🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục
🔎 Tìm kiếm
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google
← Nhị Thập Vực

Q2·Ch.9: SỰ THẬT VỀ VARES

📖 Quyển 2: VÒNG XOÁY KẾ VỰC

~19 phút đọc · 3745 từ · · ⚠️ Báo cáo

Sable nhận ra con rối trên bàn mình đã bị di chuyển trước khi cô nhận ra bất cứ điều gì khác.

Nó vẫn nằm đúng chỗ cũ, ngay cạnh khay dụng cụ khắc gỗ, nhưng hơi lệch đi một góc, đúng năm độ, không hơn không kém, kiểu lệch mà chỉ một người từng dành hàng nghìn giờ chỉnh sửa từng khớp gỗ mới nhận ra ngay từ cái liếc đầu tiên. Đó là ám hiệu bà đã dạy Kael từ năm nó mười ba tuổi, một trò chơi nhỏ giữa hai người trong những năm đầu nó tập làm quen với việc lẩn trốn giữa ban ngày: nếu con rối bị xoay, có nghĩa là có ai đó đã ở đây, và người đó muốn bà biết mà không cần để lại bất cứ dấu vết nào khác.

Bà không hoảng hốt. Bà chỉ đứng lặng một lúc giữa lều riêng của mình, ngọn đèn dầu duy nhất cháy leo lét trên bàn, rồi quay lưng lại phía tấm màn cửa, đóng chặt nó lại, cài thêm một thanh chốt gỗ phía trong mà bà hiếm khi dùng tới.

"Ngươi có thể ra rồi," bà nói, giọng bà đều đều, không lớn hơn mức cần thiết để vang tới góc lều tối nhất, nơi bóng tối dày hơn hẳn phần còn lại một cách bất thường.

Kael bước ra từ trong chính bóng tối ấy, như thể anh chưa từng là một phần của nó cho tới khoảnh khắc này, tấm áo choàng đen xanh đậm của anh vẫn còn dính vài vệt bùn từ quãng đường len lỏi qua ba lớp canh gác của Minh Dạ mà không một người lính nào hay biết.


"Con không nên tới đây," Sable nói, dù giọng bà không mang chút giận dữ nào, chỉ là một sự lo lắng bà cố nén xuống bằng chính cái vẻ điềm tĩnh bà đã luyện tập suốt hai mươi bảy năm cuộc đời. "Nếu Vares phát hiện…"

"Ông ta sẽ không phát hiện," Kael cắt ngang, "vì con không định ở lại lâu."

Anh bước tới gần bàn, ánh đèn dầu hắt lên gương mặt anh, để lộ những nét mệt mỏi mà Sable, dù chỉ vừa mới nhìn thấy nó, đã nhận ra ngay lập tức: không phải sự mệt mỏi vì thiếu ngủ hay vì phải sống lẩn trốn suốt nhiều tuần, mà một loại mệt mỏi cũ hơn, sâu hơn, thứ mệt mỏi của một người đã mang một câu hỏi trong lòng quá lâu mà chưa từng dám hỏi thẳng ra.

"Con cần biết," anh nói, "ai đã ra lệnh giết Yumi."


Sable không trả lời ngay. Bà bước tới chiếc ghế thấp cạnh bàn, ngồi xuống, hai tay đặt lên đùi, ngón tay vẫn còn dính vệt sơn gỗ từ buổi tối bà dành ra để tu sửa lại con rối chiến đấu của mình sau trận đấu với Nyx. Bà nhìn Kael một lúc lâu, ánh mắt bà mang một sự cân nhắc nặng nề mà bà chưa từng để lộ trước mặt anh, kể cả trong những năm tháng khó khăn nhất khi anh còn là một đứa trẻ câm lặng hơn cả những con rối gỗ bà dạy nó diễn tập.

"Con đã hỏi câu đó trước khi con biến mất," bà nói cuối cùng. "Ta nhớ. Ta đã nói với con khi đó rằng lệnh tới từ Vares, và đó là toàn bộ những gì ta biết."

