức."
Cô không nói rõ thêm, chỉ liếc mắt về phía các bậc thềm Minh Đài, nơi một bóng dáng nhỏ trong bộ lễ phục trắng viền chỉ vàng đang đứng cùng một nhóm tăng lữ khác, và Yumi, nhìn theo ánh mắt cô, nhận ra ngay đó là ai.
Quảng trường trước Minh Đài, khi họ tới gần đủ để nhìn rõ, đã kín gần hết chỗ, một biển người trải dài từ chân các bậc thềm đá trắng ra tận những con phố xa nhất, mọi tầng lớp, mọi Thành, đứng lẫn vào nhau theo một cách mà, năm năm trước, hẳn sẽ cần một đội quân để duy trì trật tự nếu ai đó thử ép buộc nó xảy ra.
Vess, Ilona và Ashen đứng ở một khoảng sân riêng gần chân thềm, nơi Bát Trụ đã dành sẵn cho phái đoàn chính thức của Ashfall, và khi Kael nhìn thấy họ, anh không khỏi nhận ra một điều: không ai trong đám đông quanh đó nhìn ba người bằng ánh mắt cảnh giác hay tò mò dò xét như những năm đầu, mà chỉ đơn giản như nhìn ba đại biểu khác của một trong tám Thành.
"Bốn năm trước," Ashen nói, khi Kael và Yumi tới gần, đôi mắt anh mang sắc xám dịu quen thuộc, không chút ánh than hồng nào, "tôi còn không dám bước qua cổng Thành này mà không có ai đó đi kèm canh chừng. Hôm nay tôi đứng đây, giữa quảng trường đông nhất tôi từng thấy, và không ai buồn liếc nhìn tôi hai lần."
"Cảm giác thế nào?" Yumi hỏi, chuyển Seren sang một bên hông để rảnh tay bắt lấy tay Ilona đang chìa ra.
"Lạ," Ashen thừa nhận, một nụ cười hiếm hoi hiện lên. "Nhưng là một cái lạ tốt. Loại lạ tôi nghĩ mình có thể quen dần."
Vess, đứng cạnh đó, nhìn lên các bậc thềm dẫn tới đại sảnh, nơi tám chiếc ghế đá cẩm thạch giờ đây đều đã có chủ, và trong ánh mắt cô có một điều gì đó chưa từng hiện diện những năm đầu Kael quen biết cô: không phải sự cảnh giác của một kẻ nổi loạn đang chờ bị phản bội lần nữa, mà một sự bình thản đã học được qua nhiều năm không còn phải chiến đấu để chứng minh mình xứng đáng có mặt.
"Doran hẳn sẽ thích cảnh này," cô nói khẽ, không hướng câu nói tới ai cụ thể. "Anh ấy luôn nói, thứ anh ấy muốn không phải là chiến thắng, mà là một ngày người ta ngừng hỏi Ashfall thuộc phe nào trước khi quyết định có nên nói chuyện với họ hay không."
Thrax và Nyx tìm tới ngay sau đó, cả hai mặc trang phục chính thức của Cơ Quan Tình Báo Minh Dạ, một bộ đồng phục giản dị màu xanh đen không còn mang dáng vẻ bí hiểm của Hắc Nguyệt Môn cũ, và khi Nyx cúi xuống chào Seren, con bé nắm chặt lấy một ngón tay cô với vẻ nghiêm túc tuyệt đối chỉ trẻ sơ sinh mới có được.
"Rell cuối cùng cũng đồng ý để bọn tôi công khai đứng tên trong lễ hôm nay," Thrax nói, "dù ông ấy vẫn khăng khăng ngồi ở hàng ghế cuối, nói rằng ông ấy đã quá già để đứng giữa ánh sáng ban ngày lâu hơn mức cần thiết."
