🏠 Trang chủ 🔎 Tìm kiếm
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google

Ch.1: Cuối hẻm có một tiệm đồ cổ

~27 phút đọc · 5256 từ · ⚠️ Báo cáo

“Bần đạo không cứu thiên hạ. Bần đạo chỉ cứu người trước mặt. Còn thiên hạ ấy à… để mấy vị chính nhân quân tử lo.”

Đêm ấy, ngày nào tháng nào chẳng ai nhớ rõ, mưa đổ xuống hồng trần như trời cao bị ai rạch một đường thật sâu.
Giữa vùng núi hoang cách thôn làng hơn mười dặm, có một ngôi miếu cổ đã bỏ hoang từ lâu. Mái ngói vỡ nát, tường đất loang lổ rêu xanh, tượng thần trong miếu cũng đã mất đi nửa khuôn mặt, chỉ còn đôi mắt đá lạnh lẽo nhìn ra qua lớp bụi mờ năm tháng.
Không ai còn nhớ ngôi miếu ấy thờ vị thần nào.
Người trong vùng chỉ biết nơi đó âm khí rất nặng. Ban ngày chim chóc ít đậu, ban đêm thú rừng cũng tránh xa. Những kẻ tiều phu đi ngang qua đều không dám dừng chân, chỉ vội vã cúi đầu bước nhanh, sợ nhìn lâu sẽ bị bắt đi mà chẳng còn biết đường về.
Thế nhưng vào đêm mưa gió ấy, trong ngôi miếu hoang vốn đã im lìm nhiều năm, lại có một tiếng khóc trẻ con vang lên, xé nát cả âm thanh cuồng nộ của đất trời.
Mưa vẫn rơi, sấm vẫn động, nhưng ngôi miếu hoang như bị tách khỏi nhân gian. Trong một thoáng ngắn ngủi, hơi lạnh âm u tích tụ nhiều năm quanh miếu chợt tản ra bốn phía. Trên nền đất nứt nẻ trước án thờ, một đứa trẻ đỏ hỏn nằm giữa lớp vải trắng thấm nước mưa, hai bàn tay nhỏ bé nắm chặt, mi tâm thấp thoáng một vệt sáng nhạt như ánh trăng vừa tan.
Đứa bé ấy vừa mở mắt, tàn hương trong lư đồng cũ trước tượng thần bỗng tự cháy lên. Không có lửa, không có người châm, vậy mà một làn khói mỏng vẫn chậm rãi bay lên, uốn quanh tượng thần mất mặt rồi tan vào bóng tối.
Đó không phải đứa trẻ bình thường. Đứa bé này trời sinh linh khí thông thấu, hồn phách sạch trong, kinh mạch chưa mở mà đã tự hợp với âm dương. Loại thể chất ấy, trong huyền môn gọi là tiên thiên linh thể. Người mang tiên thiên linh thể, sinh ra đã là một phần của định mệnh, của nhân quả luân hồi.
Đó là phúc.
Cũng là họa.
Bên ngoài, mưa vẫn đổ xuống rừng sâu. Nước mưa men theo mái ngói vỡ nhỏ từng giọt xuống nền đất, rơi cạnh gương mặt non nớt của nó. Tượng thần cụt mặt lặng lẽ cúi nhìn, như thương xót, như canh giữ, lại như đang chờ đợi một đoạn nhân duyên nào đó được mở ra.
Cũng chính vào lúc ấy, ngoài rừng truyền đến tiếng bước chân lội bùn. Một cặp vợ chồng lão nông trên đường về, bị mưa lớn giữ chân, đành men theo đường cũ tìm chỗ trú tạm. Hai người tuổi đã cao, áo tơi rách nát, chân dính đầy bùn đất. Lão ông cầm một cây đuốc đã gần tắt, lão bà thì ôm chiếc giỏ tre trước ngực, vừa đi vừa run vì lạnh.
Khi nhìn thấy ngôi miếu hoang, lão ông còn hơi chần chừ:
“Chỗ này… không sạch sẽ lắm đâu.”
Lão bà liếc ông một cái, giọng khàn đi, với vẻ mệt mỏi:
“Không sạch cũng còn hơn chết rét ngoài rừng.”
Hai người đẩy cánh cửa gỗ mục bước vào. Ngọn đuốc trong tay lão ông vốn đã yếu đến mức sắp tắt, vậy mà khi vừa vào trong miếu, ánh lửa bỗng bùng lên một chút. Ánh sáng vàng vọt soi qua nền đất ẩm, qua án thờ đổ nát, qua lư hương phủ bụi, rồi dừng lại trên một bọc vải trắng nằm trước tượng thần.
