Ông lão lại tiếp tục:
- Nhưng cũng vì thế mà nhà họ Mạc ngày càng giàu. Ruộng đất bây giờ đã gần hai nghìn mẫu. Người ta thấy nhà họ giàu có thì sinh lòng đố kỵ. Đám đại hộ, phú ông quanh vùng ngày đêm tìm cách gây sự, lúc thì vu cáo, lúc thì kích động dân chúng tranh chấp ruộng đất. Chuyện hôm nay các cậu tận mắt thấy rồi đấy.
Nguyên Hy trầm ngâm giây lát, rồi hỏi:
- Vậy số ruộng bên làng An Viễn kia, thật sự là do triều đình ban cho quan Trạng năm xưa sao?
Ông lão lập tức đáp:
- Chuyện ấy là chắc chắn! Từ khi còn nhỏ, tôi đã nghe cha ông kể đi kể lại. Cách đây mấy chục năm, gia đình nhà họ Mạc đã canh tác trên ruộng ấy, khi đó chẳng có ai tranh giành cả. Những chuyện lộn xộn chỉ mới phát sinh mấy năm gần đây thôi.
Mấy người nông dân xung quanh cũng đồng thanh phụ họa:
- Đúng thế!
- Chúng tôi đều biết!
- Ruộng ấy nhà họ Mạc cày cấy mấy đời rồi!
Nguyên Hy quay sang nhìn Hoàng An và Lê Chí Thành. Cả ba đều hiểu rằng, vụ việc này tuyệt đối không đơn giản như lá đơn tố cáo đã viết.
Đúng lúc ấy, từ dưới bếp vang lên tiếng gọi lớn:
- Cỗ xong rồi! Mời các vị vào dùng cơm!
Chỉ thấy mấy người phụ nữ cùng bọn trẻ con bê từng mâm thức ăn bày lên phản gỗ. Có gà luộc vàng óng, cá kho riềng, canh cua đồng nấu rau đay, rau muống luộc chấm tương, cà muối, lại thêm mấy vò rượu nếp mới mở nắp, hương thơm ngào ngạt.
Mọi người vui vẻ ngồi quây quần thành từng mâm. Chủ khách nâng chén mời nhau, tiếng cười nói vang khắp gian nhà, làm tan đi phần nào bầu không khí nặng nề của buổi sáng.
Đến đầu giờ Mùi, sau khi dùng xong bữa cơm và trò chuyện thêm một hồi lâu, ba người Trần Nguyên Hy đứng dậy xin cáo từ. Những người nông dân trong làng Long Động đều bịn rịn tiễn chân. Đúng lúc ba người vừa bước ra đầu ngõ, thì từ xa bỗng có tiếng một người lớn tiếng hỏi han:
- Xin hỏi ba vị tiên sinh ở đâu?
Mọi người quay ra nhìn, thấy một thanh niên chừng hơn hai mươi tuổi đang rảo chân bước đến. Người ấy mặc áo vải màu xanh nhạt, đầu đội khăn vấn đen, dung mạo sáng sủa, thần sắc nhanh nhẹn nhưng không hề có vẻ kiêu căng của người nhà giàu.
Lê Chí Thành bước lên trước, chắp tay thưa:
- Xin hỏi huynh đài tìm ai?
Người thanh niên lập tức khom người thi lễ rất cung kính:
- Bẩm tiên sinh, tiểu nhân là gia nhân của Mạc gia. Chủ nhân của tiểu nhân là tam gia Mạc Thúy, nghe tin ba vị tiên sinh hôm nay đã ra tay cứu người ở bờ sông Lăng, trong lòng vô cùng kính phục, nên đặc biệt sai tiểu nhân đến cung thỉnh ba vị ghé tệ xá dùng trà đàm đạo.
Nghe vậy, ông lão chủ nhà lập tức vuốt râu cười:
- Ha ha! Quả nhiên là nhà cụ lớn Dao biết chuyện rồi. Các cậu khoá có điều chưa rõ, ông ba Thúy chính là công tử thứ ba của cụ lớn Dao đấy!
Lê Chí Thành làm ra vẻ ngạc nhiên:
- Vậy sao, thật là hân hạnh quá!
Ông lão gật đầu:
- Đúng vậy. Cụ lớn Dao năm nay đã ngót tám mươi tuổi, tuổi cao sức yếu, ngày thường rất ít tiếp khách. Chỉ khi nào là việc trọng đại của làng, của họ Mạc hay ngày tế lễ tổ tiên thì cụ mới ra ngoài. Ông cả Địch tính tình nghiêm nghị, không thích giao tiếp. Ông hai Thuấn quanh năm đi buôn bán xa. Bởi vậy chuyện tiếp khách trong ngoài phần lớn đều do ông ba Thúy lo liệu.