"Ông ấy sẽ quen dần," Nyx nói, và khi cô ngẩng lên nhìn Thrax, khoảng cách vốn luôn tồn tại giữa hai người trong những năm đầu, dù rất nhỏ, giờ gần như hoàn toàn biến mất, một sự thân thuộc lặng lẽ không cần một lời tuyên bố chính thức nào để trở nên thật.
Kessa và Boris xuất hiện từ phía đối diện quảng trường, Kessa trong bộ áo choàng đồng tím chính thức của đại biểu Lôi Đình, cây trượng gỗ nhỏ vẫn đeo trên cổ cạnh mặt dây chuyền đá của Boris, và Boris, tay vẫn ôm một cuộn bản vẽ theo thói quen không bao giờ bỏ được, dù hôm nay là một ngày lễ chứ không phải một ngày công trường.
"Cổng Không Biên Giới đã sẵn sàng khánh thành," Boris nói, khi cả nhóm dừng lại chào nhau, giọng anh không giấu được sự tự hào, "chính thức, ngay sau nghi lễ tưởng niệm. Petra đang kiểm tra lần cuối cùng đoạn cầu chính, dù tôi đã nói với cô ấy ba lần rằng nó đã đủ vững để chịu được cả một đoàn quân diễu hành qua."
"Cô ấy sẽ không tin cho tới khi tự tay kiểm tra," Kessa nói, mỉm cười, "đó là lý do công trình của cô ấy chưa từng sập một lần nào."
Đúng giờ, khi mặt trời đã qua đỉnh đầu và cái nóng mùa hè dịu bớt dưới bóng những dải lụa căng ngang quảng trường, tiếng chuông lớn từ đỉnh Minh Đài bắt đầu ngân vang, và cả biển người, không cần ai ra lệnh, dần lắng xuống thành một sự im lặng chờ đợi.
Tiểu Vy bước ra đầu tiên, đứng giữa bậc thềm cao nhất, bộ lễ phục trắng viền chỉ vàng của cô còn hơi rộng so với vóc dáng đang lớn của một cô bé mười tuổi, nhưng giọng cô, khi cất lên, vang xa hơn hẳn kích thước nhỏ bé của mình, không hề run, đúng như hàng tháng luyện tập cùng Trưởng Tế Miriel đã dạy cô.
"Ba trăm năm trước," cô nói, "một người không có tên đã đứng ở nơi này, dù khi đó nơi này chưa từng có Minh Đài, chưa từng có Bát Trụ, chưa từng có một quảng trường nào để đứng. Người ấy tin rằng nếu mình chịu đựng đủ, sẽ không còn ai phải chịu đựng nữa. Người ấy đã sai về cách làm, nhưng chưa từng sai về điều mình mong muốn."
Cô dừng lại, ánh mắt lướt qua biển người phía dưới, tìm tới một góc gần chân thềm nơi Kael và Yumi đứng, và trong một khoảnh khắc ngắn, gương mặt nghiêm trang của cô bé nứt ra một nét mềm mại rất con nít, trước khi cô lấy lại vẻ trang trọng cần có.
"Hôm nay, Minh Đài chính thức khắc thêm một dòng lên bia tưởng niệm chung," cô nói, "không phải một cái tên, vì người ấy chưa từng có một cái tên nào được ghi lại, mà một câu, lấy từ chính ghi chép cổ nhất còn sót lại về những giờ cuối cùng của người ấy: cho những ai bị chọn mà không được hỏi, và cho những ai, sau này, chọn mà không cần ai ép buộc."
Rasten là người tiếp theo bước lên, tay ông run nhẹ khi giơ cao một cuốn sách dày đóng bìa da, không phải cuộn giấy da rời rạc ông vẫn mang theo suốt cả cuộc chiến, mà một cuốn sách hoàn chỉnh, in ấn, đủ số lượng để phát tới từng thư viện của cả tám Thành.