Lão bà khựng lại. Ban đầu bà tưởng đó chỉ là một đống vải ai bỏ quên. Nhưng ngay sau đó, bọc vải khẽ động. Một tiếng khóc rất nhỏ vang lên.
Chiếc giỏ tre trên tay lão bà rơi xuống đất.
“Trời đất ơi…”
Bà lảo đảo bước tới, quỳ sụp xuống trước bọc vải. Khi đôi tay già nua run rẩy mở lớp vải ướt ra, gương mặt của một đứa trẻ sơ sinh hiện ra dưới ánh lửa.
Đứa trẻ rất nhỏ, nhưng không tím tái như những đứa bé bị bỏ ngoài mưa lạnh. Da thịt nó trắng sạch, hơi thở đều đều, đôi mắt đen trong lặng lẽ nhìn bà, chẳng giống một đứa trẻ mới sinh chút nào. Lão bà nhìn nó, không hiểu vì sao sống mũi chợt cay xè.
Bà và chồng cả đời lam lũ, không con không cháu. Nhà chỉ có hai thân già nương tựa vào nhau, ruộng ít, tiền không, ngày tháng trôi qua bình đạm mà quạnh quẽ. Bà từng cầu thần, từng thắp hương, từng ôm hy vọng rồi lại buông tay. Đến tuổi này, bà vốn đã không còn mong gì nữa.
Vậy mà giữa đêm mưa gió, trong một ngôi miếu hoang chẳng ai dám tới, trời đất lại đặt trước mặt bà một đứa trẻ.
Lão ông đứng sau lưng bà, sắc mặt vừa sợ vừa thương.
“Không biết con nhà ai… sao lại bỏ ở nơi này?”
Lão bà ôm đứa trẻ vào lòng, lấy áo tơi che kín cho nó. Đứa bé vừa chạm vào ngực bà liền im hẳn tiếng khóc, bàn tay nhỏ xíu túm lấy vạt áo cũ của bà, như thể đã tìm được nơi để bám víu giữa nhân gian này.
Chỉ một cái nắm ấy, lòng lão bà mềm nhũn.
Bà ngẩng đầu nhìn tượng thần cụt mặt trong miếu, đôi mắt đỏ hoe, thấp giọng nói:
“Không phải bị bỏ đâu. Là thần linh đưa nó đến cho chúng ta.”
Lão ông im lặng rất lâu.
Bên ngoài, tiếng mưa vẫn rào rạt. Cơn gió lạnh lùa qua khe cửa khiến ngọn đuốc lay động, bóng hai người già in lên vách miếu xiêu vẹo:
“Chúng ta đặt tên cho nó là Đình Khánh nhé!”

Phố Cổ Nguyệt mưa suốt ba ngày.
Nước mưa chảy xuống từ mái ngói cũ, men theo những bức tường rêu loang lổ, kéo theo mùi gỗ mục, giấy vàng mã và thứ hơi lạnh âm âm chỉ xuất hiện ở những nơi giống như đã bị thời gian và xã hội lãng quên.
Đi sâu và con hẻm nào đó, con hẻm không rộng, miễn cưỡng lắm thì cũng vừa hai người lớn đi ngược chiều. Trên cao, dây điện chằng chịt vắt ngang như mạng nhện, mấy chậu cây khô héo đặt bên bệ cửa sổ, thỉnh thoảng có giọt nước đọng từ mái tôn rơi xuống mặt đường lát đá xanh, vang lên một tiếng tí tách rất khẽ. Cuối hẻm là một căn nhà còn duy trì theo kiến trúc xưa cũ, lạc quẻ giữa thành phố phồn hoa.
Căn nhà ấy không lớn, mái ngói âm dương phủ đầy rêu xanh, lan can gỗ đen bóng vì năm tháng, trước cửa treo hai chiếc đèn lồng đã bạc màu. Mỗi khi có gió, đèn lồng khẽ lay động, ánh sáng bên trong hắt ra kèm theo tiếng chuông gió ngân vang tạo nên vẻ ma mị kì bí. Trên cửa chính có treo một tấm biển gỗ. Nét chữ trên biển không biết do ai viết, cong mà không yếu, sắc mà không gắt, nhìn lâu lại có cảm giác như không khí xung quanh đang rúng động.
Ba chữ lớn khắc: Ngọc Hoàng Các.
