Ánh bình minh đầu ngày rọi những tia nắng vàng ấm áp xuống rặng Hoàng Liên Sơn, xua tan dần màn sương mù xám xịt dày đặc đã bao phủ khắp núi non suốt những ngày giông bão.
Trên mỏm đá pháp đài tự nhiên cheo leo nơi vách đèo Ô Quy Hồ, lớp băng tuyết đóng tảng ngàn năm bắt đầu rạn nứt dưới hơi ấm ban mai, tan chảy thành từng dòng nước trong vắt róc rách luồn qua các kẽ nứt đá tai mèo lởm chởm, đổ xuôi xuống vực thẳm sâu muôn trượng. Không khí trên đỉnh non cao lúc này không còn mùi khét lẹt nồng nặc của lưu huỳnh và lôi hỏa hôm qua, mà thoang thoảng mùi nhựa thông non tươi mát, mùi đất ẩm sau mưa và hương thơm thảo mộc dịu ngọt — thứ dư ba thuần khiết, thanh tân lắng đọng lại sau trận lôi kiếp long trời lở đất vừa chấm dứt. Lý Quân đứng sừng sững trên mỏm đá nhô ra giữa khoảng không mênh mông, vạt áo chàm màu chàm đượm sương gió bay phần phật trong làn gió núi lồng lộng.
Hắn khẽ mở mắt sau một đêm đả tọa củng cố kinh mạch. Trong đôi mắt đen sâu thẳm như đáy đầm nước mùa thu của hắn, một quầng sáng màu đồng thau ấm áp lóe lên trong chớp mắt rồi từ từ lặn sâu vào đáy mắt, trả lại vẻ trầm mặc, điềm đạm khôn cùng.
Hơn bốn mươi năm trước, khi rời Bến Vạn trôi dạt theo dòng nước lũ cuồn cuộn đỏ ngầu phù sa của sông Mã, hắn chỉ là một đứa trẻ mười tuổi ngơ ngác bán mình cứu cha, gầy gò ốm yếu, mang trong lòng nỗi đau tột cùng của kiếp bần nông nghèo hèn bị đám cường hào ác bá và tu sĩ tiên môn coi rẻ như rơm rác. Giờ đây, trải qua hơn bốn thập kỷ sinh tử lột da róc thịt, nếm trải đủ đắng cay ngọt bùi nơi đáy biển sâu thẳm cho tới non cao tuyết phủ, với dung mạo vẫn giữ nguyên ở độ tuổi hai mươi tám dạn dày sương gió nhờ đạo cơ Kim Đan viên mãn, hắn đã vững vàng bước lên Kim Đan đại đạo, thọ nguyên tám trăm năm. Nhờ Bách Đúc Thể Phách và chân nguyên Cửu Vân Kim Đan thoát thai hoán cốt, vóc dáng hắn cao lớn, vạm vỡ như một cây tùng đá cắm rễ sâu vào lòng vách núi non cõi Nam. Lớp da đồng hun của Bách Đúc Thể Phách sau khi được tái sinh dưới nhát búa thứ chín của Tử Tiêu Thần Lôi trở nên mịn màng nhưng dẻo dai phi thường, từng đường gân thớ thịt cuồn cuộn ẩn chứa sức bật kinh hồn. Khuôn mặt chữ điền gân guốc toát lên vẻ kiên nghị, góc cạnh dạn dày sương gió. Ánh mắt hắn không còn vẻ bồng bột của thuở thiếu thời, mà mang chiều sâu tĩnh lặng của một bậc tông sư đã nếm trải giông bão sinh tử, thấu hiểu quy luật vô thường của cõi trần ai.
Hắn ngồi xếp bằng xuống phiến hắc huyền thạch nhẵn thín, nhắm mắt tiến vào trạng thái nội thị. Trong đan điền mênh mông như biển cả của hắn, hạt Cửu Vân Ngũ Hành Kim Đan tròn xoe óng ả to bằng quả nhãn lồng đang chầm chậm xoay tròn giữa không trung khí hải.