"Suốt sáu mươi năm," ông nói, giọng ông, dù đã già, vẫn đủ vang để chạm tới hàng cuối cùng của đám đông, "ta là một sử quan viết những gì Hội Đồng cho phép viết, không phải những gì thật sự xảy ra. Cuốn sách này," ông giơ nó cao hơn, "là điều ngược lại. Nó không đẹp đẽ hơn sự thật, nhưng nó đầy đủ hơn bất cứ điều gì ta từng được phép công bố trong suốt sự nghiệp của mình. Từ hôm nay, bất cứ ai, ở bất cứ Thành nào, cũng có thể đọc được toàn bộ những gì đã xảy ra suốt ba trăm năm hiến tế, không bị kiểm duyệt, không bị cắt xén."
Ông trao cuốn sách cho Elowen, người đang đứng chờ cạnh một chiếc bệ đá thấp gần bia tưởng niệm, và khi cô đặt nó xuống, mở tới trang đầu tiên nơi khắc tên những người đã ngã xuống, cả quảng trường chìm vào một phút im lặng tuyệt đối, chỉ có tiếng gió mùa hè lướt qua những dải lụa treo cao.
"Doran," Elowen đọc, giọng cô rõ ràng và chậm rãi, "công dân Veylorn, từng bị gọi nhầm là kẻ nổi loạn, đã hy sinh mạng sống mình để cứu những người tị nạn khỏi một đợt sập của Vực Liệt."
"Corvin," cô đọc tiếp, "người ghi chép cuối cùng của Ashfall trước khi Bát Trụ ra đời, đã dùng chính khả năng của mình lần cuối để cứu đồng đội."
Cô đọc thêm nhiều cái tên khác, những cái tên phần lớn đám đông không quen biết nhưng đã học được, qua bốn năm sống chung một lục địa hòa bình, để lắng nghe với cùng một sự tôn trọng, và ở góc gần chân thềm, Vess nắm chặt tay Ilona, còn Yumi, ôm Seren sát vào ngực, cảm thấy một giọt nước ấm lăn xuống má mà cô không buồn lau đi.
Khi danh sách đọc xong, Elowen ngẩng lên, nhìn ra biển người, và giọng cô đổi sang một sắc thái khác, không còn là giọng đọc điếu văn, mà là giọng của một người đang tuyên bố một điều cô đã chờ đợi được nói suốt nhiều năm.
"Bát Trụ, hôm nay, tái xác nhận điều đã được thông qua bốn năm trước," cô nói. "Đại Tranh Kế Vực, và hệ thống Người Giữ Vực đứng sau nó, bị bãi bỏ vĩnh viễn. Không một Vực Chủ nào, ở bất cứ chu kỳ nào sau này, còn phải hiến trọn Vực của mình để đổi lấy sự an toàn của người khác. Con dấu vẫn đứng vững, không phải nhờ một sự hy sinh đơn lẻ mỗi hai mươi năm, mà nhờ điều hai người đã chứng minh bốn năm trước: rằng một gánh nặng, khi được chia sẻ đúng cách, không cần phải đè bẹp một ai."
Cô quay sang phía Kael và Yumi, và cả biển người, theo ánh mắt cô, cũng quay lại nhìn về cùng một hướng.
"Kael và Yumi không tới đây hôm nay để nghe những lời cảm tạ," Elowen nói, "cả hai đã từ chối mọi danh hiệu chính thức Bát Trụ từng đề nghị suốt bốn năm qua, và tôi tôn trọng điều đó. Nhưng tôi nghĩ, hôm nay, ít nhất một lần, cả lục địa này xứng đáng được nhìn thấy hai người mà không phải qua một cuốn biên niên sử hay một bài hát, mà bằng chính đôi mắt mình."
Không ai đẩy họ lên, không có nghi thức bắt buộc nào, nhưng khi cả biển người bắt đầu vỗ tay, một tràng vỗ tay chậm rãi rồi dần lớn thành một cơn sóng âm thanh tràn khắp quảng trường, Kael cảm thấy tay Yumi siết nhẹ lấy tay anh, và cả hai, không cần bàn bạc, cùng bước lên vài bậc thềm, đủ để đứng ngang tầm nhìn với đám đông, Corin trong tay Kael, Seren trong tay Yumi.
