Đi được chừng hơn một dặm, bỗng thấy phía trước có một toán người hớt hải chạy tới. Từ xa đã nghe tiếng gọi:
- Chị cả! Chị cả!
- Bác ơi! Bác ơi!
Bọn Chí Thành đi đến gần, nhận ra chính là những người nông dân vừa bị đám gia đinh của phú ông Đường đánh đuổi ban nãy. Thấy người phụ nữ còn sống, cả đám người vừa mừng vừa sợ, lập tức ùa tới vây quanh.
Một người đàn ông ngoài bốn mươi tuổi, nước da đen sạm vì nắng gió, nắm chặt lấy tay bà, giọng run run:
- Chị ơi! Chị còn sống thật rồi! Em cứ tưởng...
Nói đến đây, ông ta nghẹn lời, quay mặt đi lau nước mắt.
Một bà lão khác cũng òa khóc:
- Lúc chạy sang bờ bên kia, chúng tôi điểm người mới biết thiếu cô. Ai nấy đều nghĩ cô bị chúng nó đánh chết rồi, nên lại kéo nhau quay sang tìm. Trời Phật phù hộ, may quá!
Người phụ nữ cũng xúc động rơi nước mắt. Bà nắm tay người thân, rồi chỉ vào ba người Nguyên Hy:
- Không phải trời Phật đâu. Là ba vị công tử đây đã cứu mạng tôi. Bọn ác nhân ném tôi xuống sông rồi, nếu không có vị đại ca này lặn xuống cứu, giờ tôi đã thành ma dưới đáy sông mất rồi!
Nghe vậy, tất cả những người nông dân đều ngẩn ra. Rồi không biết ai là người đầu tiên quỳ xuống. Ngay sau đó, hơn hai mươi người cùng quỳ rạp cả xuống đất.
Người đàn ông nắm tay người phụ nữ lúc nãy khóc mà nói:
- Chị gái tôi được các cậu cứu sống, chẳng khác nào được sinh ra lần thứ hai. Ơn này lớn hơn trời biển. Xin các cậu nhất định phải về làng cho chúng tôi được dập đầu tạ ơn!
Lê Chí Thành giật mình, vội vàng đỡ mọi người dậy:
- Không được! Không được! Chúng tôi chỉ tiện tay giúp đỡ mà thôi!
Hoàng An cũng nói:
- Các vị mau đứng lên, chúng tôi thực sự không dám nhận.
Nhưng đám nông dân nhất quyết không chịu. Một ông lão tóc bạc run run nói:
- Người quê chúng tôi nghèo, không có vàng bạc báo đáp, nhưng nếu không mời các vị về nhà uống bát nước, ăn bữa cơm, thì suốt đời này chúng tôi không yên lòng được.
Trần Nguyên Hy nhìn những khuôn mặt chân chất trước mắt, trong lòng chợt dâng lên một cảm giác khó tả. Chàng khẽ gật đầu:
- Nếu bà con đã có lòng như vậy, chúng tôi xin làm phiền một bữa.
Nghe thế, mọi người đều vui mừng khôn xiết.
Chẳng bao lâu sau, ba người được đưa về làng Long Động. Ngôi làng nằm nép mình dưới những rặng nhãn cổ thụ sum suê. Nhà cửa tuy không giàu sang, nhưng sạch sẽ, ngăn nắp. Trẻ con thấy người lạ thì tò mò chạy theo, còn người lớn thì nhiệt tình chào hỏi.
Cuối cùng, họ được dẫn vào một căn nhà gỗ năm gian khá rộng. Trước sân có cây thị lớn, dưới gốc đặt mấy chiếc cối đá dùng để giã gạo.
Vừa bước vào nhà, mấy người đàn ông đã nhanh nhẹn trải chiếu, kê phản, mời khách ngồi. Người thì têm trầu, người thì rót nước chè xanh mới nấu, không khí vô cùng náo nhiệt.
Ở dưới bếp, các bà, các chị cũng xắn tay áo, người vo gạo, người làm gà, người thái rau, tiếng dao thớt vang lên rộn ràng.
Một ông lão vừa bỏm bẻm nhai trầu vừa cười nói:
- Chúng tôi quê mùa, gọi là mở tiệc cảm tạ các cậu khóa nhưng cũng chỉ là ra vườn bắt con gà, xuống ao đánh con cá, mong các cậu không chê!
Lê Chí Thành xua tay:
- Chúng tôi là khách qua đường, đâu dám làm phiền bà con như thế.
