Đến giữa giờ Thìn, mặt trời đã lên cao khỏi đỉnh núi, Tả tướng quân Bùi Bá Ngang mới dẫn đại quân truy kích đến chân núi Tụ Yết. Từ xa nhìn lại, chỉ thấy núi non trùng điệp, khe sâu vực thẳm nối liền nhau như răng sói cài kín mít, không một khoảng hở. Con đường duy nhất dẫn vào trong núi chỉ rộng hơn một trượng, ngoằn ngoèo giữa hai vách đá dựng đứng cao hàng chục trượng. Hai bên đường cây cổ thụ mọc um tùm, dây leo chằng chịt, dưới đất lại đầy những tảng đá lớn nhỏ ngổn ngang, xe chở lương thảo và khí giới đi tới đâu đều bị cản trở tới đó.
Bùi Bá Ngang ghìm cương ngựa đứng nhìn một lúc rồi cau mày nói với các tướng:
- Địa thế nơi này hiểm trở như thế, bọn giặc lại chiếm trước rồi thì thật khó đánh.
Lữ đoàn trưởng Lý Long Giang hăng hái thưa:
- Tướng quân chớ lo. Bọn giặc vừa mới chạy tới đây chưa được nửa ngày, lấy đâu ra thời gian xây dựng phòng bị? Chỉ cần thúc quân tiến nhanh, bắt được Nguyễn Bồ thì đại công thuộc về tướng quân rồi!
Bùi Bá Ngang nghe vậy cũng thấy có lý, liền truyền lệnh:
- Toàn quân tiến lên! Kẻ nào bắt sống được Nguyễn Bồ, thưởng ngàn quan tiền! Chém được đầu giặc, thưởng ba trăm quan!
Quân sĩ nghe có trọng thưởng đều hò reo vang dội, tranh nhau tiến vào khe núi. Thế nhưng đường núi quá hẹp, người ngựa chen chúc, trước không tiến được, sau cũng chẳng lùi được. Kẻ thì bị đá chắn đường, người thì bị dây leo quấn chân. Có tên lính vác giáo trượt chân lăn xuống khe, kéo theo mấy người khác ngã nhào thành một đống. Tiếng quát tháo, tiếng ngựa hí, tiếng bánh xe gỗ va vào đá vang lên hỗn loạn khắp núi rừng.
Đúng lúc ấy, từ trên đỉnh núi phía trước bỗng vang lên một hồi tù và trầm đục:
U... u... u...
Âm thanh vọng qua vách đá nghe như tiếng quỷ khóc vong gào, khiến ai nấy đều giật mình ngẩng đầu nhìn lên.
Chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra thì hai bên vách núi đồng loạt nổi lên tiếng hò hét như sấm động.
- Giết! Giết sạch quan quân!
- Quăng đá xuống!
Từ hai bên vách đá, hàng trăm tên cướp đồng loạt xuất hiện. Tức thì vô số đá tảng, gỗ lớn cùng tên nhọn từ trên cao ào ào đổ xuống như mưa bão. Chỉ nghe tiếng kêu thảm thiết liên tiếp vang lên. Quan quân triều đình kẻ bị đá rơi đập nát sọ, người gặp khúc gỗ lớn lăn trúng, cả người lẫn ngựa cùng rơi xuống vực. Trong khoảnh khắc, con đường độc đạo biến thành một cái cối xay thịt khổng lồ.
Tin dữ liên tiếp truyền xuống chân núi, Bùi Bá Ngang nổi giận quát:
- Có một lũ giặc cỏ, các ngươi sợ cái gì? Tiếp tục xung phong!
Lệnh vừa ban ra, từng tốp quân triều đình lại liều chết leo lên. Nhưng địa thế trên dưới cách biệt quá xa, quân triều đình muốn đánh cũng không với tới quân địch. Trái lại, bọn cướp chỉ việc đứng trên cao ném đá, bắn tên xuống. Quan quân tiến một trăm người thì ngã xuống một trăm người, tiến hai trăm người thì tổn thất hai trăm người. Máu nhuộm đỏ cả hẻm núi, xác chết chất chồng lên nhau tầng tầng lớp lớp.
Từ giờ Thìn cho tới tận quá trưa, hai bên giằng co không dứt. Quan quân hao tổn mấy trăm người mà vẫn không tiến thêm được quá vài chục bước. Bùi Bá Ngang sốt ruột đến tận nơi quan sát, lúc ấy mới hiểu rằng địa thế Tụ Yết quả thật hiểm trở phi thường, đành nghiến răng hạ lệnh lui quân ba dặm, chọn một vùng đất bằng phẳng hạ trại nghỉ ngơi, đồng thời sai khoái mã lập tức đi báo tin cho Nguyễn Thánh Du.
