Đạo tràng của Huyền Chân nằm sâu trong một vùng núi, xa đường lớn, và tôi hiểu vì sao chỉ sau này khi chính tôi cũng chọn một nơi hẻo lánh cho Tịnh Vân Đường. Sự cô lập về địa lý là bước đầu của sự cô lập trong tâm trí. Khi thế giới bên ngoài xa nửa ngày đường, nó cũng bắt đầu xa trong đầu bạn, và cái duy nhất còn gần, còn thật, là tiếng nói của người thầy.
Những tháng đầu ở đó là những tháng hạnh phúc nhất đời tôi tính đến khi ấy. Tôi cần bạn hiểu điều này, vì nếu không, bạn sẽ không hiểu vì sao tôi ở lại, và vì sao sau này nạn nhân của tôi cũng ở lại. Người ta cứ tưởng những nơi như thế phải đầy đọa ngay từ đầu, phải có xiềng xích, phải có sợ hãi. Không. Chúng bắt đầu bằng thiên đường. Chúng phải bắt đầu bằng thiên đường, nếu không sẽ chẳng ai bước vào.
Huyền Chân cho tôi mọi thứ tôi khát. Ông khen tôi trước cả đạo tràng, gọi tôi là đệ tử có căn cơ nhất ông từng gặp trong ba mươi năm. Ông dạy riêng tôi những buổi tối, rót vào tai tôi cảm giác rằng tôi được chọn, tôi khác thường, tôi mang một sứ mệnh. Cái đứa con trai bị cha gọi là tốn cơm, bây giờ được một bậc thầy nói rằng nó sinh ra để làm việc lớn. Bạn có hình dung được một liều thuốc như thế mạnh đến mức nào với một tâm hồn đói khát như tôi không? Tôi đã có thể chết vì ông. Và đó chính xác là điều ông muốn.
Nhưng thiên đường ấy có giá, và cái giá được nhắc tới từ từ, khéo đến mức tôi không thấy mình đang trả.
Đầu tiên là sự vâng lời. Ban đầu là những chuyện nhỏ và hợp lý: dậy sớm, lao động, giữ giới. Rồi lớn dần: cắt liên lạc với gia đình, vì gia đình là "trói buộc thế tục", "kéo con lùi lại". Tôi cắt dễ dàng, thậm chí sung sướng, vì gia đình với tôi vốn là vết thương. Ông đã khôn ngoan chọn đúng thứ tôi sẵn lòng bỏ. Rồi tới của cải, thời gian, thân xác, ý chí. Từng thứ một, tôi giao nộp, và mỗi lần giao nộp lại được ông khen là "buông xả", là "tiến bộ". Tôi càng mất, tôi càng được khen. Tôi càng được khen, tôi càng muốn mất nhiều hơn. Đó là cỗ máy. Về sau tôi lắp lại y hệt cỗ máy ấy ở Tịnh Vân Đường, không sai một con ốc.
Rồi tới phần mà tôi khó viết ra nhất.
Huyền Chân cũng có "pháp môn" của ông. Cũng có những đêm ở lại thiền đường sau khi mọi người đã ngủ. Cũng có thứ trà đắng làm đầu óc lâng lâng. Cũng có cái lý thuyết về vượt lên trên phân biệt sạch dơ, nam nữ, về thân xác chỉ là cái áo. Điều mà tôi đã làm với những người phụ nữ ở Tịnh Vân Đường, người ta đã làm với tôi, ở đạo tràng của Huyền Chân, khi tôi ngoài hai mươi.
Tôi sẽ không kể chi tiết, cũng như Quyển 1 không kể chi tiết. Không phải để né tránh. Mà vì tôi đã học được, muộn màng, rằng phẩm giá của một người, kể cả một người như tôi, không nằm ở việc phơi bày. Chỉ cần bạn biết rằng có những điều đã được làm với tôi, dưới danh nghĩa thiêng liêng, mà lẽ ra không ai được phép làm với ai. Và tôi, giống hệt Diệu sau này, đã được thuyết phục rằng tôi tự nguyện, rằng đây là ân sủng, rằng nếu tôi thấy khó chịu thì đó là "ma nghiệp nổi lên", là cái tôi phàm phu giãy giụa.
