🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Khai Thác AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Tập truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục
🔎 Tìm kiếm ⬇️ Tải app Android
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google
← Mật Đồ Máu

Q2·Ch.2: Tiếng Búa Ở Đồn Rèn

📖 Quyển 2: Dòng Suối Hoại Tử

~20 phút đọc · 3845 từ · · ⚠️ Báo cáo

Cát ướt ép vào má gã, lạnh và nhám. Mỗi lần sóng rút, một lớp hạt mịn chảy qua kẽ môi, để lại vị muối trên lưỡi. Gã nằm sấp. Gió cuối năm quất ngang bãi, lên gáy, lên lưng áo rách bươm, chỗ nào da trầy thì chỗ đó rát lên.

Tay phải gã vẫn quắp. Năm ngón co cứng quanh một cán đồng lạnh buốt, không duỗi ra được. Chiếc giản mẻ nát, cạnh đồng sứt từng mảng, rãnh khía máu dọc thân đã lèn đầy cát. Trên cán, một khúc rễ đước bẹp dúm nằm áp vào rãnh khía, buộc bằng một dải đay cứng lại vì máu khô. Mỗi lần sóng liếm lên tới cổ tay, sợi đay ngấm nước và siết thêm một chút vào da.

Gã biết thân mình qua từng chỗ đau. Vai trái sưng phồng, thâm đen, đè xuống cát là nhức buốt lên tận mang tai. Trên cánh tay phải, một đường rạch dài há miệng, mép thịt trắng bệch vì ngâm nước. Đùi phải, chỗ mũi tên từng ngập vào, nóng hầm hập, thịt quanh đó tím bầm, căng cứng mỗi khi gã nhích chân. Dưới mảng giáp mây nứt toác, sườn gã ê ẩm theo từng hơi thở. Ngón út tay trái quặt ngược về phía mu bàn tay; hạt cát nào lăn chạm vào nó, cả bàn tay gã giật lên một cái.

Mặt cát dưới má gã lún xuống. Một khoảng râm đè lên lưng, gió trên gáy đứt đi. Một bàn chân trần dừng lại cạnh mặt gã, gót nứt nẻ, kẽ ngón dính cát. Nó đứng đó một lúc, rồi lùi lại, quay đi. Cát rung lên dưới má gã theo từng bước bỏ đi, mỗi lúc một nhanh.

Khoảng râm trên lưng gã không đi theo.

Một bàn tay khác, nhỏ hơn nhiều, chạm vào cổ tay phải gã. Mấy ngón tay lạnh và gầy lần dọc khúc rễ đước trên cán giản, dừng lại ở một chỗ trên thân ống. Móng tay nhỏ cào vào đường khắc chìm, men theo một hình uốn khúc, hết vòng này sang vòng khác. Gã biết đường khắc ấy. Gã đã thấy nó trên mọi thứ đồ của một người đàn ông khác, suốt những đêm ngồi trên bè.

Bàn tay nhỏ rời đi. Cát bắn lên má gã, vạt áo ai đó bị giật căng. Một giọng đàn bà vọng xuống, khản đặc vì gió:

“Tép! Bỏ ra. Về đây.”

Không có bước chân nào chạy về. Mặt cát lại lún xuống, lần này là những bước chậm, đi ngược trở lại phía gã.

Gã mở mắt.

Ánh sáng xám xộc vào hai mắt, cay nước muối. Trước mặt gã là một đứa con gái ngồi xổm, tóc bết muối thành từng lọn, tay còn túm chặt vạt áo một người đàn bà đứng phía sau. Người đàn bà gầy, má hóp, tay xách giỏ cói lưng lửng cá biển.

Mắt gã trượt qua vai hai người, qua bãi cát, tới dãy lều chài thấp lè tè. Trước một cửa lều, một cây sào tre cắm nghiêng, trên sào xâu những vỏ ốc trắng đục, gió đẩy chúng va vào nhau.