Một người đàn ông trung niên cười lớn:
- Cậu cứu mạng chị gái tôi, mổ con gà có là gì!
Mọi người cùng bật cười.
Nhân lúc câu chuyện đang rôm rả, Lê Chí Thành mới giả vờ tò mò hỏi:
- Xin hỏi các bác, đám ác nhân ban nãy là người thế nào mà hung dữ đến vậy?
Nghe nhắc đến chuyện ấy, bầu không khí lập tức trầm xuống. Một người đàn ông lực lưỡng, trên cánh tay còn vết bầm do bị đánh khi sáng, nghiến răng đáp:
- Chúng lấy danh nghĩa là dân làng An Viễn, nhưng thực chất đều là gia đinh của phú ông Ngô Đường cả!
Ông ta nhổ phắt bã trầu xuống đất, nói tiếp:
- Còn thằng lùn béo đến sau ấy chính là con út của phú ông Đường, tên là Ngô Quý.
Một bà lão ngồi cạnh chen vào:
- Trời đánh thánh vật cái thằng ấy! Từ nhỏ nó đã độc ác rồi!
Người đàn ông kia gật đầu:
- Đúng thế. Nó được cha chiều chuộng quá mức, thành ra chẳng coi ai ra gì. Không học hành, không làm ăn, chỉ ngày ngày tụ tập một lũ vô lại, cưỡi ngựa dắt chó đi khắp nơi gây sự.
Một thanh niên khác tiếp lời:
- Ai trái ý nó, nó kéo người đến đánh cho thừa sống thiếu chết. Nhà nào có con gái đẹp, nó cũng tìm cách quấy phá. Có người chống lại, đêm hôm sau nhà đã bị đập phá tan hoang.
Ông lão nhai trầu ban nãy lắc đầu thở dài:
- Dân quanh vùng đều hận nó thấu xương, nhưng chẳng ai làm gì được. Bởi vậy người ta mới đặt cho nó cái biệt hiệu là "Rắn hổ mắt lươn".
Nghe đến đây, Trần Nguyên Hy khẽ nhướng mày:
- "Rắn hổ mắt lươn"?
Người đàn ông cười khổ:
- Vâng. Bởi nó vừa độc như rắn hổ, lại vừa có đôi mắt ti hí gian hiểm như mắt lươn.
Cả đám người đều gật đầu tán thành. Một người khác lại nói tiếp:
- Thật ra tháng trước, cụ lớn Dao đã sai người sang gặp phú ông Đường để hòa giải rồi. Cụ lớn bảo rằng chuyện ruộng đất còn chưa phân rõ thì cứ từ từ mà bàn bạc, tuyệt đối không được động tay động chân. Ai ngờ hôm nay thằng Ngô Quý lại kéo người đến đánh chúng tôi ra nông nỗi này.
Nói đến đây, người đàn ông kia siết chặt nắm tay, giọng đầy phẫn uất:
- Hôm nay nó dám đánh cả phụ nữ, người già, lại còn ném người xuống sông phi tang. Hành vi như thế, thật chẳng còn coi luật pháp triều đình ra gì nữa!
Trần Nguyên Hy nghe mọi người kể chuyện Ngô Quý, trong lòng càng thêm nghi hoặc. Chàng nâng bát nước chè xanh lên nhấp một ngụm, rồi làm ra vẻ vô tình hỏi:
- Chúng tôi là học trò ở nơi xa đến, kiến thức nông cạn, mạo muội xin hỏi các cụ, bác một điều. Tại sao lại xảy ra chuyện tranh chấp ruộng đất gay gắt như vậy? Chẳng lẽ giữa nhà họ Mạc và nhà phú ông Đường từ trước đã có thù oán gì sao?
Một ông lão râu tóc bạc phơ, nãy giờ chỉ ngồi lặng lẽ nhai trầu ở đầu phản, khẽ thở dài một tiếng. Ông đặt chiếc điếu xuống, nhìn ra khoảng sân ngập nắng thu rồi chậm rãi nói:
- Chuyện này muốn kể thì phải kể từ mấy chục năm trước, thậm chí từ đời ông nội của ông cả Địch cơ!
Nguyên Hy và Hoàng An lập tức chăm chú lắng nghe.
Ông lão hỏi lại:
- Các cậu là người đọc sách, hẳn biết đến ngài Lưỡng quốc trạng nguyên họ Mạc chứ?