Đây là chỗ mà tôi cần dừng lại và nói cho rõ, vì đây là mấu chốt của cả quyển sách này. Khi tôi kể tới đoạn này, sẽ có người thở dài và nghĩ: tội nghiệp, ông ta cũng bị hại, thảo nào. Và một nửa trong tôi muốn bám lấy cái thở dài ấy, muốn trốn vào nó. Nhưng tôi đã tự hứa sẽ không làm thế.
Bởi vì đây là sự thật kép mà tôi phải mang: Việc tôi bị hại là thật. Và việc tôi sau đó chọn đi hại người khác cũng là thật. Cái thứ nhất không sinh ra cái thứ hai một cách tất yếu. Nó chỉ mở một con đường. Đi hay không đi con đường ấy, vẫn là tôi bước.
Tôi biết điều này chắc chắn, vì ở đạo tràng của Huyền Chân, tôi đã tận mắt thấy một con đường khác. Có một sư huynh, tên Đạo Minh, cũng bị Huyền Chân đối xử như tôi, có khi còn nặng hơn. Nhưng một ngày, Đạo Minh bỏ đi. Anh không bỏ đi trong im lặng. Trước khi đi, anh tìm tới tôi, nắm vai tôi, và nói những lời mà suốt ba mươi năm tôi đã cố chôn vùi: "Tường ơi, chỗ này không phải đạo. Đây là một cái bẫy đội lốt đạo. Ông ta không cứu ai cả, ông ta ăn người. Đi với anh. Còn kịp." Mắt anh lúc ấy sáng và thẳng, giống hệt mắt con bé tên Vy mà sau này tôi gặp thoáng qua ở Tịnh Vân Đường và đã ghét ngay lập tức mà không hiểu vì sao. Bây giờ thì tôi hiểu vì sao. Vì cái nhìn ấy nhắc tôi nhớ rằng tôi đã từng được chìa tay, và tôi đã gạt đi.
Tôi đã gạt tay Đạo Minh. Tôi còn tệ hơn thế. Tôi đi báo với Huyền Chân rằng sư huynh Đạo Minh đã "thối chí, khởi ma tâm, phản đạo". Tôi làm thế vì lúc ấy tôi tin đó là lòng trung thành, là bảo vệ chánh pháp. Nhưng dưới cái tin ấy, sâu hơn, là một thứ tôi chỉ dám thừa nhận bây giờ: tôi ghen tị với Đạo Minh. Anh dám đi, còn tôi thì sợ. Anh còn giữ được một thứ mà tôi đã bán mất, đó là khả năng gọi cái sai là sai. Và thay vì thừa nhận rằng anh đúng, tôi chọn dìm anh xuống, để cái sự hèn của tôi trông giống lòng trung.
Đó, thưa bạn, là khoảnh khắc đầu tiên tôi chuyển từ nạn nhân thành đồng phạm. Không phải một hành động lớn lao. Chỉ là một lời mách. Nhưng chính trong cái lời mách nhỏ nhen ấy, con quái vật tương lai của tôi đã cựa mình lần đầu. Vì tôi đã học được bài học độc hại nhất đời: rằng khi sự thật đe dọa vị trí của mình, ta có thể bóp méo nó, và gọi sự bóp méo ấy là đạo đức.
Đạo Minh bị đuổi đi trong nhục nhã. Tôi ở lại, được Huyền Chân khen là trung kiên. Tôi leo cao hơn trong đạo tràng. Và cái hố trong ngực tôi, tưởng đã được lấp, thật ra chỉ bị lấp bằng một thứ độc hơn: quyền lực nhỏ nhoi trên những kẻ dưới tôi, và nỗi sợ thường trực về những kẻ trên tôi.
Nhiều năm sau, tôi nghe tin Đạo Minh. Anh về đời, làm một thầy giáo làng, sống nghèo mà bình thường, có vợ con, và thỉnh thoảng giúp những người từng dính vào các đạo tràng như của Huyền Chân tìm đường ra. Anh mang vết thương của mình mà biến nó thành ngọn đèn cho người khác. Còn tôi mang vết thương của mình mà mài nó thành dao.
Cùng một vết thương. Hai con người. Hai lựa chọn. Đừng bao giờ để ai nói với bạn rằng hoàn cảnh quyết định tất cả. Đạo Minh là bằng chứng sống rằng nó không. Và tôi, tôi là bằng chứng còn sống động hơn, vì tôi biết rõ từng khoảnh khắc mình đã có thể rẽ sang đường anh, và đã không.