Nhìn bóng Mai Trân khuất sau rèm trúc, Nhất Thắng mới thở phào. Hắn vỗ ngực, quay sang Khánh:
- Sư huynh, em gái ta tính khí hơi dữ, nhưng tâm địa không xấu đâu. Huynh đừng chấp nó làm gì.
Khánh cười trừ. Cậu chỉ là người làm công gánh nước, lấy tư cách gì mà chấp nhặt với tiểu thư phủ Tướng quân? Huống hồ, nghĩ đến pháp thuật của cô nàng, cậu vẫn còn thấy ngại.
- Huynh quá lời rồi. Ta chỉ mong lần sau khỏi phải chạm mặt cô ấy.
- Ấy, huynh là sư huynh của ta, sau này còn qua lại dài dài chứ! Mà nói đi cũng phải nói lại, em gái ta xinh xắn đấy chứ? Hay để đệ đứng ra làm mai cho hai người?
Nhất Thắng vừa nói vừa cười. Gã vẫn chưa từ bỏ ý định nhờ Khánh mà học lỏm được mấy ngón Đổ Thuật của lão Vô Ngôn.
Khánh ậm ừ cho qua, chẳng coi lời gã là thật. Cậu vừa định chắp tay cáo từ thì Nhất Thắng đã nắm lấy cổ tay kéo đi.
- Nào, sang dùng với đệ chút điểm tâm. Ăn xong ta cho người đưa huynh về. Yên tâm, lần này ta không bám theo nữa đâu!
Khánh nhớ đến Viên Thông, gã quản sự có vết sẹo dài trên trán, sáng nào cũng cầm gậy đi thúc đám người ở Hậu xá dậy làm việc, liền vội đáp:
- Thôi, để ta về trước. Trời sáng rồi, bên chùa còn bao nhiêu việc.
- Vội gì! Thăng Long ngõ ngách như mắc cửi, huynh không rành đường, đi bộ khéo đến trưa mới về tới. Cứ ăn lót dạ đã, lát ta sai gia nhân đánh xe đưa huynh về theo đường lớn, bảo đảm không lỡ giờ.
Nghe gã nói cũng có lý, Khánh đành theo Nhất Thắng sang gian hoa sảnh bên cạnh.
Bữa sáng đã dọn sẵn trên chiếc bàn tròn bằng gỗ tử đàn, mặt khảm đá. Có thịt heo sữa quay, xôi vò, bánh bao nhân thịt và một liễn cháo hạt sen hầm chim bồ câu còn bốc khói. Chỉ là bữa điểm tâm trong phủ, vậy mà đã thịnh soạn hơn nhiều bữa cỗ Khánh từng dự ở quê.
Thùy Miên cùng bốn cô tì nữ đứng hầu cạnh bàn. Người mang khăn lau tay, người xới xôi, người rót trà sen, mọi việc đều quen tay. Khánh ngồi trên chiếc ghế có đệm gấm, nhìn đôi bàn tay chai sần của mình đặt bên chiếc bát sứ trắng mà hơi ngượng.
Nhất Thắng nhận ra vẻ câu nệ của cậu, bèn phất tay:
- Các ngươi lui vào trong đi. Hôm nay ta muốn ngồi nói chuyện riêng với Khánh huynh, không cần hầu hạ.
Thùy Miên cúi đầu vâng dạ. Trước khi lui sau tấm bình phong thêu chim khổng tước, nàng thoáng nhìn Khánh một lần. Cô gái phương Nam ấy không nói gì, chỉ theo đám tì nữ lui vào.
Chỉ còn hai người, Nhất Thắng gắp một miếng thịt quay, vừa ăn vừa hỏi:
- Khánh huynh, huynh cũng biết chữ Nho phải không? Tối qua ta thấy huynh nhìn đống sách trên bàn, chẳng có vẻ gì là lạ lẫm.
- Ta biết một ít thôi. Cha dạy từ nhỏ, đủ nhận mặt vài chữ thông dụng. Cha ta vốn không cho theo học thầy đồ trong làng.