Khác hẳn với những viên Kim Đan bình thường của các tu sĩ phương Bắc vốn chỉ mang một đơn sắc kim quang hoặc hàn băng sắc lạnh, viên Kim Đan của Lý Quân ánh lên sắc vàng thau cổ kính của đồng đen thượng cổ. Trên bề mặt viên đan nhẵn bóng không một vết tì vết, chín đạo đan vân uốn lượn hình mây nước và đàn chim Lạc bay lượn hiện lên rõ mồn một; đặc biệt nhất là đạo vân thứ chín ở chính giữa, khắc họa trọn vẹn hình Mặt Trời mười hai tia sáng rực rỡ của Trống Đồng Điềm Lạc.
Chín tầng Ngũ Hành Đạo Đài từng là chỗ dựa của hắn suốt những năm tháng Trúc Cơ nay đã tan chảy hoàn toàn, dung hợp làm một thể vào sâu bên trong hạt đan. Cứ mỗi vòng xoay của Kim Đan, từng luồng Kim Đan chân nguyên thuần dương lại được phun trào ra, sánh đặc như mật ong rừng ngàn năm, ấm áp cuộn chảy qua mười hai đường chính kinh đã được lôi kiếp khai mở rộng thênh thang. Chân nguyên đi tới đâu, huyết tủy và kinh mạch lại được gột rửa, bồi đắp thêm phần bền bỉ tới đó. Hắn chỉ cần khẽ động ý niệm, luồng sức mạnh dời non lấp biển lập tức dâng trào nơi đầu ngón tay, ngưng tụ thành từng hạt linh quang sáng rực, uy lực vượt xa gấp mười lần so với chân dịch dạng lỏng thời Trúc Cơ đỉnh phong!
Lý Quân thử phóng xuất thần thức Kim Đan ra ngoài không gian. Một làn sóng tinh thần vô hình vô tướng như tấm lưới trời êm ả trải rộng, không hề gây ra bất kỳ dao động gió máy nào, nhẹ nhàng quét qua rặng núi non trùng điệp của dãy Hoàng Liên Sơn. Trong chu vi mười lăm dặm chung quanh đèo Ô Quy Hồ, không có bất kỳ chuyển động nào lọt qua được sự cảm nhận sắc bén của hắn.
Hắn nghe thấy tiếng một chú chim khướu đá đang rỉa lông, vỗ cánh chuyền cành dưới tán cây mộc miên rực hoa đỏ nơi chân đèo; hắn nghe rõ tiếng dòng suối tuyết tan róc rách luồn qua kẽ đá cuội tròn vo dưới đáy khe sâu; hắn ngửi thấy mùi nhựa thông ngai ngái bốc lên từ những thân cây cổ thụ bị sét đánh gãy ngổn ngang từ trận bão tuyết năm trước; hắn cảm nhận được hơi thở phập phồng ấm áp của những con nhím rừng đang cuộn tròn sưởi nắng trong hốc đá tai mèo... Mọi sinh linh, cây cỏ, từng mạch nước ngầm chảy trong lòng hắc huyền thạch đều hiện lên rõ mồn một trong tâm trí hắn như thể được vẽ trên một bức tranh lụa trải rộng trước mặt.
Đặc biệt, sinh mệnh chi lực trong cơ thể hắn dồi dào, mãnh liệt như dòng thác cuộn mùa mưa lũ. Thọ nguyên tám trăm năm đem lại cho hắn một sự tĩnh tại kỳ lạ, như thể bản thân đã hòa làm một nhịp thở cùng giang sơn bờ cõi. Thế nhưng, Lý Quân không hề để sự hưng phấn của cảnh giới mới làm lay chuyển đạo tâm vốn đã được tôi rèn qua trăm đắng ngàn cay.
Hắn khẽ thở ra một làn hơi sương mỏng manh, bắt đầu vận chuyển bí thuật bế khí vi diệu của Cửu Lạc Luyện Khí Quyết. Hạt Kim Đan trong đan điền khẽ rung lên một tiếng trầm trầm, lập tức thu liễm toàn bộ hào quang ngũ sắc rực rỡ vào sâu bên trong tâm đan. Từng tầng chân nguyên hùng hậu được phong tỏa chặt chẽ, lớp uy áp ngập trời của một Kim Đan Chân Nhân vừa xuất thế từ từ lặn xuống đáy sâu khí hải, phẳng lặng như mặt gương không một gợn sóng nhỏ.