Gã nhìn cây sào một lúc lâu. Rồi lòng bàn tay trái gã, nãy giờ bấu chặt xuống cát, từ từ nhả ra.

Người đàn bà không lùi. Bà nhìn cái ống trên cán giản, rồi nhìn mặt gã.

Cuống họng gã khô rát, muối đóng vảy trong vòm miệng. Gã nói, không nhấc đầu khỏi cát:

“Ba Hắc nằm lại Sào Khê rồi.”

Cái giỏ cói trong tay người đàn bà nghiêng đi, một con cá trượt ra, quẫy hai cái trên cát rồi nằm yên. Bà không cúi nhặt.

Con bé không khóc. Nó cúi sát mặt xuống cán giản, ghé mũi vào khúc rễ đước bẹp, ngửi một lần, rồi một lần nữa, lâu hơn, đầu mũi chạm vào chỗ máu khô trên dải đay.

Trong lều, gió lùa qua vách lá. Gã ngồi tựa cột, chân phải duỗi thẳng. Người mẹ giã một nắm lá, không nhìn gã, quỳ xuống đắp bã lá lên vết tên trên đùi gã. Bã lá lạnh và nhớt. Chỗ thịt bầm bên dưới giật lên một cái, rồi tê dần. Bà buộc một dải vải ngang đùi, rồi ra bếp.

Gã đặt chiếc giản ngang đùi trái, cầm con dao cạo vảy cá cưa dải đay cũ. Máu khô đã kết các sợi lại thành một khối cứng, lưỡi dao phải cưa đi cưa lại mới đứt. Khúc rễ đước rời khỏi cán đồng.

Chỗ bẹp nhất nằm giữa ống. Gã kẹp nó giữa ngón cái và ngón trỏ tay phải, nắn. Thớ gỗ ngấm nước biển đã mềm, nhích ra từng chút. Tay trái gã đỡ bên dưới, nhưng ngón út quặt ngược cứ vướng vào thân ống, chạm vào là cả bàn tay giật lại. Gã đổi sang đỡ bằng mu bàn tay, để ngón út chĩa ra ngoài, nắn tiếp từng đoạn.

Ở cửa lều, con bé ngồi bó gối. Nó vò một chiếc lá trong tay, đưa lên mũi ngửi, rồi cắn một mẩu, nhai chậm. Đầu ngón tay nó xanh sẫm nhựa lá.

Gã nẹp một thanh tre non dọc sống ống. Trong mo cau ở góc lều có một bánh sáp ong vàng sẫm, thứ nhà chài dùng chuốt dây câu cho khỏi xơ. Gã hơ một mẩu trên than, miết lên khớp gãy, sáp nhám và rít, bám vào da. Rồi gã rút một sợi đay mới từ cuộn lưới vá dở, quấn quanh ống, mỗi vòng kéo căng tới khi sợi đay hằn vào thịt ngón tay, thắt nút bằng răng.

Gã ngậm đầu ống vào miệng, thổi. Hơi đi qua thân gỗ, thoát ra đầu kia, phả vào lòng bàn tay gã, ấm và ẩm.

Gã chìa cái ống về phía bếp. Người mẹ đang ngồi xổm trước bếp, tay cầm que cời. Bà nhìn cái ống một lúc. Bà không đưa tay ra. Bà quay lưng lại, cúi xuống thổi vào đám than.

Gã rụt tay về, đặt cái ống lên cổ tay trái, lấy phần đay thừa quấn hai vòng quanh cổ tay, kéo chặt, cắn đứt sợi thừa.