Nghe tên thì rất khí phái. Nhưng nếu liếc qua khung cửa sổ nhìn vào trong nhà, phần khí phái ấy lập tức bị đống đồ đạc chất ngổn ngang đánh cho tan hơn phân nửa. Trong tiệm, thứ gì cũng có. Bình sứ cổ đặt cạnh máy hát cũ. Gương đồng nứt một đường dài nằm chung với hộp trang sức khảm trai. Mấy thanh kiếm gỗ đào treo xiêu vẹo trên vách. Có bức tranh thủy mặc cuộn dở, có chuông đồng rỉ xanh. Trên kệ phía đông, tây bày đầy đồ thờ cũ: lư hương, bài vị, đèn dầu, chén sứ, tượng thần sứt tay, tượng phật mất đài sen. Nhiều món chẳng biết dùng để làm gì: khóa đồng không có chìa, trâm bạc gãy đôi, một con rối gỗ thiếu mắt, mấy tấm phù vàng đã phai mực, cùng một chiếc trống bỏi trẻ con nhưng mặt trống lại vẽ bằng chu sa đỏ thẫm.
Cánh cửa lớn đột ngột mở toang, kèm theo tiếng kẽo kẹt tưởng như bản lề sắp rơi ra. Giọng nam nhân vang lên:
“Ái cha… cuối cùng cũng tạnh mưa rồi. Quái quỷ gì mà mưa hoài chán chết đi được!”
Dứt lời, một bóng hình hơi chút lùn lại mập mạp bước ra, tay ông ta cầm một cây dù vải cổ điển như vớ đại từ đống đồ ngổn ngang. Trên thân mặc một bộ trường bào mã quái màu đỏ đậm, thắt lưng ngọc bích, bên hông treo một cây quạt màu hoàng kim.
Còn ai ngoài chủ tiệm đồ cổ này. Ông ta đã ngoài tứ tuần, thân hình mập mạp, mặt tròn phúc hậu nhưng hàng ria mép cá trê làm toát lên vẻ hám sắc đê tiện. Lúc cười, hai mắt sau cặp kính tròn híp lại thành một đường cong rất khó phân biệt là hiền lành hay gian trá. Người trong phố gọi ông là Huyền Chấn. Nhưng sau lưng, đa phần đều gọi là Huyền gian thương.
Bởi vì một chiếc chén nứt ông ta cũng dám bảo là đồ triều trước. Một bức tranh mốc ông cũng dám nói từng treo trong phủ quan. Còn một cái chuông đồng sứt miệng, ông có thể vỗ ngực cam đoan đây là đồ của một ngàn năm trước. Ai mà nhẹ dạ có khi lại mua hết cả tiệm không chừng. Lại thêm phần thần thần bí bí, nên mọi người ở khu này ít khi nói chuyện với ông ta. Mà ông ta vốn dĩ cũng chẳng quan tâm mấy.
Huyền Chấn bước đi chậm rãi trên con phố vắng người sau mưa, không khí ẩm ướt còn ngập nặng giữa những mái hiên cũ kỹ. Nước mưa đọng thành từng vũng nhỏ trên mặt đường lát đá, phản chiếu bầu trời xám trắng cùng những dải dây điện giăng ngang như mạng nhện. Ông ta vừa đi vừa lắc lư cây dù vải trong tay, miệng không ngừng lẩm bẩm:
“Đúng là thời buổi làm ăn khó khăn. Mưa một trận là khách cũng trôi mất, tiền cũng trôi mất. Nếu ông trời thương người, ít nhất cũng nên rơi xuống vài thỏi vàng mới phải…”
Nói đến đây, ông bỗng sực nhớ hôm nay mình còn có một mối làm ăn không nhỏ. Một nhà trung lưu ở phía đông thành phố, nghe nói mấy hôm nay đêm nào cũng có tiếng trẻ con khóc, chén bát tự rơi vỡ, cửa sổ đóng rồi lại tự mở. Chủ nhà sợ đến mất ăn mất ngủ, không biết từ đâu nghe người ta giới thiệu trong con hẻm cũ có một vị “cao nhân Huyền Chấn”, chuyên trị mấy thứ tà môn quái sự.
Nghĩ tới hai chữ “cao nhân”, Huyền Chấn lập tức ưỡn cái bụng tròn, vuốt nhẹ hàng ria mép cá trê, vẻ mặt rất chi là đắc ý:
“Không sai, không sai. Cái gọi là vàng thật không sợ lửa, cao nhân không sợ bị chôn vùi trong hẻm nhỏ. Huyền Chấn ta dù có khiêm tốn đến đâu, hào quang vẫn không giấu được.”