Kael, người từng đứng trước Hội Đồng Thất Trụ với một sự bình thản lạnh lùng của một sát thủ đã quen với ánh mắt phán xét, giờ đây cảm thấy một sự lúng túng anh chưa từng trải qua trên bất cứ sàn đấu nào, và khi anh mở miệng, giọng anh không vang xa như giọng Elowen, chỉ đủ để những hàng đầu nghe rõ, những người ở xa hơn phải truyền tai nhau lại từng câu.
"Chúng tôi không cứu con dấu vì chúng tôi dũng cảm hơn mười tám người còn lại trong Nhị Thập Tinh," anh nói. "Chúng tôi làm được điều đó vì chúng tôi may mắn, theo một cách rất cụ thể: chúng tôi tìm thấy nhau đúng lúc, khi cả hai đều đã sẵn sàng tin một người khác đủ để chia sẻ thứ nặng nề nhất mình từng mang. Không phải ai cũng may mắn như vậy. Doran không có. Corvin không có. Rất nhiều người đứng dưới quảng trường này hôm nay cũng đã mất một ai đó không có được cơ hội đó."
Anh dừng lại, nhìn xuống Corin đang ngọ nguậy trong tay mình, rồi ngước lên lại đám đông.
"Điều duy nhất chúng tôi muốn," anh nói, "là để con dấu này, và cả cách chúng ta đối xử với nhau sau này, không bao giờ còn cần một sự may mắn như vậy nữa để giữ an toàn cho một ai đó."
Yumi, đứng cạnh anh, không nói thêm nhiều, chỉ đưa mắt nhìn khắp biển người một lượt, dừng lại một chút ở góc sân nơi Vess, Ilona và Ashen đứng, rồi nói, giọng cô nhỏ nhưng vững. "Tôi từng sống mười năm tin rằng để ai đó nhìn thấy mình yếu đuối là tự trao vũ khí cho họ. Đứng đây hôm nay, giữa từng này người, tôi nghĩ tôi chưa bao giờ cảm thấy ít yếu đuối hơn lúc này, chính vì tôi không còn phải đứng một mình."
Đúng lúc sự im lặng trang trọng ấy vừa lắng xuống thành một khoảnh khắc gần như thiêng liêng, Seren, có lẽ vì chưa quen với việc bị nhìn chằm chằm bởi nhiều người tới vậy cùng một lúc, hoặc đơn giản chỉ vì tới giờ buồn ngủ thường lệ của con bé, bật ra một tiếng cười khanh khách lớn, không rõ vì lý do gì, đủ vang để cả những hàng gần đó nghe thấy.
Cả quảng trường, sau một khoảnh khắc sững sờ, bật cười theo, một tràng cười ấm áp phá vỡ đúng lúc sự trang nghiêm cần được phá vỡ, và Yumi, nhìn xuống con gái đang cười không hiểu vì sao cả thế giới bỗng cười theo mình, cũng không kìm được nụ cười của chính mình.
"Con bé không biết mình vừa cứu cả bài diễn văn của bố mẹ khỏi trở nên quá nặng nề," Kael nói, và tiếng cười của đám đông lại rộ lên lần nữa, kéo dài thêm một nhịp trước khi lắng xuống thành những tiếng rì rầm ấm áp.
Elowen, đứng gần đó, mỉm cười, ra hiệu cho buổi lễ chính thức tiếp tục, và trong khi đoàn đại biểu Bát Trụ bắt đầu tiến về phía đầu cầu mới hoàn thành, nơi Petra đang đứng chờ cùng một dải băng lụa căng ngang lối vào, Kael và Yumi lùi lại phía sau đám đông, để lại phần còn lại của nghi lễ chính thức cho những người thuộc về nó, tìm một góc bóng râm gần đó nơi Draven đã giữ sẵn chỗ.