Gã ở lại. Mùa gió bấc ấy, gã đắp một cái lò đất sau lều, khâu da trâu cũ thành bễ, nhặt sắt rỉ từ xác thuyền mục, gõ lưỡi câu, móc neo cho cả xóm. Người ta trả công bằng cá, bằng gạo, và gạo ấy vào bếp nhà Ba Hắc. Chiếc giản mẻ dựng ở góc lều, cạnh mái chèo cũ, cát bám kín rãnh khía. Con bé ngồi kéo bễ cho gã, mỗi mùa một cao hơn, lòng bàn tay nó chai dần ở chỗ nắm cán bễ.

Đầu năm Tân Tỵ, lính về bãi. Họ gọi từng người đàn ông ra, điểm tên. Gã nhét chiếc giản mẻ vào bọc đồ nghề, buộc ngang lưng, rồi chìa hai tay cho chúng trói. Con bé nhổ một vỏ ốc trên cây sào, buộc vào cổ tay, đi theo sau. Một tên lính quay lại vung roi; nó lùi mấy bước, đứng đợi, rồi lại đi. Tới quá trưa, không tên lính nào quay lại nữa. Vỏ ốc trên cổ tay nó lắc theo từng bước chân lún trong cát.


Đường đất ven sông Hoa Bộ lổn nhổn sỏi. Mỗi bước chân nện xuống, cú dội chạy ngược lên ống chân, lên hông, rồi dừng ở chỗ hai xương sườn gãy bên phải, buốt một nhịp. Nguyên Phong đi giữa toán lính bồi, hai cổ tay trụi da buông thõng. Trong tai gã có thứ gì đã thủng, máu khô trộn mủ bết cứng vành tai, và trong sọ chỉ còn một tiếng ù kéo dài, không lên không xuống.

Nắng chiều nhợt nhạt. Toán người đi xuôi theo bờ, con sông đục chảy chậm bên tay phải. Đi trước là chiếc xe lương của lính Đỗ Hành, bánh gỗ lăn nghiến trên đường đất, và mỗi lần bánh xe vấp ổ gà thì mặt đất dưới chân gã rung lên một đợt. Tới một khúc hẹp, toán người dồn lại, gã bị đẩy sát vào thành xe. Giữa đống bao gai chất cao, một báng nỏ có vết sứt và một cán thương thò ra, cán thương oằn theo nhịp xe lắc.

Phía sau gã vài bước, Nhiên đi khập khiễng. Gối phải cô bó trong nẹp mây, mỗi lần dồn lực xuống chân ấy, đầu gối cô khựng lại nửa nhịp. Hai bàn tay cô quấn vải áo trong, giữ sát trước ngực, cạnh chiếc khánh sừng trâu.

Bản Nùng hiện ra ở khúc sông lượn, mấy chục nóc nhà sàn nép dưới rặng tre. Một người đàn bà giã gạo dưới hiên, và khi toán người đi ngang, gã cảm được từng nhát chày qua gót chân, chậm, nặng, đều. Bà không dừng tay.

Ở đầu bản, sát bờ sông, đồn rèn dã chiến dựng dưới một mái lán tranh. Lò đất đỏ lửa, cùm sắt xếp thành chồng, đất nện quanh lán đen kịt bụi than.

Hai tên lính ấn gã ngồi phịch xuống cạnh lán, vai tì vào một cột gỗ xoan. Chỗ sườn gãy vặn đi, buốt tới mức gã phải nhắm mắt. Cách gã mấy bước, một tên lính đè Nhiên ngồi xuống, tra lại vòng xích vào cổ chân cô.

Qua đất nện dưới gót chân, nhịp chày giã gạo vẫn vọng tới từ xa, nặng, chậm. Rồi có một nhịp khác chen vào. Nó đi qua mặt đất, leo lên cột lán, chạy dọc sống lưng gã, rồi đọng lại ở xương hàm. Nhẹ hơn nhịp chày. Ngắn hơn. Hai nhát, ngưng, rồi hai nhát.

cộc... cộc

Không phải quai búa tạ đập phôi. Đó là búa nhỏ gõ nắn mắt xích, từng nhát một, ngưng lại cho người cầm búa ngắm, rồi gõ tiếp. Gã đã ngồi cạnh nhịp ấy suốt những đêm trên bè, khi nước ngầm chảy dưới ván và một người đàn ông ngồi gõ mãi vào một sợi xích chẳng cần gõ.