- Ra vậy. Thế huynh đã đọc những sách gì?
- Mấy quyển cũ mượn của đám học trò trong làng, như Tam Tự Kinh, rồi đôi đoạn Kinh Thi...
- Thế còn mấy quyển truyện phong lưu tài tử? - Nhất Thắng nheo mắt.
Khánh đang ăn xôi, nghe hỏi bất ngờ thì sặc, phải vội đưa tay che miệng ho mấy tiếng.
Nhất Thắng phá lên cười:
- Nhìn thế này thì chắc là có đọc rồi!
Khánh gãi đầu, không buồn chối. Trong đống sách đám học trò ở làng chuyền tay nhau, quả có đôi quyển truyện phong nguyệt. Cậu từng tò mò đọc ké vài đoạn, gặp nhiều chữ không hiểu còn phải đoán mò. Chuyện tài tử giai nhân trong ấy nghe vừa thú vị vừa xa lạ, đọc rồi cũng chỉ biết vậy.
Nhất Thắng rót thêm trà, vẫn chưa chịu buông tha:
- Vậy từ ngày lên Thăng Long, huynh đã gặp được mỹ nhân nào giống trong sách chưa?
- Ta quanh quẩn làm công trong chùa, có đi đâu mấy đâu. Nhưng những người đã gặp ở kinh thành quả thực có nhiều người đẹp. Như mấy cô tì nữ nhà huynh vừa rồi chẳng hạn.
- Thế con gái quê huynh thì không đẹp sao?
- Cũng đẹp chứ, nhưng khác. Con gái ở quê quen nắng gió, chẳng son phấn mấy, nhìn gần gũi hơn.
Nói rồi Khánh nhớ đến cái Thắm. Không biết dạo này con bé có khỏe không, chiều chiều còn mang rổ khoai luộc sang nhà cậu như những ngày trước khi biến cố xảy ra nữa không.
- Vậy con gái Thăng Long khác chỗ nào? - Nhất Thắng hỏi tiếp.
- Ta mới gặp có vài người, đâu dám nhận xét bừa.
Nhất Thắng chống cằm, ngẫm nghĩ một lát rồi cười:
-- Ha ha, ta hiểu ý huynh rồi! Con gái thôn quê tựa hoa dại bên bờ sông, chẳng cần son phấn vẫn có nét thanh tú, hồn nhiên. Còn nữ tử chốn kinh kỳ lại khác. Người thì như mẫu đơn khoe sắc giữa vườn xuân, người tựa đóa bạch lan thanh nhã dưới hiên gác tía. Áo lụa thướt tha, tóc mây vấn khéo, một cái nghiêng đầu, một nụ cười cũng đủ khiến lòng người xao động. Chỉ có điều, hoa nơi gác ngọc tuy đẹp, đâu phải ai cũng có duyên được đến gần!
Nhất Thắng nói đến đây, khẽ phe phẩy chiếc quạt trong tay, vẻ mặt đầy đắc ý.
- Mà nói cho cùng, mỗi người một vẻ. Hoa dại có cái tình của hoa dại, mẫu đơn có nét quý của mẫu đơn. Đem ra phân cao thấp, chẳng phải phụ lòng tạo hóa hay sao? Ha ha! Nói cho cùng, nữ nhân Đại Việt ta, từ thôn quê đến chốn kinh kỳ, thảy đều là mỹ nữ cả!
Hắn cười lớn một tràng, rồi chợt nghiêng người về phía Khánh, hạ giọng đầy vẻ thần bí:
- Nhưng đã đặt chân đến đất Thăng Long này, nếu có dịp, huynh nhất định phải chiêm ngưỡng nhan sắc của Tam đại mỹ nhân đất kinh kỳ. Ấy mới thật là những tuyệt sắc giai nhân khiến bao bậc vương tôn công tử phải ngày đêm tương tư! Tố Nga của Phong Nguyệt quán, Thiên Hương của Thiên Hương lâu...và một người nữa, bí ẩn hơn đang nương tựa cửa chùa.