Trên núi Tụ Yết, Nguyễn Bồ cùng đám thủ hạ kiểm điểm binh mã. Sau mấy trận đại bại liên tiếp, dưới trướng hắn giờ đây chỉ còn ba đầu lĩnh là Tạ Thanh Lôi, Trần Lãng và Ngô Ngọc Trác. Hơn năm trăm lâu la còn sống sót kẻ nào cũng áo giáp rách nát, mặt mũi phờ phạc.
Nguyễn Bồ ngồi trên một tảng đá lớn, nhìn đám thuộc hạ tả tơi trước mặt mà lòng đau như cắt. Hắn nhớ tới Phùng Tứ Lang, Phạm Nam Sơn, Kiều Thắng, Trần Thế Hi, Dương Thu, Nguyễn Gia Hiền, Đặng Đồng cùng Tô Ninh và Chu Kỳ Sơn, những người từng cùng mình kết nghĩa dựng cờ khởi sự. Chỉ mới mười mấy ngày trước, bọn họ vẫn còn cùng nhau ngồi uống rượu luận chuyện bá vương dưới chân núi Đường Sơn. Vậy mà hôm nay âm dương đôi ngả, mộng lớn tan thành mây khói.
Nghĩ tới đó, Nguyễn Bồ không khỏi thở dài:
- Trời chẳng giúp ta rồi... Tưởng rằng có ngày vang danh thiên hạ, ai ngờ cuối cùng lại chôn chân ở đây, còn hại chết bao nhiêu huynh đệ! Biết đến lúc nào trở thành cá trên thớt, chim trong lồng chờ người ta mổ xẻ đây?
Tạ Thanh Lôi đứng bên cạnh bỗng bước tới chắp tay:
- Đại vương, xin theo thuộc hạ đi một chuyến.
Nguyễn Bồ ngẩng đầu hỏi:
- Đi đâu?
Thanh Lôi mỉm cười thần bí:
- Xin đại vương thứ tội. Việc này trước đây thuộc hạ và Chu Kỳ Sơn, Chu đại ca tự ý làm, chưa kịp bẩm báo. Nhưng hôm nay mới thấy, đó có lẽ là đường sống duy nhất của chúng ta.
Nguyễn Bồ lấy làm lạ, liền dẫn vài tên thân binh cưỡi ngựa đi theo Tạ Thanh Lôi. Đoàn người vượt qua một dãy núi thấp, men theo khe suối quanh co chừng hơn nửa canh giờ. Đột nhiên trước mắt hiện ra một cảnh tượng khiến Nguyễn Bồ sững sờ đến mức không nói nên lời.
Giữa hai vách núi cao vút như lưỡi kiếm, một tòa hùng quan sừng sững chắn ngang lối đi.
Tường quan hoàn toàn xây bằng đá xanh, cao hơn bốn trượng, dày đến vài thước. Trên mặt thành dựng vọng lâu, lỗ châu mai và ụ bắn tên san sát. Cờ xí phần phật tung bay trong gió núi. Chính giữa cổng quan treo một tấm biển lớn sơn đỏ chữ vàng, đề ba chữ uy nghiêm:
---"Bạch Hổ Quan"---
Nguyễn Bồ tròn mắt nhìn hồi lâu rồi quay sang hỏi:
- Đây... đây là nơi nào?
Tạ Thanh Lôi quỳ xuống đáp:
- Bẩm đại vương, đây chính là con đường sống mà Chu đại ca đã để lại cho chúng ta.
Nói rồi y đem toàn bộ câu chuyện xây dựng Bạch Hổ Quan suốt ba tháng qua kể lại một lượt:
- Dám mong đại vương tha tội, thời gian cách đây ba tháng, có một huynh đệ đến gặp Chu Kỳ Sơn đại ca, bàn rằng: Tuy bây giờ chúng ta đang cực thịnh, nhưng nếu triều đình cử đại binh đến, chúng ta chưa chắc đã chống lại được. Vì vậy phải tính toán đến một căn cứ để nếu thất bại sẽ lui về phòng thủ. Chu đại ca với tôi vốn là chỗ thân thiết, nên gọi tôi đến bàn bạc. Chúng tôi đã tìm được hẻm núi này là nơi địa thế vô cùng hiểm yếu, một người giữ ải có thể chặn được trăm người, bên trong lại có một vùng rộng lớn, có thể xây dựng nhà cửa, kho tàng, trú được hàng ngàn quân. Tuy vậy chúng tôi không dám tâu chuyện này lên đại vương và Tô nguyên soái, bởi lúc đó các huynh đệ sĩ khí đang lên cao lắm, nói ra sợ mọi người phật ý. Đành bảo nhau cắt cử hai trăm huynh đệ, đi bắt mấy trăm nam đinh trong vùng lên đây, ép họ phải chặt cây vác đá xây dựng cửa ải và doanh trại, đến bây giờ mới được như này!