Buổi chiều trôi qua trong một nhịp điệu hội hè lộn xộn và ấm áp lan khắp cả Rạng Đông, khi đoàn người từ tám Thành hòa vào nhau tại hàng chục sân khấu tạm dựng lên khắp các quảng trường phụ. Lão Grum, với Draven đứng cạnh làm trợ lý chính thức, dựng một vòng đấu vật không Vực ngay gần chân Minh Đài, và tấm biển gỗ sơn vội của ông, phiên bản mới hơn hẳn cái ông từng dùng năm năm trước tại Lôi Đình, giờ ghi thêm một dòng:
"GIẢI VẬT KHÔNG VỰC, DÀNH CHO MỌI THÀNH, KHÔNG PHÂN BIỆT XUẤT THÂN."
Sable dựng sân khấu rối ngay cạnh đó, và lần này, thay vì những câu chuyện dân gian cũ, bà kể lại chính câu chuyện của hai mươi Vực Chủ bằng những con rối gỗ nhỏ bà tự tay chạm khắc suốt cả mùa xuân, khiến một đám trẻ con vây quanh reo hò mỗi khi con rối "Kael" và con rối "Yumi" giơ tay lên trong một cảnh Hợp Mạch được cách điệu hóa bằng những dải lụa bạc lấp lánh.
Gần chạng vạng, khi ánh nắng bắt đầu ngả vàng cam trải khắp quảng trường, Cassia xuất hiện trên một khán đài nhỏ dựng riêng cho bà, cây đàn nhỏ đeo sau lưng, và lần này, không phải chỉ mười tám gương mặt quen thuộc ngồi quanh một lò sưởi, mà cả một biển người lặng đi chờ đợi khi bà cất tiếng hát Khúc Ca Của Bóng Tối Và Băng Giá lần đầu tiên trước công chúng, giọng bà vang xa hơn hẳn đêm giao thừa nhờ một chiếc loa đá được Petra thiết kế riêng, khuếch đại âm thanh khắp cả quảng trường mà không cần Vực nào can thiệp.
Khi bà hát tới đoạn "tan ra mà chẳng vỡ đôi, học yêu thương giữa một trời đao binh", Kael, đứng trong bóng râm cùng Yumi, Corin đang ngủ gật trên vai anh, cảm thấy một bàn tay nhỏ nắm lấy tay mình, không phải tay Yumi, mà bàn tay bé xíu của một đứa trẻ lạ đứng gần đó, con của một gia đình Vọng Cốc nào đó, cô bé chỉ đơn giản với tay nắm lấy ngón tay anh vì tò mò, không hề biết mình đang chạm vào ai, và Kael, sau một khoảnh khắc sững lại, chỉ nhẹ nhàng nắm lại, để cô bé yên tâm cho tới khi mẹ cô tìm thấy và xin lỗi rối rít.
"Không sao," anh nói, mỉm cười, một nụ cười anh không còn cần phải tập luyện trước gương để trông tự nhiên nữa. "Cháu bé chỉ đang làm điều trẻ con vẫn làm."
Trời tối hẳn khi buổi lễ chính thức kết thúc, và thay vì trở về nơi ở tạm Bát Trụ dành riêng cho họ, Kael, Yumi và Draven, cùng hai đứa trẻ giờ đã ngủ say sau một ngày dài, tìm đường lên một ban công nhỏ ở tầng cao của Minh Đài, nơi Elowen đã chỉ cho họ trước đó, một góc yên tĩnh nhìn thẳng ra toàn cảnh quảng trường và, xa hơn nữa, ra tận rìa Vực Liệt mờ trong bóng tối cuối chân trời.