"Đó không phải toàn bộ những gì mẹ biết," Kael nói. Anh hiếm khi gọi bà như vậy, chỉ trong những khoảnh khắc anh cần bà hiểu rằng anh không nói với bà như một Vực Chủ nói với Môn chủ phó, mà như một đứa con nói với người duy nhất từng thật sự nuôi dạy nó. "Con đã tìm thấy một cuốn sổ, trong túi vải Yumi mang theo suốt mười năm. Vết cháy tại Đền Băng, cùng kiểu với vết cháy đã thiêu rụi xưởng rèn nhà con, mười năm trước."

Bàn tay Sable siết lại trên đùi, chỉ một chút, đủ để Kael nhận ra, dù bà không nói gì.

"Mẹ biết điều đó," anh nói, không phải một câu hỏi.


Sable đứng dậy, quay lưng lại phía anh, bước tới góc lều nơi một chiếc rương gỗ nhỏ đặt dưới đống vải vụn, thứ mà bất cứ ai không biết rõ sẽ chỉ nghĩ là đồ nghề múa rối cũ. Bà quỳ xuống, mở khóa bằng một chiếc chìa nhỏ luôn giấu trong tóc, và lấy ra một tập giấy da mỏng, buộc chặt bằng dây gai.

"Ta không biết," bà nói, giọng bà thấp hơn thường lệ, "cho tới năm năm sau đêm ta tìm thấy con giữa tro tàn xưởng rèn. Khi đó ta đã đủ lớn, đủ được tin tưởng trong Môn để bắt đầu được giao vài công việc sổ sách, và ta tình cờ thấy một khoản chi trả bất thường trong sổ riêng của Vares, được ghi dưới một mã số thay vì một cái tên, đúng vào tháng mà xưởng rèn nhà con cháy."

Bà đưa tập giấy cho anh. Kael nhận lấy, ngón tay anh hơi run khi mở dây buộc, không phải vì sợ, mà vì mười năm chờ đợi một câu trả lời giờ đây gần như đã ở ngay trước mắt anh.

"Ta không hiểu hết ý nghĩa của nó khi đó," Sable tiếp tục, "chỉ nghĩ đó là một khoản chi tiêu bí mật khác trong vô số khoản chi tiêu bí mật mà Môn vẫn giữ. Ta không nối được nó với con, với xưởng rèn, cho tới khi con lớn hơn, cho tới khi ta bắt đầu nhận ra Vares luôn tránh nhắc tới quá khứ của con theo một cách khác hẳn cách ông ta né tránh mọi chuyện khác."


Kael lật từng trang giấy dưới ánh đèn dầu, những dòng chữ nhỏ, viết tắt, đầy ký hiệu kế toán mà chỉ ai quen với sổ sách Hắc Nguyệt Môn mới đọc hiểu trọn vẹn. Nhưng ngay cả với con mắt chưa từng được huấn luyện đọc sổ sách của anh, một mẫu hình vẫn hiện ra rõ ràng: những khoản chi trả định kỳ, cách nhau vài năm, luôn dưới cùng một mã số, luôn được ghi chú vắn tắt bằng ba chữ cái không giải thích gì thêm.

"Đền Băng Vĩnh Cửu?" Anh đọc to, nhìn lên Sable.

"Ta tin là vậy," Sable nói. "Nhưng đó không phải khoản Vares trả cho ai đó để thực hiện vụ thảm sát. Đó là khoản ông ta nhận được, không phải trả đi."

Kael đông cứng lại, ánh mắt anh dán chặt vào trang giấy trước mặt, cố hiểu rõ điều bà vừa nói.