Khí tức tỏa ra bên ngoài cơ thể hắn tụt giảm nhanh chóng: Kim Đan sơ kỳ... Trúc Cơ tầng chín... Trúc Cơ tầng sáu... và cuối cùng dừng lại ở mức Trúc Cơ sơ kỳ bình phàm, chất phác. Đôi mắt sâu thẳm cũng thu lại toàn bộ thần quang chói lòa, trở về vẻ mộc mạc, hiền lành của một người thợ săn miền núi dãi dầu mưa nắng.
Ve sầu thoát xác, bần nông cẩn mật! Đó là bài học xương máu mà hắn luôn khắc ghi trong tâm khảm. Tu sĩ thế gian thường thích phô trương thanh thế, khoe khoang tu vi để nhận lấy sự sùng bái hão huyền, nhưng chính sự ngạo mạn ấy lại là lưỡi dao kề sát cổ họng dẫn đến họa diệt thân. Nơi đầu sóng ngọn gió, kẻ biết giấu mình dưới lớp áo rơm mới là kẻ có thể sống sót bước qua bão táp.
— Chít... chít... chít...
Dưới vạt áo chàm dày dặn trước ngực hắn, một cái đầu lông lá xám đen khẽ ngọ nguậy chui ra. Chuột Hắc Tí thò hai cái chân trước ngắn tũn bám chặt vào mép cổ áo, đôi mắt đen nhánh tròn xoe như hai hạt đỗ đen lúng liếng nhìn quanh quất. Nhận thấy bầu trời đã quang đãng, không còn tiếng sấm sét đinh tai nhức óc và sức ép nghiền nát hồn phách của ngày hôm qua, cái mũi hếch nhỏ xíu của nó khẽ giật giật, hít lấy hít để mùi thơm mát lành của sương sớm hòa lẫn hương đan khí dịu ngọt thoang thoảng toát ra từ da thịt chủ nhân.
Lý Quân khẽ mỉm cười. Hắn đưa ngón tay cái thô ráp vuốt ve chỏm lông mềm mại trên trán con chuột nhỏ, ôn tồn cất tiếng:
— Nhóc con, mấy mươi năm qua theo ta trốn nơi đỉnh gió hú này gặm rễ cây, chịu đói chịu rét, vất vả cho mày rồi. Giờ Kim Đan đã viên thành, chúng ta cũng nên xuống núi thôi.
Nghe tiếng chủ nhân, con chuột cống cõi phàm sông Mã dị biến mừng rỡ cọ cọ cái mũi ươn ướt vào lòng bàn tay hắn, phát ra những tiếng kêu ríu rít thỏa thuê. Lý Quân đứng dậy, kiểm tra lại toàn bộ trang bị mang theo bên mình.
Chiếc gùi mây cũ kỹ đan bằng nan cật rừng lim vẫn dẻo dai bền chắc sau bao năm tháng. Bên sườn gùi mây, hai khúc Cung Gỗ Lim tháo khớp bọc ngàm đồng thau được cài chặt chẽ dọc theo nan sườn — bảo vật gia truyền mà người thợ săn dạn dày sương gió vùng ải Chi Lăng đã tặng hắn tại căn lều bí thị rừng thiêng sau chuyến giao dịch linh dược cuối năm ấy; bên trong gùi là bó tên gỗ bồ đề vót nhọn bịt ngọn đồng thau, bình Dầu Tràm U Minh sóng sánh ánh đỏ dùng để phóng hỏa phá trận, và chiếc nón lá Lưu Ly khảm xà cừ lấp lánh vỏ điệp ngàn năm; thanh Long Văn Cổ Kiếm giắt ngang hông được tra gọn trong vỏ gỗ mộc quấn dây mây thô sơ; ba mảnh Trống Đồng Điềm Lạc, Hải Nhược và Cương Lôi được hắn xếp chồng ngay ngắn, áp chặt trước ngực dưới lớp áo chàm, liên tục tỏa ra hơi ấm dịu dàng bao bọc lấy tâm mạch.