Gã mở mắt, ngẩng lên.

Giữa đám tàn lửa bắn ra từ miệng lò, một người đàn ông cúi trên đe. Tay phải người ấy cầm cây búa nhỏ mỏ chim, gõ nắn cái chốt trên một bộ cùm sắt đặt trên đe. Trên cổ tay trái quấn một khúc rễ đước, đay bọc kín, sáp đóng vàng sẫm ở các khớp. Ngón út bàn tay trái cong vẹo, chĩa ra một góc riêng, không co theo bốn ngón kia. Ống quần bên phải rách toạc một mảng, lộ ra trên đùi một vết sẹo tròn, thịt rúm lại, thâm sẫm.

Gã nhìn cái gáy to bè cúi trên đe. Lưỡi gã cứng lại sau hàm răng.

Cạnh lò, một đứa con gái mồ hôi nhễ nhại kéo cái bễ da trâu, hai tay nắm cán bễ, cả người ngả ra sau rồi dồn tới trước. Mỗi lần nó kéo, một vỏ ốc trắng buộc trên cổ tay đập vào mu bàn tay nó. Lửa trong lò bùng lên theo nhịp đó.

Bên kia đe, một thằng con trai ngồi xếp bằng trước đống sắt vụn, dỏng cao, hai cánh tay dài nhưng chưa dày cơ, trên mu bàn tay trái một vệt bỏng lò đã lên da non, bóng và hồng. Một tên lính đi ngang, hất mũi giày vào đống sắt, môi mấp máy mấy chữ gã đọc được: “Xỉ, mau tay lên.” Thằng Xỉ không ngẩng đầu. Cậu ta bới đống sắt, nhặt lên một mẩu đinh, đặt ngón cái lên uốn thử, rồi thả vào cái túi vải buộc ngang hông. Túi vải nảy lên một cái, gã không cảm được gì.

Một bà cụ Nùng còng lưng đi từ phía nhà sàn ra, ôm trước bụng một cái rổ tre đầy khoai luộc còn bốc hơi. Bà đi thẳng tới đe, nhặt hai củ to nhất đặt lên mặt đe cạnh bộ cùm, rồi mới quay sang phát cho lính bồi mỗi người một củ. Củ khoai rơi vào lòng bàn tay gã, ấm, vỏ nứt. Bên đe, Lôi Chấn đặt búa xuống, cầm củ khoai lên, bẻ đôi, ăn. Lôi Chấn ăn không ngẩng lên, mắt không rời bộ cùm. Mấy đứa trẻ con thò đầu từ sau cột lán, mắt dán vào miệng lò, mỗi lần bễ thở là chúng rụt cổ lại.

Ăn xong, Lôi Chấn phủi tay vào ống quần, cầm búa lên. Nhịp búa lại đi qua đất, qua cột lán, lên tới xương hàm gã.


Gã chống tay xuống đất, đứng dậy. Hai xương sườn gãy giật cả nửa người bên phải, đầu gã chao đi, mặt đất nghiêng sang một bên. Gã bám vào cột lán cho khỏi ngã, và há miệng.

“Lôi Chấn!”

Gã không nghe được giọng mình. Nó chỉ dội ngược vào trong, vang trong xương hàm, trong vòm sọ, khàn đặc và rè.

Nhịp rung dưới gót chân gã tắt.

Bên đe, Lôi Chấn ngẩng lên. Cây búa nhỏ dừng lơ lửng trên cái chốt cùm. Ánh lò hắt lên nửa khuôn mặt sạm khói, râu lởm chởm, mắt nheo lại, dừng trên mặt gã. Môi Lôi Chấn mấp máy, gã đọc được:

“Phong.”