"Vares đã bán tin," Sable nói, giọng bà giờ đã ổn định trở lại, dù mang một sự nặng nề rõ rệt, như thể mỗi từ đều là một viên đá bà phải cố sức nâng lên khỏi một nơi bà đã chôn giấu chúng suốt nhiều năm. "Nhiều năm trước vụ thảm sát, có người, một người trong chính Thất Trụ, giấu mặt, đã tìm tới ông ta, hỏi mua thông tin về Đền Băng: vị trí chính xác, số lượng người canh gác, những ngày lễ khi hàng rào phòng thủ lỏng lẻo nhất. Vares bán tin ấy, không hỏi vì sao người mua cần nó, đổi lấy một lời hứa bảo trợ chính trị cho Minh Dạ, một sự an toàn mà Thành cảng này, vốn luôn đứng ngoài rìa mọi tranh chấp giữa các Thành lớn, chưa bao giờ có được trước đó."


"Ông ta biết," Kael nói, giọng anh trầm xuống, gần như một tiếng thì thầm, "ông ta biết mình đang bán thông tin có thể dẫn tới một cuộc thảm sát."

"Ta không chắc ông ta biết chính xác điều gì sẽ xảy ra," Sable nói, dù chính bà cũng nghe rõ sự yếu ớt trong lời bào chữa của mình khi nó vừa thốt ra. "Vares không phải kẻ g-iết người bằng chính tay mình, con biết điều đó hơn ai hết, con đã sống mười năm dưới trướng ông ta. Ông ta là kẻ bán thông tin, bán cơ hội, bán sự im lặng, cho bất cứ ai trả giá đủ cao, và không bao giờ hỏi họ sẽ dùng nó để làm gì. Có lẽ với ông ta, đó là cách để tự lừa dối chính mình rằng ông ta không nhúng tay vào máu."

Kael không trả lời ngay. Anh nhìn xuống tập giấy trong tay, những dòng ký hiệu vô cảm ghi lại một quyết định đã cướp đi cả cha mẹ Yumi lẫn, gián tiếp, chính cha mẹ anh, vì nếu vết cháy tại xưởng rèn nhà anh thật sự cùng một nguồn với vết cháy tại Đền Băng, thì cả hai thảm kịch đều bắt nguồn từ cùng một mạng lưới, cùng một sự im lặng được mua bằng tiền.

"Ai mua tin," anh hỏi, "ai là người trong Thất Trụ đã hỏi mua thông tin về Đền Băng?"

Sable lắc đầu, và lần này, sự bất lực trong ánh mắt bà là thật, không phải một sự né tránh có tính toán. "Ta không biết. Vares chưa bao giờ ghi tên thật của bất cứ ai trong sổ sách bí mật của mình, chỉ những mã số, và ngay cả những mã số đó cũng thay đổi theo từng năm, như thể chính ông ta cũng không hoàn toàn tin tưởng người đang trả tiền cho mình."


"Vậy tất cả những gì mẹ vừa đưa cho con," Kael nói, giọng anh mang một sự thất vọng anh không cố che giấu, "chỉ đủ để buộc tội Vares, không đủ để chạm tới kẻ đứng trên ông ta."

"Đúng vậy," Sable thừa nhận, "và ta biết đó không phải điều con cần nghe lúc này. Nhưng nó là sự thật ta có thể trao cho con, không hơn không kém."

Bà ngồi xuống đối diện anh, hai tay đan vào nhau trên đùi, và trong khoảnh khắc ấy, Kael nhìn thấy, lần đầu tiên rõ ràng tới vậy, sức nặng của những gì bà đã mang trong lòng suốt nhiều năm: không chỉ là bí mật về Vares, mà cả gánh nặng của việc phải nuôi dạy một đứa trẻ giữa lòng chính mạng lưới đã, có thể, góp phần cướp đi gia đình đứa trẻ ấy, và không bao giờ dám nói ra sự thật đó cho tới khi chính đứa trẻ ấy đã lớn đủ để tự mình tìm ra.

"Mẹ có bao giờ tự hỏi," Kael nói, giọng anh chậm lại, "vì sao mẹ tìm thấy con đêm đó? Không phải một người lính tuần tra thông thường, mà chính mẹ, một Vực Chủ của Hắc Nguyệt Môn, tình cờ có mặt ở khu chợ đêm đúng vào đêm xưởng rèn cháy?"

Sable im lặng, và trong sự im lặng ấy, Kael đọc được một câu trả lời anh chưa hoàn toàn sẵn sàng nghe.