Ba người đồng thanh đáp:
- Dạ thưa cụ, chúng cháu đều biết. Lần này tới Nam Sách, ngoài việc du ngoạn, cũng có ý muốn tới quê hương của quan Trạng để bái phỏng di tích và hậu nhân của ngài.
Nghe vậy, đám nông dân đều lộ vẻ vui mừng, ánh mắt nhìn ba người cũng thêm phần thân thiện.
Ông lão vuốt chòm râu bạc, giọng đầy tự hào:
- Nếu thế thì các cậu đến đúng nơi rồi. Làng Long Động chúng tôi tuy nghèo, nhưng có thể nói là được hưởng phúc đức của quan Trạng để lại mấy đời nay.
Ông ngừng lại một lát rồi kể tiếp:
- Xưa kia, quan Trạng Mạc Đĩnh Chi làm quan thanh liêm, tiếng tăm vang khắp thiên hạ. Về già cáo lão hồi hương, đức vua lúc ấy thương tài trọng đức, định ban cho ngài một nghìn mẫu ruộng tốt. Nhưng quan Trạng nhất quyết từ chối, nói rằng bản thân làm quan là để báo đáp xã tắc, không phải để cầu phú quý. Cuối cùng ngài chỉ nhận hai trăm mẫu ruộng để phụng dưỡng tổ tiên và giúp đỡ bà con trong họ.
Nghe đến đó, Lê Chí Thành không khỏi gật đầu:
- Khí tiết của bậc đại nho, quả nhiên không phải người thường có thể sánh được.
Ông lão cười, nói tiếp:
- Hai trăm mẫu ruộng ấy đều nằm ở bờ bên kia sông Lăng, thuộc địa phận làng An Viễn ngày nay. Chuyện này chẳng riêng gì dân Long Động biết, mà cả vùng Nam Sách ai cũng biết.
Một người đàn ông trung niên ngồi bên cạnh chen vào:
- Nhà tôi từ đời ông cố đã đi cấy thuê cho nhà quan Trạng rồi, chuyện ấy làm sao sai được!
Mọi người xung quanh đều gật gù phụ họa.
Ông lão lại kể:
- Sau này, con trai của quan Trạng là cụ lớn Dao cũng ra làm quan, từng giữ chức Viên ngoại lang, rồi Tư hình viện đại phu. Khi cụ cáo quan về quê, triều đình lại ban thưởng thêm năm trăm mẫu ruộng nữa để ghi nhận công lao.
Nói đến đây, ông khẽ thở dài:
- Nhưng đó vẫn chưa phải là nguyên nhân khiến nhà họ Mạc có nhiều ruộng như bây giờ.
Nguyên Hy liền hỏi:
- Xin cụ chỉ giáo.
Ông lão gật đầu:
- Các cậu còn trẻ nên không biết. Từ hơn mười năm trước, giặc Chiêm nhiều lần kéo ra quấy phá, dân các nơi chạy loạn tán loạn. Vùng Nam Sách chúng tôi cũng không ngoại lệ. Có những làng gần như bỏ hoang, ruộng đất không người canh tác. Sau khi loạn lạc qua đi, nhiều nhà chết hết, nhiều nhà phiêu tán tha phương không trở về nữa.
Giọng ông chùng xuống:
- Ruộng bỏ không thì cỏ mọc cao quá đầu người, nhìn mà xót ruột. Lúc ấy chính anh em cụ lớn Dao đứng ra xin quan huyện cho mua lại số ruộng hoang ấy, rồi chiêu tập dân nghèo chúng tôi, giao ruộng cho cày cấy. Nếu không có nhà họ Mạc, nhiều nhà trong làng chúng tôi e rằng đã chết đói từ lâu.
Một thanh niên khác nói thêm:
- Nhà tôi trước kia chỉ có ba sào ruộng. Năm mất mùa, cả nhà phải ăn rau dại cầm hơi. Sau được cụ lớn Dao cho nhận ruộng cấy thuê, mới sống nổi đến bây giờ.
Một bà lão tóc bạc phơ chống gậy cũng run run lên tiếng:
- Con trai tôi chết vì dịch bệnh, để lại ba đứa cháu nhỏ. Nhà cụ lớn không những cho ruộng cấy, mà năm nào giáp hạt còn phát thóc cứu đói. Ơn ấy, già này chết cũng không quên.
Trong gian nhà, không khí bỗng trở nên trầm lắng.
Trần Nguyên Hy lặng người.
Những điều chàng nghe được hôm nay hoàn toàn trái ngược với nội dung trong lá đơn kêu oan ở kinh thành.