Đôi đũa trong tay Khánh chợt khựng lại. Cậu không ngờ Nhất Thắng lại nhắc đến Tố Nga. Càng lạ hơn, trong những mỹ nhân nổi tiếng mà gã vừa kể, cậu đã vô tình gặp hai người.
- Tố Nga ấy... chẳng phải là kỹ nữ sao? - Khánh hỏi.
- Ồ, huynh cũng biết nàng ta à? - Nhất Thắng lập tức hào hứng. - Đúng là nàng ở Phong Nguyệt quán, nhưng danh tiếng thì chẳng thua bất kỳ tiểu thư khuê các nào. Người ta đồn muốn được một đêm “nhất dạ nhất mộng” với nàng, có tiền thôi chưa chắc đã đủ.
- Nhất dạ nhất mộng là gì?
- Nghe nói người nào được vào khuê phòng của nàng, đêm ấy sẽ chìm vào một giấc mộng xuân đẹp đến mức chẳng muốn tỉnh. Sáng hôm sau, ai nấy đều mãn nguyện ra về, cứ như đã hưởng đủ lạc thú nhân gian, dù tất cả chỉ là một giấc mộng.
Khánh lặng đi. Cậu nhớ tới lần chạm mặt Tố Nga ở Phong Nguyệt quán, nhớ những điều kỳ lạ và hiểm nguy đã xảy ra. Hóa ra người đàn bà ấy còn nổi tiếng hơn cậu tưởng. Còn Thiên Hương, cậu mới chỉ thoáng gặp ở chùa Hư Vân, chưa có dịp trò chuyện nên cũng chẳng hiểu gì về nàng.
- Trời không còn sớm nữa, cho ta xin phép về chùa trước, - Khánh nói, nhân lúc Nhất Thắng ngừng lời.
Nhất Thắng đành đứng dậy, gọi gia nhân chuẩn bị xe ngựa, dặn đường đi rồi tiễn Khánh ra cửa ngách. Lúc chia tay, gã dúi một ít bạc vụn vào tay cậu. Khánh nhất quyết không nhận, chỉ chắp tay cảm tạ rồi bước lên xe.
Xe ngựa lăn bánh rời con hẻm sau phủ Tướng quân. Ngoài đường, Thăng Long đã vào buổi chợ sớm. Những gánh bún, gánh chè qua lại giữa tiếng rao hàng; từ các phường thợ, tiếng búa đập vang lên từng hồi. Sương còn đọng trên mái ngói, nhưng nhiều nhà đã mở cửa đón khách.
Càng đi về phía chùa Hư Vân, Khánh càng thấy nhiều quan binh. Từng toán lính mặc giáp đồng, bên hông đeo đao, mang huy hiệu Phủ Thiên Sứ quân đi ngược chiều xe. Đến con đường đê dẫn lên chùa, cậu vén rèm nhìn ra, thấy trước cổng Tam Quan đã buộc đầy ngựa chiến. Quan binh đứng cả ở những bậc thềm đá.
Không muốn để người trong chùa trông thấy mình đi xe nhà quyền quý, Khánh xin bác đánh xe dừng lại cạnh một bụi tre khuất đường. Cậu xuống xe, men theo lối mòn trở về cổng phụ Hậu viện.
Vừa bước qua ngạch cửa gỗ, cậu đã nghe tiếng Viên Thông:
- À, thằng gánh nước về rồi đấy à! Nay lại còn có xe ngựa nhà giàu đưa tới tận chân núi. Đi đâu suốt đêm qua? Kiếm được tiền trả nợ cho bản tự chưa?
Khánh ngẩng lên. Viên Thông đứng chặn giữa lối đi, tay cầm cây gậy trúc quen thuộc. Vết sẹo trên trán gã nhăn lại khi gã nhếch miệng.
- Tôi chỉ đi nhờ xe người ta về cho kịp giờ làm, không có chuyện gì cả.
- Ái chà, giờ còn biết cãi nữa! Đêm qua nhân lúc trong chùa lộn xộn, mày trốn đi đâu? Hay định quỵt bốn quan sáu trăm văn tiền thuốc rồi chuồn mất?