"Đó không phải tình cờ," bà nói cuối cùng, giọng bà gần như vỡ ra, "phải không?"


"Ta không biết," Sable nói, và lần này, sự thành thật trong giọng bà không thể nghi ngờ. "Ta đã tự hỏi chính câu hỏi đó không biết bao nhiêu lần trong mười năm qua, kể từ ngày ta bắt đầu nghi ngờ về khoản chi trả kia. Ta chỉ nhớ, đêm đó, Vares gọi ta tới, nói có tin về một vụ cháy ở khu chợ, bảo ta tới xem có cần dọn dẹp hiện trường theo cách nào không, phòng khi có kẻ sống sót cần được xử lý êm thấm. Ta tưởng đó là một nhiệm vụ bình thường."

"Nhưng khi tới nơi," Kael tiếp lời, giọng anh giờ đã mất hết vẻ bình tĩnh cố hữu, "mẹ tìm thấy con."

"Ta tìm thấy con," Sable nói, "và ta không bao giờ báo cáo lại rằng con còn sống. Ta nói với Vares rằng không có ai sống sót, rằng ta đã 'xử lý' hiện trường theo đúng chỉ thị. Ta đã nói dối ông ta lần đầu tiên trong đời mình đêm đó, vì lúc ta nhìn thấy con ngồi giữa tro tàn, một đứa trẻ mười hai tuổi không còn ai trên đời, ta không thể mang con về nộp cho ông ta như một mảnh bằng chứng cần tiêu hủy."

Kael ngồi lặng, cố tiêu hóa những gì anh vừa nghe. Cả cuộc đời anh, từ đêm đó tới giờ, anh vẫn luôn tin rằng Sable tìm thấy anh một cách tình cờ, một hành động nhân từ ngẫu nhiên giữa vô vàn tàn nhẫn của Hắc Nguyệt Môn. Sự thật, hóa ra, tối tăm hơn nhiều: bà đã được cử tới để đảm bảo không còn ai sống sót kể lại câu chuyện thật về vụ cháy, và chính sự bất tuân đầu tiên của bà, việc bà chọn giấu anh đi thay vì báo cáo, đã trở thành nền móng cho toàn bộ mối quan hệ giữa hai người suốt mười năm sau đó.


"Vậy con là bằng chứng," Kael nói khẽ, "và mẹ đã cứu bằng chứng đó thay vì tiêu hủy nó."

"Con không bao giờ chỉ là bằng chứng với ta," Sable nói, giọng bà cứng lại vì một cảm xúc bà hiếm khi để lộ ra ngoài, "dù con bắt đầu như vậy trong mắt Vares. Với ta, con là đứa trẻ duy nhất ta từng có cơ hội bảo vệ thật sự, trong một thế giới nơi ta chưa bao giờ bảo vệ được chính mình khỏi Môn đã nuốt trọn tuổi thơ ta."

Cả hai ngồi lặng một lúc lâu, ngọn đèn dầu trên bàn lay động nhẹ theo một luồng gió lùa qua khe lều, kéo dài những cái bóng của họ trên vách vải thành những hình thù méo mó, gần như chính là hình ảnh của hai con rối bị số phận điều khiển bởi những bàn tay vô hình mà cả hai chưa từng thấy rõ mặt.

"Con cần đi tìm cơ chế con dấu," Kael nói cuối cùng, giọng anh đã lấy lại phần nào sự điềm tĩnh quen thuộc, dù ánh mắt anh vẫn còn nặng trĩu những gì vừa nghe. "Không phải Vares, không phải kẻ đứng sau ông ta, ít nhất chưa phải lúc này. Yumi và con đều tin rằng có một điều lớn hơn, một bí mật về cách Đại Tranh Kế Vực thật sự vận hành, mà nếu chúng con hiểu được nó trước, chúng con sẽ có nhiều đòn bẩy hơn để đối đầu với bất cứ ai đứng sau tất cả những chuyện này, kể cả khi chúng con chưa biết tên họ."