Lôi Chấn không đặt búa xuống, không bước ra khỏi đe.

Sau lưng gã, Nhiên đứng dậy. Khớp gối phải của cô kêu khục, cả người cô khựng lại một nhịp. Hai bàn tay quấn vải siết thành nắm. Vải ép vào những chỗ da rách bên dưới, cô hít vào qua kẽ răng, ngắn, một lần. Cô không nói. Sợi xích ở cổ chân cô căng ra rồi chùng xuống.

Đứa con gái buông cán bễ. Lửa lò xẹp xuống.

Ở mép lán, một tên lính giám sát cầm cuốn sổ tre nhìn từ gã sang Lôi Chấn, rồi nhìn lại gã. Tên lính gập sổ, quay đầu bỏ đi về phía đầu bản, bước dài. Ngồi cạnh đe, Xỉ không bới sắt nữa. Cậu ta ngồi yên, mẩu đinh trong tay, mắt đi từ Lôi Chấn sang gã, sang Nhiên.

Không ai nói thêm gì. Lôi Chấn cúi xuống, gõ tiếp. Nhịp búa trở lại dưới gót chân gã, thưa hơn, mỗi lần ngưng một lúc lâu hơn.

Bóng nắng trượt dần khỏi mái lán. Đất nện ngả sang màu tro.

Tên lính cầm sổ quay lại, theo sau là một lính truyền lệnh, tay giơ một tấm lệnh bài. Tấm bài gỗ dài, đầu tròn, sơn đen, khắc chữ chìm. Gã không đọc được những chữ ấy. Nhưng chữ to nhất thì gã đã thấy hình nó một lần, thêu trên lá cờ đuôi nheo sau lưng viên đội trưởng ở đầm lầy.

Người lính truyền lệnh đứng trước đe, nói. Gã nhìn môi người ấy. Phần lớn trôi qua mất, chỉ còn vài mảnh gã bắt được:

“…lệnh Đại tướng…”

Tay người lính giơ lên, chỉ Lôi Chấn. Chỉ đứa con gái bên bễ. Chỉ Xỉ và mấy đứa tạp dịch đang ngồi quanh đống sắt. Rồi bàn tay ấy hất mạnh một cái về phía đông nam, về phía con sông chảy xuống.

“…đêm nay.”

Hai tên lính bước tới, nắm vai con bé, kéo nó ra khỏi bễ, dẫn sang đứng riêng ở góc lán, cạnh một cây cọc. Một tên đứng ngay sau lưng nó. Con bé không giằng. Nó nhìn Lôi Chấn. Lôi Chấn nhìn cái chốt cùm trên đe.

Lính tản đi chuẩn bị xe. Lán rèn vắng hẳn, chỉ còn lửa lò thoi thóp đỏ.

Gã đã ngồi sụp lại bên cột lán, trong góc tối. Lôi Chấn đặt búa xuống, đi tới, cúi xuống, không nói, rút khúc cán búa khỏi hông gã.

Ngón cái Lôi Chấn lướt dọc thân gỗ nghiến, qua bốn vạch tang song song, cách đều nhau. Ngón cái dừng ở đầu gãy nhọn toác, nơi thớ gỗ tở ra từng sợi, nằm yên đó một lúc. Rồi lần ngược lại, dừng ở vạch thứ ba. Dừng ở vạch thứ tư. Ngón tay ấy ấn xuống đáy rãnh, miết một lần dọc theo vạch, rồi một lần nữa. Không ai nói tên ai.

Lôi Chấn kê nghiêng khúc cán lên cạnh đe, rút từ bọc đồ nghề ra một con dao gọt đã rỉ, đặt lưỡi dao lên vạch thứ hai, nạo. Gỗ nghiến cứng, lưỡi dao rít trên thớ gỗ, và gã cảm được nó qua mặt đe truyền xuống đất, một chuỗi rung lăn tăn, gắt. Phoi gỗ xoăn lại, bong ra từng sợi, rơi xuống đất nện. Lôi Chấn nạo thêm một nhát, rồi một nhát nữa, mỗi nhát lại thổi đi lớp mùn, nghiêng khúc cán ra ánh lửa nhìn, rồi nạo tiếp.