Viên Thông giơ cây gậy trúc lên, chực đánh như mọi lần. Khánh theo thói quen hơi chùng vai, nhưng chưa kịp nói gì thì phía sau rặng trúc vang lên một tiếng niệm Phật:
- A Di Đà Phật. Viên Thông, ngươi ra xưởng rèn trông nom đám thợ đi. Quan binh của Phủ Thiên Sứ quân đang ở đó. Lão nạp muốn nói chuyện riêng với tiểu thí chủ này.
Khánh quay lại. Từ bậc thềm phủ rêu, trụ trì Giác Thông đang bước xuống. Vị lão tăng vóc người cao lớn, râu bạc dài trước ngực, nét mặt điềm đạm.
Viên Thông vừa thấy trụ trì đã vội hạ gậy, cúi người chắp tay vái rồi lui đi. Trước khi khuất sau bức tường đất, gã vẫn ngoái lại nhìn Khánh, môi mấp máy như dọa nạt: “Liệu cái hồn mày, đừng bép xép điều gì!”
Đợi bóng Viên Thông khuất hẳn sau bức tường đất, Giác Thông mới khẽ phất tay áo, thong thả bước về phía con đường đá ong dẫn lên sườn đồi. Khánh vội cúi đầu, lặng lẽ theo sau.
Hai người đi ngang khu giếng cũ, nơi Khánh từng ngã quỵ vì kiệt sức trong những ngày đầu vào chùa. Gió sớm thổi xào xạc trên tán dâu da cổ thụ. Phía dưới Hậu xá, tiếng người gọi nhau gánh nước, bổ củi vẫn vang lên không ngớt.
Giác Thông vừa đi vừa hỏi:
- Tiểu thí chủ ở lại bản tự bấy lâu, ăn ở có quen không?
- Bẩm đại sư, cũng quen rồi ạ. Công việc tuy nặng nhọc nhưng con vốn làm nghề chài lưới từ nhỏ, chịu khó một chút cũng không đến nỗi nào.
- Vậy nếu hôm nay lão nạp cho con rời chùa thì sao?
Khánh ngẩng lên, vẻ mặt ngạc nhiên.
- Ý đại sư là...
- Số tiền thuốc bốn quan sáu trăm văn kia, lão nạp có thể nói một tiếng để phòng Tăng ty xóa sổ. Con không cần ngày ngày gánh nước trả nợ nữa.
Khánh đứng sững một lúc, rồi vội lắc đầu.
- Thưa đại sư, như thế không được. Nhà chùa có ơn cứu mạng con, thuốc thang cũng đã dùng, công sức của thầy Tuệ Hải cũng là thật. Con đã nhận lời trả nợ, há có thể vì một câu của đại sư mà coi như chưa từng có chuyện ấy? Con còn sức, cứ làm cho đến khi trả đủ là được.
Giác Thông nhìn cậu, đôi mắt già nua thoáng hiện ý cười.
- Lão nạp miễn nợ mà con cũng không chịu nhận. Xem ra cái tính cố chấp này sau còn khiến con chịu khổ nhiều.
Khánh gãi đầu, cười ngượng.
- Con cũng không biết có phải cố chấp hay không. Chỉ nghĩ đã hứa với người ta rồi thì nên giữ lời.
- Lành thay.
Vị lão tăng khẽ gật đầu, không nhắc đến chuyện ấy nữa.
Đi thêm một quãng, ngài nhận ra ánh mắt Khánh vẫn thỉnh thoảng hướng về khu Hậu xá dưới chân đồi.
- Tiểu thí chủ còn điều gì muốn hỏi lão nạp chăng?
Khánh chần chừ giây lát.
- Bạch đại sư, con có một chuyện nghĩ mãi không thông. Chỉ sợ nói ra lại thành bất kính.
- Cửa Phật vốn để người ta giải điều nghi hoặc. Chưa hỏi đã sợ, chẳng phải tự mình đóng cửa trước hay sao?