Ông ngừng một lát rồi hạ thấp giọng:
- Mà ông ba Thúy này là người tốt bụng, học rộng hiểu nhiều, đối đãi với dân làng rất tử tế. Các cậu đến đó cứ yên tâm.
Lê Chí Thành quay lại nhìn Trần Nguyên Hy và Hoàng An. Thấy hai người khẽ gật đầu, chàng mới chắp tay nói với mọi người:
- Ba anh em chúng tôi vốn là học trò xứ Đoài, từ lâu đã ngưỡng mộ đức hạnh của Lưỡng quốc trạng nguyên. Lần này tới Nam Sách cũng là muốn đến quê hương của ngài để bái phỏng. Nay được gia chủ hạ cố cho người tới mời, quả thật là điều may mắn lớn. Chúng tôi xin cảm tạ tấm lòng của bà con!
Đám nông dân đều cười xua tay:
- Có gì đâu!
- Các cậu cứu người làng chúng tôi, ấy mới là ân tình lớn!
- Nếu gặp cụ lớn Dao, nhớ thay chúng tôi vấn an cụ nhé!
Sau một hồi từ biệt, ba người liền theo gã gia nhân rời khỏi làng.
Con đường dẫn tới Mạc gia men theo một rặng nhãn cổ thụ kéo dài hơn nửa dặm. Mùa thu đến, từng chùm nhãn vàng óng sai trĩu cành, tỏa ra mùi hương ngọt dịu trong gió. Hai bên đường là những thửa ruộng lúa đang thì con gái, xanh mướt đến tận chân trời. Đi chừng một khắc, phía trước dần hiện ra một tòa đại trạch rộng lớn. Ba người Trần Nguyên Hy đều bất giác chậm bước.
Chỉ thấy khu trang viên ấy chiếm một vùng đất rất rộng, ước chừng phải đến năm mươi mẫu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên là xung quanh hoàn toàn không xây tường cao hào sâu như những gia đình quyền quý khác, mà chỉ dùng một hàng chè tàu lá nhỏ trồng ken dày làm phên dậu. Hàng chè được cắt tỉa ngay ngắn, cao chưa đến vai người, kéo dài quanh khu nhà như một bức tường xanh biếc.
Cổng chính làm bằng gỗ lim dày, nhưng không sơn son thếp vàng, cũng không treo biển đề tên hay khoe khoang gia thế. Trước cổng là hai khóm đại cúc vàng đã có tuổi đời nhiều năm, cành lá sum suê, hoa nở rực rỡ dưới nắng thu. Cả tòa trang viên to lớn mà lại toát ra một vẻ giản dị, trầm mặc, khiến người ta vừa nhìn đã sinh lòng kính trọng.
Trần Nguyên Hy khẽ nói:
- Nhà giàu mà không phô trương, quả nhiên không giống những đại hộ bình thường.
Hoàng An gật đầu:
- Chỉ riêng việc không xây tường cao ngăn cách với dân làng, thần đã thấy Mạc gia khác hẳn người thường rồi.
Từ ngoài cổng nhìn vào, có thể thấy một khoảng sân rộng lát gạch đỏ. Giữa sân mọc một cây hòe cổ thụ, thân to mấy người ôm, tán lá xanh um che mát cả một góc sân. Dưới gốc cây đặt vài bộ bàn ghế đá, mấy đứa trẻ mặc áo vải đang ngồi đọc sách ê a.
Gã gia nhân quay lại nói:
- Xin ba vị tiên sinh chờ một lát, tiểu nhân vào bẩm báo.
Nói rồi vội vàng chạy vào trong.
Không bao lâu sau, từ trong sân có tiếng bước chân thong thả vọng ra. Một người đàn ông chừng ba mươi lăm, ba mươi sáu tuổi xuất hiện.
Người ấy mặc áo lượt màu xám nhạt, bên hông không đeo ngọc bội quý giá hay vật trang sức nào. Dáng người cao vừa phải, phong thái ung dung tự tại. Khuôn mặt hơi dài nhưng thanh tú, đôi mắt tuy nhỏ nhưng sáng và có thần, dưới cằm để một chòm râu ngắn được chăm sóc cẩn thận.
Vừa nhìn thấy ba người Nguyên Hy, ông ta đã chủ động bước nhanh thêm mấy bước, chắp tay thi lễ thật sâu:
- Tại hạ là Mạc Thúy, con trai thứ ba của gia chủ. Sáng nay nghe hạ nhân báo rằng có ba vị tiên sinh đi qua vùng này, thấy chuyện bất bình đã không quản nguy hiểm cứu người. Tại hạ xưa nay vốn rất kính trọng những người nghĩa hiệp nên mạn phép mời ba tiên sinh quang lâm tệ xá. Nếu có điều gì đường đột, xin ba vị tiên sinh lượng thứ.