Sau khi đã chỉnh đốn tề chỉnh, Lý Quân xoay người cất bước đi xuống con đường mòn phủ đầy băng tuyết men theo sườn đèo Ô Quy Hồ. Từng bước chân trần của hắn chạm nhẹ lên nền tuyết trắng xốp. Nhờ có Kim Đan chân nguyên vận chuyển nhẹ nhàng dưới huyệt Dũng Tuyền, thân hình hắn lướt êm tựa như một chiếc lá khô bay là là sát mặt đất. Tuyết dày dưới khoảng không tịch mịch hề bị lún xuống, không để lại dù chỉ một vết hằn nhỏ nhoi. Đạp tuyết vô thanh, thân hình người áo chàm lướt đi thoăn thoắt giữa làn sương mỏng của núi rừng Tây Bắc, nhanh tựa làn khói lam chiều bảng lảng trôi qua sườn non.
Vượt qua những khúc cua hiểm trở dốc đứng của vách đèo, khi độ cao hạ dần xuống vùng thung lũng Mường Than, không khí bắt đầu ấm áp trở lại. Mùi tuyết lạnh nhường chỗ cho mùi đất ải ẩm nồng của những tràn ruộng bậc thang sau mùa gặt, mùi lá mục ngai ngái của rừng nứa và mùi khói bếp bốc lên từ những nếp nhà sàn đơn sơ của đồng bào miền sơn cước nép mình bên chân núi. Dưới chân đèo có một quán trà cóc nhỏ dựng bằng tre nứa xiêu vẹo bên ngã ba đường mòn rậm rạp — nơi đặt một trạm liên lạc bí mật ngụy trang của mạng lưới quân báo cõi Nam mà Lý Quân từng lui tới trước khi lên đỉnh Ô Quy Hồ bế quan.
Thế nhưng, khi Lý Quân vừa bước tới gần rặng nứa tép rậm rạp quanh quán trà, bước chân hắn bỗng khựng lại. Không gian yên ắng lạ thường. Quán trà hoang vắng, chiếc chõng tre đổ nghiêng trên nền đất, vài chiếc bát sành vỡ vụn vương vãi cạnh đống tro bếp đã nguội tanh từ lâu. Trên thân cột tre còn in hằn vài vết chém sắc lẹm của đao kiếm, loang lổ những vệt máu đen khô khốc đã bốc mùi tử khí tanh nồng!
— Vút!
Đột nhiên, từ sâu trong màn sương mù mịt phía bìa rừng, một vệt sáng đỏ thẫm xé toạc không gian lao vút tới với tốc độ kinh hoàng! Đó là một đạo Huyết Lôi Truyền Âm Phù — loại phù triện tối khẩn cấp của nghĩa quân cõi Nam, chỉ được đốt lên bằng máu huyết của người truyền tin khi biên ải lâm vào cảnh nguy nan cận kề bờ vực diệt vong! Đạo phù rách nát tả tơi, góc phù cháy xém bốc khói đen kịt, linh quang chập chờn tựa ngọn đèn leo lét trước cơn bão lớn. Vừa cảm ứng được dao động chân khí quen thuộc trên người Lý Quân, đạo phù lập tức lao tới, lơ lửng ngay trước ngực hắn rồi tự bốc cháy thành một ngọn lửa màu huyết sắc rực rỡ!