Dưới kia, hàng ngàn chiếc đèn lồng bắt đầu được thả lên trời theo hiệu lệnh chung, một truyền thống mới Bát Trụ vừa lập ra cho đại lễ năm nay, mỗi chiếc đèn mang theo một điều ước hoặc một cái tên người đã khuất viết tay bởi chính người thả nó, và khi hàng ngàn đốm sáng nhỏ ấy bắt đầu bay lên, hòa vào ánh sáng dịu dàng của mái vòm thạch anh Minh Đài đang thức dậy trong bóng tối, cả bầu trời phía trên Rạng Đông, trong một khoảnh khắc, trông như thể chính vầng trăng nhân tạo năm xưa đã vỡ ra thành hàng ngàn mảnh nhỏ, mỗi mảnh mang theo một câu chuyện riêng, trôi chầm chậm về phía những vì sao thật.
"Anh còn nhớ," Yumi nói khẽ, đứng cạnh Kael, đầu tựa vào vai anh đúng như cô từng làm trong đêm trước ngày Hợp Mạch, "cái đêm trên mỏm đá, khi em nói với anh rằng em sẽ không còn là Yumi, Lời Thì Thầm Của Đông nữa?"
"Anh nhớ," Kael nói, tay anh vòng qua eo cô, mắt vẫn dõi theo những chiếc đèn lồng đang trôi xa dần. "Anh cũng nói anh không biết mất Vực có phải mất một phần con người anh hay không."
"Giờ anh biết câu trả lời chưa?" cô hỏi.
Kael im lặng một lúc, nhìn xuống Corin đang ngủ yên trên vai mình, rồi nhìn sang Seren trong lòng Yumi, rồi nhìn ra biển đèn lồng đang thắp sáng cả bầu trời đêm phía trên một Thành từng, trong ký ức anh, chỉ là nơi anh phải cẩn trọng từng bước để không bị phát hiện.
"Nó không phải mất một phần con người anh," anh nói cuối cùng. "Nó chỉ là đổi một thứ mình từng dùng để sống sót lấy một thứ khác, tốt hơn nhiều, để sống thật sự."
Draven, đứng cách đó vài bước, giả vờ đang chăm chú ngắm pháo hoa đầu tiên vừa bùng lên phía xa để hai người có một khoảnh khắc riêng, nhưng khi Yumi quay sang nhìn anh, mời anh bước lại gần hơn bằng một cái gật đầu nhỏ, anh không từ chối, đứng vào giữa họ, một tay đặt lên vai Kael, tay kia khẽ chạm vào đầu Seren đang ngủ trong lòng mẹ.
Phía dưới, tiếng nhạc, tiếng cười, và tiếng những đứa trẻ reo hò trước mỗi chùm pháo hoa mới vẫn tiếp tục vang lên không dứt, một Thành, một lục địa, đang mừng vui vì một ngày ba trăm năm trước từng chỉ có nghĩa là chờ đợi tới lượt mình bị chọn, giờ đây chỉ còn có nghĩa là một mùa hè để trở về, để ăn mừng, để nhìn con cái mình lớn lên dưới một bầu trời không còn ai phải hỏi liệu ngày mai có còn được nhìn thấy nó hay không.
Kael nhìn xuống hai đứa trẻ đang ngủ, nhìn sang Yumi, nhìn sang Draven, rồi nhìn ra biển đèn lồng đang trôi xa dần về phía những ngọn núi mờ xa, và trong khoảnh khắc đó, anh không nghĩ tới Hắc Nguyệt Môn, không nghĩ tới Vares, không nghĩ tới ba trăm năm hiến tế hay Vực Thẳm còn cựa quậy dưới đáy thực tại. Anh chỉ nghĩ tới một điều đơn giản, thứ mà, mười hai năm huấn luyện của anh chưa bao giờ dạy anh cách gọi tên cho tới khi anh gặp người phụ nữ đang đứng cạnh mình lúc này.
Rằng đây, cuối cùng, chính là nhà.