Nghe vậy, Khánh mới đánh bạo:
- Con thường nghe người ta nói sướng khổ ở đời đều có số, thiện ác cuối cùng cũng có báo. Nhưng từ ngày lên kinh thành, con thấy nhiều chuyện chẳng giống như thế.
Cậu đưa mắt nhìn xuống Hậu xá.
- Những người làm công ở dưới kia, có người mất mùa phải bán ruộng, có người cha mẹ bệnh nặng mà mắc nợ, cũng có người chỉ vì một lần gặp nạn mà phải làm lụng trả nợ suốt mấy năm. Con sống cùng họ, biết nhiều người hiền lành lắm, chẳng làm điều ác với ai. Vậy mà ngày ngày vẫn phải chịu cực nhọc, có khi còn bị đánh mắng. Nếu bảo tất cả đều do nghiệp kiếp trước, chẳng lẽ những người ấy sinh ra đã đáng chịu khổ hay sao?
Giác Thông dừng bước.
Một chiếc lá đại vàng úa theo gió đáp xuống bậc đá trước mặt. Ngài cúi xuống nhặt lên, đặt trong lòng bàn tay.
- Con xem, chiếc lá này vì sao mà rụng?
Khánh không hiểu dụng ý, nhưng vẫn đáp:
- Bẩm, vì lá đã già.
- Thế lá còn xanh có rụng được không?
- Dạ có. Gió lớn thì rụng, cành bị sâu đục cũng rụng.
- Vậy một chiếc lá lìa cành còn có nhiều duyên cớ, há một đời người lại chỉ do một chữ số định đoạt?
Ngài khẽ thả chiếc lá xuống.
- Người đời thường nói nghiệp báo, song phần nhiều chỉ hiểu cái vỏ ngoài. Phật gia giảng nhân duyên, mọi sự sinh khởi đều có nguyên do, lại phải nhờ đủ duyên mới thành. Cái khổ cũng vậy. Có người vì thân bệnh mà khổ, có người vì thiên tai mà khổ, có người bởi lòng tham của chính mình mà chuốc lấy tai ương. Lại có những người chịu khổ vì sự tham lam, tàn nhẫn của kẻ khác. Không thể hễ thấy người nghèo khó liền bảo họ có tội, thấy kẻ giàu sang lại cho rằng người ấy có phúc.
Khánh ngẫm nghĩ một lúc rồi hỏi:
- Nhưng nếu thiện ác có báo, tại sao có người làm điều xấu mà vẫn sung sướng, còn người hiền lành lại chịu khổ cả đời?
Giác Thông mỉm cười.
- Con muốn trời đất thưởng phạt phân minh như quan huyện xử án, sáng làm điều lành, chiều đã được ban thưởng; hôm nay gây tội, ngày mai phải chịu hình phạt, có phải không?
Khánh hơi đỏ mặt.
- Con không có ý ấy. Chỉ là... nếu người tốt cứ chịu thiệt, còn kẻ xấu lại được sung sướng, chẳng phải bất công lắm sao?
- Bất công ở đời quả thực không ít. Song nhân quả không phải sổ công tội để người ta cầm lên mà tra xét. Huống hồ, con mới thấy một đoạn đời của người khác, sao biết hết những điều đã qua, những việc chưa tới?
Ngài ngừng một lát, rồi ôn tồn nói tiếp:
- Nhưng có một điều con phải nhớ. Hiểu nhân quả không phải để lạnh lòng trước nỗi khổ của người đời. Trái lại, chính vì thấy chúng sinh chìm trong khổ não, người học Phật mới phải khởi lòng từ bi. Gặp kẻ đói thì cho ăn, gặp người bệnh thì tìm thuốc, thấy người bị hiếp đáp thì tìm cách cứu giúp. Chẳng lẽ trước khi cứu một người sắp chết đuối, con còn phải hỏi xem kiếp trước người ấy đã tạo nghiệp gì?
- Dạ không. Thấy người rơi xuống nước, con chỉ nghĩ phải cứu lên trước đã.
- Ấy đấy. Có khi đạo lý vốn ở ngay trong những việc giản dị như thế.