Ông vừa tự khen mình vừa men theo con phố vắng. Sau mưa, thành phố như bị rửa qua một lượt. Những biển hiệu cũ sáng lên lờ mờ trong hơi nước, cửa hàng hai bên đường phần lớn vẫn còn đóng, chỉ có vài quán nhỏ bắt đầu dọn bàn ghế ra ngoài. Tiếng nước nhỏ từ mái hiên tí tách rơi xuống, hòa với tiếng bánh xe đạp lăn qua mặt đá đem lại một chút cổ kính mà hiu quạnh.
Bỗng một trận gió lạnh bất chợt thổi đến. Huyền Chấn lướt qua một người nào đi ngược chiều, tà áo chỉ khẽ chạm nhau nhưng lông cổ ông dựng đứng, tâm trí dao động cực mạnh. Huyền Chấn khựng lại, cây dù trên tay nghiêng qua một chút, nước mưa đọng lạnh trên dù nhỏ xuống mu bà tay lạnh buốt.
Huyền Chấn chậm rãi quay đầu lại. Phía xa, lẫn khuất trong mấy người đi bộ, tấm lưng nữ nhân cầm ô màu đỏ, y phục sườn xám cách tân bước đi chậm rãi với dáng bộ tuyệt mỹ. Dưới tán ô, eo nàng thon, vai mảnh, bước chân nhẹ như không chạm đất. Mái tóc đen buông sau lưng, chỉ cài một cây trâm bạc đơn giản. Mỗi bước đi đều có một vẻ thong dong khó tả, tựa như nàng không thuộc về con phố ẩm ướt sau mưa này, mà vừa bước ra từ một bức họa cổ nào đó. Cây dù ánh lên màu đỏ sẫm, mang vẻ hoài niệm, ám ảnh và vương vấn những nhân duyên ngàn năm còn lưu.
Huyền Chấn không giải thích được cảm xúc vừa rồi, rõ ràng là có gì đó rất lạ. Nó thoáng qua làm ông có chút buồn man mác. Chuông Linh Âm không kêu, chứng tỏ đó không phải là những yêu vật tà ma hoặc là một loại cấp cao nào đó mà pháp khí thường như thế này không cảm ứng được. Đó là gì vậy?! Ông đứng ngây tại chỗ, đôi mắt sau cặp kiếng nheo lại, vẻ cợt nhả cũng với đi mấy phần, lòng dạ có chút bức bối khó chịu.
Ông hít vào một hơi, lập tức khôi phục vẻ mặt gian thương thường ngày, vừa vuốt ria mép vừa tặc lưỡi:
“Mỹ nữ đó thật xinh đẹp… Nàng ta mà đứng lại một chút thôi thì có khi sẽ bị vẻ cao nhân của ta cuốn hút đấy.”
Đoạn ông lại chỉnh trang trại thái rồi tiếp tục bước đi, miệng lẩm bẩm:
“Thôi thôi… việc chính quan trọng hơn. Bắt ma trước, ngắm mỹ nhân sau. Dù sao mỹ nhân không trả tiền, còn ma thì có thể giúp bần đạo kiếm cơm.”
Nữ nhân che ô đỏ khuất xa. Sương nước sau mưa mơ hồ phủ quanh bóng nàng, khiến dáng người ấy dần nhòe đi giữa màu xám của phố cũ. Đến khi rẽ qua đầu đường, chiếc ô đỏ khẽ nghiêng, một nụ cười ý vị trên môi son đỏ thắm hư ảo nở ra, đầu nàng hơi ngoái lại một chút. Có vẻ nàng biết chắc rằng Huyền Chấn sẽ quay lại nhìn nàng.

Đi mãi một buổi mới tới nơi, phần vì ông ta không muốn đi xe buýt phần vì tiếc tiền không đi taxi. Đây là nhà họ Trương, nhìn qua thì cũng không phải đại phú gì nhưng xem ra cũng có chút thoải mái. Cửa hàng bán tạp hóa, hằng hà sa số mọi thứ, có nhân viên phụ việc. Ông đứng trước đó một hồi tìm kiếm chủ nhà, một cậu nhân viên thấy lạ chạy ra hỏi:
“Này chú muốn mua gì à?”
Huyền Chấn liếc cậu ta một cái rồi đáp:
“Không có mua gì… cho thì lấy...”
Ông chưa dứt câu thì cậu chàng kia đã đổi ánh mắt, móc mỉa:
“Chú ơi, ở đây không phải nơi từ thiện đâu. Chú qua bên kia xem người ta phát đồ cũ đấy!”