Từ trong ngọn lửa phù triện, giọng nói nghẹn ngào, khản đặc, đứt quãng vì thương tích nặng nề của Hàn Bân Cơ vang lên, hòa lẫn trong tiếng gươm đao va chạm chát chúa, tiếng sấm nổ man rợ và tiếng gầm rú rợn người của bầy tà thú Ma Nhai:
"Lý huynh! Đệ tử Bân thị Hàn Bân Cơ xin truyền tin khẩn cấp... Bắc Cực Hàn Thiên Tông đã liên kết cùng ba mươi sáu động tà tu Ma Nhai, xua hơn một vạn thiết giáp chiến thuyền và tu sĩ phương Bắc vượt qua ranh giới non sông! Ải Nam Quan đã thất thủ sau ba ngày đêm huyết chiến... Đại quân giặc đang dồn toàn lực vây hãm ải Chi Lăng nhằm phá hủy mắt trận Phong Ấn Long Mạch non sông! Nghĩa quân cõi Nam cùng chiến sĩ triều đình đang tử chiến giành giật từng tấc đất bờ cõi... Đan dược cứu thương đã cạn kiệt, đồng đội thương vong vô số kể! Hàn mỗ cùng kiếm tu Thủy Phủ đang liều chết tử thủ cửa ải, nhưng nếu ải Chi Lăng vỡ, giặc sẽ xuôi dòng sông Cầu tràn thẳng về kinh thành Thăng Long... Tình thế nghìn cân treo sợi tóc! Nguyện lấy máu này giữ vững bờ cõi... Xin huynh bảo trọng!"
— BÙM!
Ngọn lửa phù triện nổ tung thành một cụm tro tàn màu xám trắng, rơi lả tả xuống lòng bàn tay Lý Quân. Mùi máu tươi tanh nồng và mùi hỏa tiêu cháy khét từ tro tàn xộc thẳng vào cánh mũi hắn, buốt nhói tựa như ngàn mũi kim châm thấu tận tâm can! Ánh mắt Lý Quân bỗng chốc ngưng đọng lại thành băng giá. Bàn tay hắn siết chặt lại, bóp nát vụn nắm tro tàn trong lòng bàn tay! Từng thớ cơ trên khuôn mặt chữ điền gân guốc giật mạnh. Máu trong huyết quản hắn như sôi trào lên cuồn cuộn tựa dòng sông Mã vào mùa lũ dữ! Ải Chi Lăng đang ngập trong biển máu!
Hàn Bân Cơ — người bằng hữu đồng cam cộng khổ từng sát cánh bên hắn qua bao trận tử chiến nơi biển sâu đầm lầy, người thanh niên lam y cương trực của gia tộc Bân thị — đang lấy chính tính mạng mình làm lá chắn ngăn chặn bước tiến hung tàn của quân thù để bảo vệ phong ấn long mạch cội nguồn! Và không chỉ có Hàn Bân Cơ! Những người thợ săn quả cảm từng sẻ chia củ sắn lùi và tặng hắn chiếc cung gỗ lim tháo khớp; những người lính thú áo vải cởi trần đóng khố; những bà mẹ nghèo ven sông ngày đêm nấu cháo nuôi quân... tất cả đều đang oằn mình chống chọi dưới móng vuốt tàn bạo của lũ giặc cướp nước phương Bắc!
Hơn ba mươi năm khổ hạnh nơi rừng thiêng nước độc, mấy mươi năm trui rèn nắm xương tàn dưới đáy bùn lầy và đỉnh núi tuyết, hắn tu luyện đến cảnh giới Kim Đan không phải để trốn chui trốn nhủi làm một kẻ trường sinh vô cảm, khoanh tay đứng nhìn non sông gấm vóc bị quân thù xéo nát! Bần nông thì sao? Xuất thân hèn mọn từ xóm vạn chài nghèo Bến Vạn thì sao? Một giọt máu trong người hắn vẫn là dòng máu quật cường của đất mẹ nguồn cội! Cả một đời lam lũ, hắn có thể cúi lưng chèo đò cào hến, lặn ngụp dưới đáy bùn lạnh buốt để kiếm miếng cơm manh áo phụng dưỡng mẹ cha, nhưng trước nanh vuốt của lũ giặc cướp nước coi mạng người như rơm rác, cái lưng này quyết không bao giờ biết cong, cái đầu này quyết không bao giờ biết cúi!
Dẫu có phải tan xương nát thịt nơi chiến trường khốc liệt, Lý Quân này cũng thà vùi thây làm nắm đất bùn bờ cõi nước Nam, quyết không bao giờ sống đời nhục nhã luồn cúi!
— KENG — !