Vạch thứ hai mờ đi, nông dần, rồi lõm xuống thành một mặt gỗ phẳng. Nó nằm giữa vạch thứ nhất và vạch thứ ba, nhạt màu hơn phần gỗ quanh nó, thớ gỗ bên trong lộ ra trắng.

Trên khúc cán còn ba vạch tang và một khoảng gỗ phẳng ở giữa.

Lôi Chấn cúi sát mặt gã, một bàn tay túm sau gáy gã giữ chặt. Hơi thở phả vào má gã, nồng mùi khói than. Gã nhìn đôi môi ấy, cảm cái rung trong cuống họng người nói truyền qua cánh tay xuống gáy mình:

“Đoàn Thạch đục thừa rồi... Bớt một vạch chết, nhưng mày giữ khúc cán này cho kỹ... ít hôm nữa lại phải đục tên nó, hoặc tên mày vào đấy.”

Lôi Chấn ấn khúc cán vào tay gã, đứng thẳng dậy, quay về phía đe.

Ngón cái gã miết qua chỗ gỗ vừa nạo phẳng. Nó còn ấm, và xơ, những sợi gỗ nhỏ dựng lên vướng vào da tay.


Đêm xuống, sương từ sông bốc lên phủ trắng bãi đất trống ven bản, nơi lính tập kết xe. Bộ cùm mới ôm lấy hai cổ tay gã, sắt còn ấm hơi lò áp thẳng vào chỗ da trụi, và cổ tay phải, chỗ còn sưng vì vết ủng giẫm, buốt lên một nhát. Chốt gõ khít đến mức không xoay được nửa vòng. Một tên lính luồn sợi xích nối cùm qua càng chiếc xe kéo chở đồ nghề của đồn rèn, khóa lại, rồi bỏ đi. Gã ngồi bệt dưới đất, lưng tựa vào bánh xe, ván xe lạnh và đẫm sương.

Ở cây cọc bên cạnh, Nhiên bị xích chân. Cô ngồi duỗi chân phải ra trước, nẹp mây trên gối trắng mờ một lớp sương.

Xỉ chất đồ lên xe. Gã cảm từng thứ qua ván xe sau lưng. Cái đe con đặt xuống, nặng, làm cả thùng xe lún một nhịp. Mấy cây búa thả vào, rung lên mấy lần ngắn. Những cuộn xích ném lên, rung thành từng đợt dài. Rồi sắt phế đổ xuống, rung vụn, rời rạc, hết đợt này tới đợt khác.

Rồi Xỉ ngừng tay. Cậu ta nhìn quanh bãi một lượt, lom khom rút từ dưới một tấm da bò ra một bọc vải dài, mở bọc.

Trong bọc là một cặp song giản đồng đặc. Màu đồng còn mới, vàng sẫm, chưa xỉn. Nhỏ hơn và mảnh hơn cặp giản gã nhớ. Dọc thân mỗi chiếc chạy một đường rãnh khía máu, sâu và đều, khía theo đúng một kiểu. Gã đã nhìn đường rãnh ấy nhiều đêm, trên cặp giản Lôi Chấn gác ngang đùi khi ngồi giữa bè, ánh đuốc đọng lại trong lòng rãnh.

Xỉ không nhìn gã. Cậu ta gói bọc vải lại, cúi vào lòng xe, gạt sắt phế sang hai bên, đặt bọc giản xuống tận đáy ván, rồi kéo mấy vòng xích lấp lên.