Huyền Chấn nghe xong nóng mặt, gắt lên:
“Ngươi nghĩ ta là ai đấy hả… có tin ta ếm ngươi không, nói năng xằng bậy!” Tuy vậy dứt lời ông ta vẫn liếc qua bên kia đường.
Cậu nhóc tưởng gặp phải người thần kinh có vấn đề, hừ lạnh một cái rồi chạy vào trong:
“Không biết bị gì nữa… điên rồi !”
“Này nhóc… đây phải nhà họ Trương gì đó không? Vào kêu giùm ta ông ta ra có Huyền Chấn muốn gặp!” Ông gọi giật ngược lại, nó có vẻ không tin nhưng sau một hồi đôi co nó cũng chịu vào báo.
Lâu sau đó, hơn nửa tiếng vẫn chưa thấy ai ra. Huyền Chấn bắt đầu bực mình, chửi đổng một câu rồi bỏ đi:
“Tiên sư cái nhà này… Ta trù cho các ngươi bị ma ám đến tán gia bại sản đi!”
Vừa quay ra lề đường, chỉ kịp nghe một tiếng “ối” vang lên, sau đó trời đất đảo lộn. Nhìn lại ông ta bị ai đó đâm sầm vào, ngã chỏng chơ, mắt kiếng lệch qua. Huyền Chấn liếc qua thấy một chàng thanh niên trẻ, Ấn Đường sáng người, hai mắt rõ tinh quang, loay hoay ngồi dậy. Cậu ta hỏi han, xin lỗi vài câu rồi toang bỏ đi, bộ dạng gấp gáp. Tuy nhiên Huyền Chấn nào có phải là loại người rộng lượng kia, ông ta chộp lấy tay cậu ta toang bắt đền thì đột nhiên hai mắt ông có kim quang dao động, trong người như có một dòng điện chạy xoẹt qua. Sự phát hiện này khiến ông chết trân, quên luôn ý định vừa rồi.
Chàng trai hiểu nhầm rằng ông đã bỏ qua nên dắt chiếc xa đạp chạy biến, bỏ lại Huyền Chấn thần người lẩm bẩm:
“Cái khí tức này… không thể nào. Đây là Tiên Thiên Linh Thể!”
Đột nhiên một giọng nói vang lên bên cạnh, day ông tỉnh lại:
“Thầy… Thầy có phải là Huyền Chấn không? Thực sự là thất lễ quá… Tôi lại quên mất cuộc hẹn này!”
Huyền Chấn giật mình hoàn hồn, quay phắt đầu lại. Trước mặt ông là một nam nhân trung niên chừng gần năm mươi, dáng người đẫy đà, mặc áo sơ mi đã là thẳng, tóc chải gọn ra sau, trên mặt còn vương mấy phần mệt mỏi vì thiếu ngủ, mi tâm ám đen. Người này vừa nhìn đã biết là loại làm ăn buôn bán nhiều năm, cười nói nhã nhặn, nhưng đáy mắt lại có sự bất an không che giấu được.
Huyền Chấn vốn đang định tiếp tục nhìn theo hướng chàng thanh niên, nhưng nghe hai chữ “quên mất”, cơn tức ban nãy lập tức từ bụng trào lên tận cổ. Ông chỉnh lại cặp kính lệch, phủi phủi bụi trên trường bào, rồi hừ lạnh một tiếng rất có khí thế.
“Quên? Ông chủ Trương, ông nói nghe nhẹ nhàng nhỉ. Bần đạo từ Ngọc Hoàng Các đi tới đây, vượt qua bảy con phố, ba cái ngã tư, hai vũng nước bẩn, một con chó dữ và một thằng nhóc miệng còn hôi sữa mắng ta là ăn xin. Kết quả ông bảo một câu quên mất là xong à?”
Nam nhân trung niên nghe vậy càng áy náy, vội vàng chắp tay xin lỗi:
“Là lỗi của tôi, là lỗi của tôi. Sáng nay trong nhà lại xảy ra chuyện, tôi rối trí quá nên mới…”
“Rối trí thì có thể quên người khác, sao lại quên bần đạo?” Huyền Chấn lập tức cắt ngang, vẻ mặt đau đớn như vừa bị thiên hạ phụ bạc. “Ông có biết trong giới chúng ta, thời gian của cao nhân quý đến mức nào không? Bần đạo đứng trước cửa hàng nhà ông gần một giờ đồng hồ, gió thổi đau lưng, bụi bay cay mắt, khí huyết nghịch hành, tâm thần hao tổn. Nếu chẳng may ảnh hưởng đến căn cơ tu hành của ta, ông bồi thường nổi không?”