Sable nhìn anh, một chút ngạc nhiên thoáng qua trong ánh mắt bà. "Con muốn hoãn việc trả thù, để đi tìm hiểu một cơ chế không ai từng dám hỏi tới trong ba trăm năm?"

"Con không hoãn việc trả thù," Kael nói. "Con chỉ không định lãng phí nó vào một mục tiêu chưa đủ lớn. Vares chỉ là một mắt xích. Nếu con hạ gục ông ta ngay bây giờ, kẻ đứng trên sẽ chỉ đơn giản tìm một mắt xích khác, và toàn bộ mạng lưới vẫn tiếp tục, vô hình, không ai chạm tới được. Con cần biết toàn bộ hình dạng của thứ mình đang chống lại, trước khi con quyết định nên chặt đứt nó ở đâu."

Sable im lặng một lúc, rồi gật đầu chậm rãi, một sự đồng thuận miễn cưỡng nhưng thật lòng. "Đó là cách suy nghĩ của một người trưởng thành hơn nhiều so với đứa trẻ ta từng dạy dỗ," bà nói, giọng bà mang một chút gì đó gần như tự hào lẫn trong nỗi buồn. "Ta ước gì con không phải học cách suy nghĩ như vậy quá sớm."


"Còn tập giấy này," Kael nói, giơ lên chồng hồ sơ Sable vừa đưa, "nếu Vares phát hiện nó biến mất…"

"Ông ta sẽ không phát hiện," Sable nói, đứng dậy, lấy từ trong rương một tập giấy khác, gần giống hệt bản gốc về hình thức nhưng nội dung trống trơn hơn nhiều. "Ta sẽ thay bằng bản này, đủ để qua mắt bất cứ ai kiểm tra sơ qua, không đủ chi tiết để dẫn tới bất cứ đâu nếu có ai đọc kỹ. Ta đã học được cách làm giả sổ sách từ chính những năm tháng phục vụ trong Môn này, một kỹ năng ta chưa bao giờ nghĩ mình sẽ dùng để chống lại chính người dạy nó cho ta."

Bà cất tập giấy giả vào đúng vị trí bản gốc từng nằm, khóa rương lại, rồi đứng thẳng dậy, đối diện với Kael một lần cuối trước khi anh phải rời đi.

"Con phải cẩn thận hơn nữa," bà nói, giọng bà giờ đã trở lại phần nào vẻ nghiêm khắc quen thuộc của một người thầy hơn là một người mẹ, "vì từ đêm nay, nếu Vares dù chỉ thoáng nghi ngờ ta đang giữ lại điều gì đó, ông ta sẽ không ngần ngại coi ta như một mối đe dọa, đúng như ông ta từng coi con."

"Con biết," Kael nói. "Đó là lý do con sẽ không tới đây lần nữa, trừ khi thật sự cần thiết."


Bà tiễn anh tới sát tấm màn cửa, tháo chốt gỗ, rồi dừng lại, một tay đặt lên vai anh, cái chạm nhẹ nhàng hiếm hoi mà bà chỉ dành cho anh trong những khoảnh khắc cả hai đều biết có thể là lần cuối trong một thời gian dài.

"Kael," bà nói, "dù con tìm ra bất cứ điều gì về mạng lưới đó, dù nó lớn tới đâu, dù nó chạm tới bao nhiêu người mà con từng tin tưởng, hãy nhớ một điều: con không phải là những gì họ đã biến con thành. Con là những gì con chọn trở thành, kể từ đêm ta tìm thấy con giữa tro tàn cho tới bây giờ."

Kael không trả lời ngay. Anh gật đầu, một cử chỉ ngắn gọn nhưng chứa đựng nhiều hơn bất cứ lời nói nào anh có thể thốt ra lúc này, rồi tan vào bóng tối bên ngoài lều, đúng cách anh đã tới, không một tiếng động, không một dấu vết.


Yumi đợi anh ở rìa doanh trại, khuất sau một chồng thùng gỗ chất cao gần khu chợ đêm tạm, hơi lạnh quen thuộc tỏa ra quanh cô ngay cả trong đêm cuối hạ oi ả, một dấu hiệu cô đang căng thẳng hơn cô muốn thể hiện ra ngoài.