Lôi Chấn đi ngang qua đầu xe. Lôi Chấn dừng lại, nhìn chỗ xích vừa lấp. Rồi cúi nhặt một cuộn xích nặng trên đất, nhấc lên, quẳng đè lên đúng chỗ đó. Ván xe sau lưng gã dội lên một nhát nặng, rồi lún xuống.

Lôi Chấn quay sang Xỉ. Phong ngồi ngay dưới càng xe, đủ gần để thấy đôi môi ấy trong ánh đuốc:

“Tao dạy mày để mày sống sót, không phải vì mày xứng đáng.”

Xỉ gật một cái, ngắn. Cậu ta không hỏi lại.

Một tên lính cầm đuốc đi tới. Tên lính hơ đuốc vào lòng xe, lật vài vòng xích, rồi trở ngược cây giáo, chọc cán xuống đống sắt vụn, chọc thêm một lần ở chỗ khác. Đầu cán giáo vấp vào sắt phế, dừng lại. Tên lính nhìn một lúc, phẩy tay cho qua. Xỉ cúi xuống, nhặt một mẩu đinh cong dưới bánh xe, đặt ngón cái lên uốn thử, rồi thả vào túi.

Hai tên lính tới mở khóa xích nối cùm của gã, giật sợi xích ra khỏi càng xe. Mắt xích tuột khỏi càng gỗ. Chúng lôi gã sang cây cọc ngay cạnh chỗ Nhiên, quấn xích hai vòng, khóa lại. Gã ngồi bệt xuống cạnh cọc.

Con bò kéo nhấc chân. Xe lăn bánh. Lôi Chấn đi cạnh bánh xe, Xỉ và đám tạp dịch lẽo đẽo phía sau, lính cầm đuốc đi hai bên. Chiếc xe theo con đường đất ra khỏi bản, về hướng đông nam.

Qua đất nện, gã cảm nhịp bánh xe lăn, đều, nặng, mỗi vòng bánh một nhịp. Nhịp ấy thưa dần. Nhẹ dần. Gã phải ấn cả hai lòng bàn tay xuống đất mới còn bắt được nó. Rồi không còn gì dưới tay gã nữa.

Thứ cuối cùng gã thấy của chiếc xe, trước khi sương nuốt mất ánh đuốc, là vỏ ốc trắng trên cổ tay con bé. Nó ngồi trên đống sắt, vỏ ốc nghiêng theo từng cú xóc của xe.

Gã ngoái lại. Trong bản, một nhà sàn còn đỏ lửa bếp. Ánh lửa hắt qua kẽ vách nứa thành từng sọc, soi lên cái gác nan tre bên trên bếp, nơi những chùm mộc nhĩ hong khô đã quăn lại, giòn và đen bóng. Khói bốc lên qua kẽ nan, chui ra dưới mái gianh, rồi tan vào sương.


[Chú giải từ vựng Chương 06]

Bễ: Túi thổi gió vào lò rèn, thường khâu bằng da trâu, có cán để kéo đẩy lên xuống; mỗi nhịp kéo đẩy không khí qua ống vào lò, làm than đỏ rực lên.
Gỗ nghiến: Loại gỗ rừng núi phía bắc, thớ mịn và nặng, cứng đến mức lưỡi dao thường khó ăn vào; được dùng làm cán vũ khí, thớt và cột nhà.
Song giản: Cặp roi đồng đặc, không có lưỡi, thân thường khía rãnh; người dùng cầm mỗi tay một chiếc, đánh bằng sức nặng của khối kim loại.
Cùm: Dụng cụ khóa tay hoặc chân phạm nhân, làm bằng ván gỗ khoét lỗ hoặc vòng sắt, chốt lại bằng then sắt.
* Lệnh bài: Thẻ gỗ hoặc kim loại khắc chữ, do quan tướng cấp cho người truyền lệnh để làm tin; ai cầm lệnh bài là nói thay lời người trao.

💬 Bình luận (0)

📚 Truyện tương tự