Ông chủ Trương nghe đến “căn cơ tu hành” thì sắc mặt hơi biến. Tuy không hiểu lắm, nhưng nghe có vẻ rất nghiêm trọng. Ông vội đưa tay mời:
“Thầy, xin vào trong trước đã. Chuyện này tôi nhất định sẽ đền bù thỏa đáng cho ngài.”
Hai chữ “đền bù” vừa ra khỏi miệng, sắc mặt Huyền Chấn lập tức dịu đi tám phần. Ông ho khan một tiếng, cố gắng kéo lại vẻ cao thâm khó lường, một tay chắp sau lưng, một tay vuốt ria mép cá trê.
“Ừm… người biết sai có thể sửa, thiện lớn lắm thay. Bần đạo cũng không phải loại người hẹp hòi tính toán.”
Nói xong, ông lại liếc về phía bên kia đường, nơi chàng thanh niên kia đã biến mất từ lâu. Trong lòng ông vẫn còn hơi ngứa ngáy. Tiên Thiên Linh Thể. Bốn chữ này nếu truyền ra ngoài, đừng nói đám đạo sĩ giang hồ, ngay cả mấy lão già quanh năm đóng cửa trong núi e rằng cũng phải vác chân chạy xuống. Một người như vậy, nếu được dẫn vào huyền môn, tương lai không thể đo lường. Nếu rơi vào tay yêu tà, vậy thì càng phiền toái.
Nghĩ tới đây, mắt Huyền Chấn lại sáng lên.
Nếu thu được làm đồ đệ thì sao?
“Không được, không được, thu đồ đệ phải nuôi cơm, nuôi áo, còn phải truyền pháp, truyền đạo, hao tổn biết bao nhiêu công phu. Nhưng nếu không thu, chỉ nhận làm phụ việc trong Ngọc Hoàng Các thì sao? Ban ngày trông tiệm, ban đêm học đạo, có khách thì bưng trà, có ma thì đem ra làm mồi… Khụ, không đúng, là đem ra rèn luyện đạo tâm.”
Huyền Chấn càng nghĩ càng thấy hợp lý, khóe miệng không nhịn được cong lên. Ông chủ Trương thấy ông bỗng nhiên cười nham hiểm, trong lòng lạnh đi một nửa, nhỏ giọng hỏi:
“Đạo trưởng… ngài đang cười gì vậy?”
Huyền Chấn lập tức thu lại vẻ mặt, nghiêm trang đáp:
“Không có gì. Bần đạo vừa rồi bấm tay tính thử, thấy nhà ông hôm nay tuy hung khí chưa tan, nhưng trong họa có phúc, trong âm có dương, trong xui xẻo vẫn còn… khả năng thanh toán.”
Ông chủ Trương ngẩn ra.
“Khả năng thanh toán?”
“À không, là khả năng hóa giải.” Huyền Chấn bình thản sửa miệng, mặt không đỏ tim không đập. “Dẫn đường đi.”
Ông chủ Trương nào còn tâm trí bắt bẻ, vội vàng dẫn ông đi vào trong. Huyền Chấn ngoài chủ tiệm đồ cổ kì quái kia ra thì còn có nghề tay trái là bắt ma, giết quỷ kiếm cơm qua ngày.
Cửa hàng tạp hóa nhà họ Trương khá rộng, hai bên chất đầy kệ hàng, từ dầu ăn, nước mắm, mì gói, bánh kẹo đến giấy vệ sinh đều có đủ. Sau quầy thu ngân còn treo một xâu tỏi, một túi muối hột và mấy lá bùa đỏ đã nhăn nhúm, nhìn là biết chủ nhà gần đây bệnh quá hóa liều, thứ gì nghe nói trừ tà được đều đem treo lên.
Huyền Chấn vừa bước qua cửa đã nhíu mày. Không phải vì âm khí, mà vì nhìn thấy một thùng bánh quy nhập khẩu đặt ngay gần quầy. Ông liếc qua giá tiền, lại liếc qua Ông chủ Trương, sau đó tiện tay cầm lên một hộp, vẻ mặt rất tự nhiên như đang khảo sát phong thủy.
“Cái này để ở đây không tốt.”
Ông chủ Trương căng thẳng hỏi ngay:
“Sao vậy đạo trưởng? Có vấn đề gì à?”
“Có.” Huyền Chấn nghiêm túc gật đầu. “Đặt ở hướng này dễ tụ tán tài khí, khách tới nhìn thấy giá cao quá sẽ sinh tâm thoái lui, không lợi cho việc buôn bán. Để bần đạo đem về nghiên cứu một chút, xem có thể tìm ra cách hóa giải hay không.”