"Sao rồi?" cô hỏi, khi anh vừa xuất hiện bên cạnh cô, gần như không một tiếng động báo trước.

Kael đưa cho cô tập hồ sơ, để cô tự đọc lướt qua dưới ánh trăng mờ nhạt, và trong lúc chờ đợi, anh kể lại vắn tắt những gì Sable vừa tiết lộ, giọng anh phẳng lặng hơn bình thường, cách anh vẫn dùng khi cố giữ mình khỏi vỡ ra trước một điều gì đó quá lớn để cảm nhận trọn vẹn ngay lập tức.

"Vậy Vares không tự tay giết ai cả," Yumi nói, gấp tập giấy lại, "ông ta chỉ bán con đường để người khác làm việc đó."

"Đúng vậy," Kael nói. "Và điều đó khiến ông ta khó bị buộc tội hơn nhiều so với một kẻ g-iết người trực tiếp, vì không có gì trong tay chúng ta đủ để chứng minh ông ta biết trước hậu quả."

Yumi im lặng một lúc, mắt cô nhìn xa xăm về phía đường viền Vực Liệt khuất trong bóng tối phía chân trời. "Vậy chúng ta làm gì tiếp theo?"


"Chúng ta tìm cơ chế con dấu," Kael nói, lặp lại chính điều anh vừa nói với Sable, nhưng lần này với một sự chắc chắn rõ ràng hơn, như thể việc nói ra lần thứ hai đã giúp anh thật sự tin vào nó. "Ba trăm năm, không ai từng công khai hỏi vì sao Đại Tranh Kế Vực phải tồn tại theo đúng chu kỳ hai mươi năm, vì sao một Vực Chủ phải hiến trọn Vực của mình mỗi lần chu kỳ khép lại. Nếu có một bí mật đủ lớn để cả một hệ thống chính trị phải giữ kín suốt ba thế kỷ, đó chính là điều Ashfall đang cố lợi dụng, và cũng là điều duy nhất có thể khiến toàn bộ mạng lưới đứng sau Vares phải lộ diện, khi họ buộc phải bảo vệ nó bằng mọi giá."

"Và nếu chúng ta tìm ra nó trước Ashfall," Yumi nói, hiểu ngay ý anh, "chúng ta sẽ có một thứ mà cả Hội Đồng lẫn Ashfall đều cần, thay vì chỉ là hai kẻ đang chạy trốn cả hai phía."

Kael gật đầu. Anh nhìn xuống tập hồ sơ trong tay Yumi, những dòng chữ vô cảm ghi lại một quyết định đã định hình cả cuộc đời hai người theo những cách họ mới chỉ bắt đầu hiểu hết, rồi nhìn lên, về phía những ngọn đuốc lập lòe nơi khu trại chính của Minh Dạ, nơi Vares vẫn đang ngủ yên, không hề hay biết một phần bằng chứng chống lại chính mình vừa đổi chủ ngay dưới mái lều của người phó tướng ông tin tưởng nhất.

"Ông ta sẽ không nghi ngờ gì cho tới khi quá muộn để xóa dấu vết," Kael nói, giọng anh mang một sự lạnh lẽo mới, không phải sự lạnh lẽo của Hắc Nguyệt Môn đã huấn luyện anh, mà sự lạnh lẽo của một người vừa quyết định, một lần và mãi mãi, rằng anh sẽ không còn để bất cứ ai trong mạng lưới ấy được yên ổn phía sau lớp vỏ bọc của họ thêm bao lâu nữa.

Yumi đặt tay lên tay anh, một cử chỉ nhỏ, không cần lời giải thích nào thêm, và cả hai đứng đó một lúc lâu, giữa bóng tối doanh trại đang chìm vào giấc ngủ, mang theo một bí mật đủ sức lay chuyển cả bảy Thành, chờ đúng thời điểm để nó lên tiếng.

💬 Bình luận (0)