Lời nói ôn hòa, thái độ chân thành, hoàn toàn không có chút kiêu căng nào của con cháu thế gia vọng tộc. Lê Chí Thành vội vàng đáp lễ:
- Chúng tôi là học trò ở xứ Đoài, từ lâu đã ngưỡng mộ tài học và đức hạnh của Lưỡng quốc trạng nguyên. Lần này tới Nam Sách, trong lòng chỉ mong được đến bái phỏng quê hương của ngài. Nay lại được gia chủ tiếp đón, quả thật là vinh hạnh lớn.
Mạc Thúy nghe vậy, cười lớn:
- Ha ha! Cổ nhân có câu: “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”. Các vị đã bảo rằng từng ngưỡng mộ tiên tổ của chúng tôi, vậy đối với Mạc gia càng không phải khách ngoài. Xin mời ba vị tiên sinh vào trong!
Nói rồi, ông ta đích thân đi trước dẫn đường.
Bốn người đi qua khoảng sân rộng lát gạch Bát Tràng đã nhẵn bóng theo năm tháng. Dọc hai bên đường là những luống cúc, thược dược và mẫu đơn được chăm sóc rất tỉ mỉ. Xa xa còn có thể nhìn thấy từng dãy kho lẫm, chuồng ngựa, xưởng mộc và khu nhà dệt, tuy quy mô không lớn nhưng bố trí vô cùng ngăn nắp.
Điều khiến Trần Nguyên Hy chú ý nhất là tất cả gia nhân gặp Mạc Thúy đều dừng lại hành lễ, mà Mạc Thúy cũng luôn gật đầu đáp lại, thậm chí thỉnh thoảng còn hỏi han vài câu:
- Mẹ ngươi hôm nay đỡ bệnh chưa?
- Con trai ngươi tháng này đã đi học lại chưa?
- Vụ lúa ngoài đồng năm nay có thiếu người gặt không?
Những lời hỏi han ấy tự nhiên thốt ra như người thân trong gia đình, hoặc như bà con hàng xóm hỏi nhau, không hề ra cái vẻ trịch thượng của người trên hạ cố tới kẻ dưới, khiến Nguyên Hy và Hoàng An không khỏi nhìn nhau.
Đi qua sân chính, mọi người bước vào một tòa nhà ngang rộng lớn. Ngôi nhà lợp ngói ta đã ngả màu rêu phong, cột gỗ lim đen bóng vì thời gian, tường gạch cũng mang vẻ cổ kính. Tuy nhiên, vừa bước chân vào trong, cả ba người đều cảm thấy không khí lập tức mát dịu hẳn xuống. Cái nóng oi ả của buổi chiều mùa thu dường như bị ngăn lại bên ngoài.
Khách sảnh không bày biện vàng son hay đồ quý hiếm. Giữa nhà chỉ đặt một bộ phản lim lớn đã lên nước bóng loáng. Trên vách treo một bức hoành phi sơn son thếp vàng đề bốn chữ lớn:
“KHÁNH LƯU MIÊU DUỆ”(1)
[1]. “Điều tốt lành giữ lại cho đời sau”
Hai bên là hàng chục bức thư pháp, câu đối và tranh thủy mặc, nét bút mạnh mẽ mà thanh nhã. Trong phòng, ngoài những đồ vật thiết yếu còn đặt một giá sách lớn, chứa đầy kinh sử và các tập thi văn.
Nhìn khắp gian khách sảnh, Trần Nguyên Hy bất giác nghĩ thầm: “Đây không giống phủ đệ của một nhà giàu, mà giống một thư viện của bậc đại nho hơn.”
Bốn người đã vào cả trong phòng, Mạc Thuý liền đưa tay làm một thế mời, ôn tồn nói:
- Ba vị tiên sinh đường xa vất vả, xin mời an tọa dùng chén trà cho khuây khoả.
Nói đoạn, ông ta bước lên phản gỗ lim kê sát cửa sổ, khoanh chân ngồi xuống. Ba người Trần Nguyên Hy cũng theo lễ mà phân ngồi bốn góc, chủ khách đối diện nhau. Mạc Thuý quay đầu gọi lớn:
- Thằng Sửu đâu! Mau bảo con Nhu mang trà ra đãi khách!
Từ ngoài sân lập tức vang lên tiếng trẻ nhỏ lanh lảnh:
- Dạ, con đi ngay!