Cậu nhân viên ban nãy đứng sau quầy nghe vậy suýt nữa trợn trắng mắt.
“Chú muốn ăn thì nói đại đi…”
Huyền Chấn quay đầu nhìn cậu ta, ánh mắt sau cặp kính tròn lóe lên vẻ nguy hiểm.
“Tiểu tử, người trẻ tuổi nói chuyện phải tích đức. Bần đạo ăn một miếng là ăn sao? Đó gọi là lấy thân thử sát, lấy miệng nghiệm khí, thay chủ nhà phân ưu. Đạo lý sâu xa như vậy, ngươi không hiểu cũng phải.”
Cậu nhân viên há miệng, nhất thời không biết nên mắng lại thế nào. Ông chủ Trương vội vàng trừng mắt bảo cậu im miệng, rồi quay sang cười gượng với Huyền Chấn.
“Đạo trưởng thích thì cứ lấy, cứ lấy.”
“Không phải thích.” Huyền Chấn nhét hộp bánh vào túi đồ nghề, vẻ mặt chính trực đến mức khiến người ta muốn đấm. “Là vì trừ tà.”
Nói xong, ông lại thuận tay lấy thêm một chai nước ngọt đặt cạnh đó.
“Cái này lạnh, âm khí nặng, cũng không nên để lại.”
Cậu nhân viên tức đến đỏ mặt:
“Chai đó để ở ngoài có lạnh đâu!”
Huyền Chấn nhíu mày nhìn cậu ta.
“Ngươi biết nhiều hay bần đạo biết nhiều?”
Cậu nhân viên nghẹn họng. Ông chủ Trương thì đã hoàn toàn không còn tâm trạng tiếc mấy món lặt vặt ấy nữa. Ông chỉ mong vị đạo trưởng này thật sự có bản lĩnh, đừng để trong nhà tiếp tục náo loạn. Mấy ngày nay, cả nhà ông bị dọa đến mức tinh thần sắp suy sụp. Ban đầu chỉ là tiếng động nhỏ trong kho, sau đó là bóng người thoáng qua trong gương, rồi đến nửa đêm có tiếng trẻ con khóc ở tầng hai. Đêm qua, vợ ông còn tận mắt nhìn thấy một đôi chân nhỏ dính bùn đứng ngoài cửa phòng ngủ, nhưng vừa bật đèn thì không thấy gì nữa, chỉ còn lại mấy dấu chân ướt kéo dài đến phòng chứa đồ.
Ông chủ Trương dẫn Huyền Chấn đi qua gian hàng phía trước, vào một cánh cửa nhỏ thông ra sân sau. Vừa bước khỏi khu bán hàng sáng đèn, không khí lập tức khác hẳn. Sân sau hẹp và sâu, hai bên tường cao phủ rêu đen do mưa lâu ngày, trên nền gạch còn đọng nước thành từng mảng. Cuối sân là căn nhà hai tầng nơi gia đình họ Trương sinh sống. Ban ngày mà rèm cửa vẫn kéo kín, nhìn từ bên ngoài vào có cảm giác u ám khó chịu.
Huyền Chấn đang cười cợt cũng dần im xuống. Ông đưa tay sờ chiếc chuông đồng nhỏ bên hông. Lúc này, chuông không vang, nhưng mặt chuông hơi lạnh. Lạnh âm âm, giống như vừa bị đặt trong nước giếng sâu.
Ông híp mắt nhìn về phía tầng hai.
Huyền Chấn bỗng dừng bước.
Ông chủ Trương thấy vậy thì tim cũng treo lên.
“Đạo trưởng… ngài thấy gì sao?”
Huyền Chấn không trả lời ngay. Ông đứng yên một lát, rồi bỗng quay sang hỏi:
“Nhà ông có những ai?”
Ông chủ Trương ngẩn người.
“Chỉ có tôi, vợ tôi và con gái tôi… năm nay đã hai mươi tuổi. Nhưng…chỉ là… chỉ là…”
Huyền Chấn nhìn phản ứng ấy, trong lòng đã hiểu bảy tám phần. Ông lại khôi phục vẻ cười híp mắt, nhưng nụ cười lần này không còn hoàn toàn nham nhở như ban nãy:
“Ông chủ Trương, bần đạo thu tiền thì đắt thật, nhưng làm việc vẫn có nguyên tắc. Muốn ta bắt ma, trước tiên phải nói thật. Nếu ông giấu một phần, lát nữa nó nhảy ra bóp cổ ai, bần đạo có thể chạy, còn ông thì chưa chắc.”