Nguyễn Bồ nghe xong vừa kinh ngạc vừa cảm động. Hồi lâu hắn mới ngẩng đầu nhìn tòa hùng quan giữa núi sâu, trong đôi mắt vốn đã tuyệt vọng bỗng hiện lên một tia sáng mới. Hắn vội vàng bước tới nắm lấy cánh tay Tạ Thanh Lôi mà hỏi:
- Nếu quả thật có được một nơi như thế thì chính là trời còn thương chúng ta. Mau nói cho ta biết, bên trong ải này hiện nay có bao nhiêu người? Lương thảo, khí giới thế nào? Địa thế ra sao?
Tạ Thanh Lôi chắp tay đáp:
- Bẩm đại vương, lúc trước trong ải có hơn hai trăm huynh đệ. Nhưng khi tham chiến với quan quân triều đình, chúng tôi đã điều một trăm huynh đệ xuống núi tham chiến, cho nên hiện giờ trong Bạch Hổ Quan chỉ còn hơn một trăm huynh đệ tinh nhuệ cùng gần ba trăm dân phu. Lương thực tích trữ đủ cho hơn ngàn người dùng trong một tháng. Khí giới tuy chưa nhiều nhưng xung quanh đều là rừng già, tre gỗ vô số, hoàn toàn có thể chế tạo thêm. Quan trọng hơn cả là địa thế nơi này hiểm yếu dị thường. Phía trước chỉ có một con đường độc đạo xuyên qua khe núi, hai bên đều là vách đá dựng đứng. Sau cửa ải lại có một vùng đất bằng rộng hơn ngàn mẫu đã được san phẳng, đủ sức dựng doanh trại cho mấy ngàn người. Phía sau có rừng sâu che chở, lại có suối ngầm quanh năm không cạn. Nếu cố thủ ở đây, dù mười ngàn quân triều đình kéo tới cũng chưa chắc dễ dàng công phá được.
Nguyễn Bồ nghe tới đó, ánh mắt dần sáng lên. Nỗi tuyệt vọng đè nặng trong lòng suốt mấy ngày qua dường như tan đi quá nửa. Hắn ngẩng đầu nhìn tòa Bạch Hổ Quan sừng sững giữa núi rừng, bất giác cười lớn:
- Trời không tuyệt đường người! Trời không tuyệt đường người!
Nói rồi lập tức truyền lệnh:
- Mau cho người đi gọi tất cả huynh đệ ngoài núi lập tức rút về Bạch Hổ Quan!
Trần Lãng và Ngô Ngọc Trác lĩnh mệnh, tức tốc sai quân xuống núi đi gọi người. Chẳng bao lâu sau, hơn năm trăm tên lâu la còn sống sót lũ lượt kéo vào cửa ải. Đám người ấy vốn vừa trải qua đại bại, ai nấy đều mang tâm trạng chờ chết. Thế nhưng khi nhìn thấy tường thành kiên cố, vọng lâu cao lớn cùng những dãy nhà cửa san sát bên trong, tất cả đều tròn mắt kinh ngạc.
Có kẻ không nhịn được reo lên:
- Trời ơi! Trong núi lại có nơi như thế này sao?
Người khác thì chạy khắp nơi xem xét rồi cười lớn:
- Chúng ta có chỗ sống rồi! Quan quân muốn đánh vào đây cũng phải lột một lớp da!
Chỉ trong chốc lát, bầu không khí ủ rũ sau trận thảm bại đã biến mất quá nửa. Tiếng cười nói vang lên khắp doanh trại mới dựng. Nguyễn Bồ thấy sĩ khí trở lại, trong lòng cũng vui mừng khôn xiết, lập tức truyền mở kho lương.
Ngay trong ngày hôm ấy, hơn mười con lợn béo cùng mấy con bò lớn bị giết thịt. Từng vò rượu được mang ra xếp thành hàng dài trước sân. Hơn sáu trăm tên lâu la cùng dân phu tụ tập ăn uống, tiếng hò reo vang động cả thung lũng. Sau nhiều ngày chạy trốn, đây là lần đầu tiên bọn chúng được ăn một bữa no nê như vậy.
Trong lúc rượu quá ba tuần, Nguyễn Bồ nâng chén nhìn Tạ Thanh Lôi rồi trịnh trọng nói:
- Thanh Lôi! Lần này nếu không có Bạch Hổ Quan, e rằng toàn bộ huynh đệ chúng ta đã bị quan quân giết sạch ngoài núi. Công lao của ngươi và Chu Kỳ Sơn lớn hơn trời biển, bản vương nhất định không quên.
Tạ Thanh Lôi vội vàng đứng dậy hành lễ:
- Đại vương khen vậy, thuộc hạ sợ hãi không dám nhận. Kỳ thực người có công đầu không phải chúng tôi.
Nguyễn Bồ ngạc nhiên:
- Không phải các ngươi thì là ai?
Đám thủ hạ của Nguyễn Bồ cũng lấy làm ngạc nhiên lắm, đều quay ra nhìn Tạ Thanh Lôi.