Thanh Long Văn Cổ Kiếm giắt bên hông hắn bỗng nhiên tự rung lên bần bật trong bao gỗ mộc quấn dây mây! Tiếng kiếm minh sắc lẹm, trầm hùng vang dội tựa tiếng rồng ngâm dưới đáy vực sâu, như muốn phá tung vỏ bao để lao ra cắn xé quân thù! Ba mảnh Trống Đồng trước ngực hắn cũng đồng loạt rực sáng lên luồng hào quang màu đồng đỏ ấm nóng, hoa văn đàn chim Lạc tung cánh bay lượn cuộn trào khí thế hộ quốc an dân! Lý Quân ngửa mặt nhìn về phương đông nam — nơi chân trời xa xăm đang bị che phủ bởi những quầng mây đen vẩn đục mang theo mùi khói lửa ngút ngàn của chiến tranh xâm lược.
Đôi mắt hắn lạnh lẽo như băng tuyết ngàn năm trên đỉnh Fansipan, nhưng ẩn sâu bên trong đáy mắt là ngọn lửa cuồng nộ có thể thiêu rụi vạn dặm giang sơn của quân cướp nước.
Hắn gằn từng tiếng trầm thấp từ đáy họng, âm vang chấn động cả rừng nứa xào xạc:
— Chi Lăng.... Lý mỗ đã đúc xong Kim Đan. Nợ máu của non sông đất nước, hôm nay sẽ bắt lũ tà tu phương Bắc phải trả đủ bằng đầu rơi máu chảy!
Hắn cúi đầu nhìn chú chuột nhỏ đang run rẩy lo lắng thò đôi mắt đen láy ra từ mép cổ áo chàm:
— Hắc Tí, bám chắc lấy ta. Chúng ta ra trận!
Chuột Hắc Tí dường như cảm nhận được sát khí ngập trời toát ra từ người chủ nhân, lập tức rúc tọt vào sâu trong lớp vạt áo chàm dày dặn, hai chân trước móc chặt vào mép đai lưng vải thô, ngoan ngoãn nằm im không dám cựa quậy. Lý Quân đưa tay siết chặt quai gùi mây sau lưng. Hai khúc Cung Gỗ Lim tháo khớp cọ vào lưng hắn rắn rỏi, chiếc nón lá Lưu Ly kéo nghiêng che khuất nửa gương mặt phong trần. Hắn không hề ngự kiếm phi hành trên chín tầng mây để tránh lộ diện trước tai mắt trinh sát tầm xa của đại quân giặc. Thay vào đó, hắn vận dụng thân pháp kỳ ảo của Bách Đúc Thể Phách kết hợp chân nguyên Kim Đan thuần dương cuộn chảy dưới lòng bàn chân.
— VÚT!
Một tiếng xé gió sắc lẹm vang lên giữa đại ngàn u tịch! Thân hình người thanh niên áo chàm bỗng chốc mờ đi, hóa thành một vệt tàn ảnh màu xám tro lao vút xuống chân đèo Ô Quy Hồ. Hắn đạp trên những ngọn nứa non uốn cong mà lướt đi, vượt qua những ghềnh đá cheo leo như một con chim ưng săn mồi xé gió lao xuống đồng bằng, nhắm thẳng hướng ải Chi Lăng ngập tràn khói lửa mà xông tới!
Cuộc chiến tranh vệ quốc toàn diện của cõi Nam đã chính thức bùng nổ. Và một lưỡi kiếm Kim Đan sắc bén giấu kín trong manh áo chàm bần nông, đang mang theo ý chí bất khuất của non sông bờ cõi, lao thẳng vào giữa lòng giông bão!
THƠ KẾT CHƯƠNG:
Tuyết dứt Ô Quy rạng nắng cao,
Trùng trùng khói lửa dội ba đào.
Đao binh giặc dữ tràn biên ải,
Huyết hận quân thù rực mũi dao.
Áo vải vai mang tên nỏ sắc,
Lưng đèo bước nhẹ chí anh hào.
Non sông một gánh ngời tâm sáng,
Xuống núi nghênh phong dẹp sóng trào.