“Chỉ là nó bị ám chứ gì!” Tuy nhiên ngay sau đó Huyền Chấn thản nhiên nói tiếp với một vẻ đạo mạo.
Ông chủ Trương và cậu nhóc phụ việc kia nhìn nhau kinh ngạc, rồi nhìn lại ông:
“Có cái gì đâu mà ngạc nhiên vậy… Ông mời ta tới đây thì ta cũng phải làm tròn trách nhiệm của mình chứ. Giữa ban mày ban mặt mà lầu hai đóng cửa rèm buông kín, lại còn có âm khí tản mát kia thì đến chín phần là có người bị quấn thân rồi!”
Ông chủ Trương nuốt khan, mồ hôi lạnh rịn ra trên trán:
“Thực sự không giấu được đại thiên sư… quả thực là như vậy”
Huyền Chấn thở dài, vỗ vỗ vai ông ta, giọng điệu bỗng trở nên thân thiết lạ thường:
“Không sao ta hiểu mà. Cái gì khó nghe, khó nói, khó giải quyết, mới đúng là chuyên môn của bần đạo.”
Huyền Chấn gật gù, chắp tay sau lưng vào trong nhà. Cậu nhân viên ban nãy tò mò muốn theo lên xem, vừa nhấc chân được nửa bước đã bị ông quay đầu liếc một cái.
“Ngươi đi theo làm gì?”
Cậu ta hơi cứng cổ đáp:
“Tôi… tôi xem có cần phụ gì không.”
“Phụ?” Huyền Chấn cười hiền hòa. “Được thôi. Lát nữa nếu thật có thứ gì nhảy ra, ngươi đứng trước mặt bần đạo, giúp bần đạo hỏi nó ăn cơm chưa.”
Cậu nhân viên lập có chút hoang mang trong ánh mắt nhưng có vẻ sự tò mò giết chết con mèo. Cậu ta vẫn đi theo.
Ông Chủ Trương cười trừ nói:
“Thầy đừng để ý… nó dù sao cũng phụ việc trong nhà tôi đã lâu nên rất hiểu chuyện. Cứ để nó theo có người sai đông sai tây cũng được.”
Huyền Chấn không nói gì nữa, mặc kệ họ, lòng ông lại mong chút nữa có gì hù cho hắn sợ thì vừa lòng hả dạ. Cầu thang gỗ nhà họ Trương được lau chùi sạch sẽ, nhưng không biết vì sao, mỗi bước chân đạp lên đều phát ra tiếng kẽo kẹt rất nặng, giống như dưới mỗi bậc gỗ đều giấu một hơi thở lạnh. Trên vách tường treo ảnh gia đình. Trong ảnh, ông Trương đứng bên cạnh vợ, phía trước là một thiếu nữ trẻ tuổi chừng hai mươi, mặt mày sáng sủa, dáng vẻ thanh tú. Có lẽ đó chính là con gái ông ta.
Huyền Chấn dừng lại trước bức ảnh kia, nhìn thêm một lát. Trong ảnh, cô gái cười rất tươi, nhưng không hiểu vì sao, nơi khóe mắt lại như bị một tầng bóng mờ phủ xuống. Ông đưa tay vuốt nhẹ ria mép cá trê, thấp giọng lẩm bẩm:
“Không phải oán linh vô chủ… là có người tìm đúng cửa mà tới.”
Ông chủ Trương đi sau nghe vậy, lưng lập tức lạnh toát:
“Đạo trưởng, ngài nói gì?”
“Không có gì.” Huyền Chấn quay đầu, vẻ mặt lại trở nên rất bình tĩnh. “Ta nói ảnh chụp này treo không đúng hướng, dễ phạm đào hoa sát.”
Ông chủ Trương khựng lại:
“Đào… đào hoa sát?!”
Huyền Chấn nhìn ông ta cười híp mắt:
“Thì… đàn ông trung niên mà phạm thứ này, nhẹ thì hao tài, nặng thì tổn đức, nghiêm trọng hơn nữa thì nghiệp phong quấn thân, con cháu gánh nợ.”
Mặt Ông chủ Trương thoáng cái trắng bệch. Huyền Chấn nhìn sắc mặt ấy, trong lòng đã hiểu thêm vài phần, nhưng ngoài miệng lại không nói gì, chỉ tiếp tục đi lên lầu. Một luồng khí lạnh đột nhiên thổi tới.
Huyền Chấn nhướng mày một cái, lẩm bẩm trong miệng:
“Gấp gáp gì chứ… ta đến với ngươi đây!”

💬 Bình luận