Khánh nghe xong, trong lòng phần nào sáng tỏ. Nhưng nghĩ tới những trận đòn roi ở Hậu xá, cậu lại không nhịn được mà hỏi:
- Bạch đại sư, vậy còn những người như Viên Thông thì sao? Ông ta cũng là người trong chùa, ngày ngày nghe kinh niệm Phật, vậy mà...
Khánh chợt ngừng lời, cúi đầu không dám nói tiếp.
Giác Thông chẳng tỏ vẻ phật ý.
- Vậy mà vẫn tham sân, vẫn đánh mắng người khác, có phải không?
- Dạ...
Vị lão tăng chắp hai tay trước ngực, khẽ niệm một tiếng Phật hiệu.
- Cửa chùa rộng mở, người bước vào có kẻ cầu đạo, có người cầu phúc, cũng có kẻ chỉ mong tìm một chỗ dung thân. Khoác áo nâu sồng chưa chắc đã dứt được lòng tham, ngày ngày tụng kinh cũng chưa hẳn đã hiểu đạo. Nếu cứ bước qua cổng chùa là thành người tốt, Đức Phật cần gì phải dạy chúng sinh tu hành?
Khánh nghe vậy, bất giác ngẩng đầu.
Giác Thông đưa mắt nhìn xuống khu Hậu xá, ánh mắt có phần trầm xuống.
- Kẻ làm ác có thể nhờ cửa Phật mà quay đầu, nhưng không vì thế mà điều ác hắn làm được coi thành việc thiện. Người chịu khổ có thể từ khổ nạn mà trưởng thành, song kẻ gây ra khổ nạn cũng chẳng bởi vậy mà thành ân nhân của họ.
Nói đến đây, ngài quay sang Khánh:
- Như con chẳng hạn. Những ngày gánh nước cực nhọc đã giúp thương thế của con dần hồi phục, gân cốt cũng thêm phần cứng cáp. Nhưng nếu có kẻ vì thấy con chịu được đòn mà tùy tiện đánh đập, chẳng lẽ lão nạp lại bảo kẻ ấy có công dạy dỗ con?
Khánh lập tức lắc đầu.
- Dạ, không thể như thế được.
- Đúng vậy. Phúc họa ở đời đôi khi nương vào nhau mà chuyển biến. Trong họa có thể sinh phúc, nhưng họa vẫn là họa, không thể vì kết quả về sau mà đảo lộn phải trái.
Ngài khẽ thở dài.
- Việc trong bản tự, lão nạp cũng có những điều phải xét lại. Con không cần vì sợ đắc tội với người trong chùa mà giữ mãi trong lòng.
Khánh cúi đầu vâng dạ.
Từ ngày đến Hư Vân, cậu đã quen với việc nghe người ta dạy bảo phải nhẫn nhịn, phải biết thân biết phận. Nay nghe chính vị trụ trì nói những lời ấy, trong lòng không khỏi nảy sinh một thứ kính trọng khác trước.
Hai người lại thong thả bước đi.
Đến bên giếng đá ong, Giác Thông bỗng dừng chân, đưa mắt nhìn những lu nước sành xếp thành hàng trước hiên Dược Đường.
- Vậy còn thanh đoản kiếm bằng đồng của con, hiện cất trong Tàng Khố, con định liệu thế nào?
Khánh giật mình.
Cậu ngẩng phắt lên nhìn vị lão tăng. Không ngờ chuyện mình giấu kín bấy lâu, đại sư cũng đã tỏ tường.
Nhưng ngẫm lại, một vị trụ trì đứng đầu ngôi đại tự như Hư Vân, làm sao có thể không hay biết một vật lạ được mang vào Tàng Khố?
Khánh đành thành thật thưa:
- Bạch đại sư, chính con cũng chưa biết phải làm thế nào. Vị tiền bối kia trao kiếm, dặn con rời quê tìm người am hiểu để hỏi cho rõ chuyện long mạch. Con đã nhận lời nên không dám bỏ dở. Nhưng từ ngày lên Thăng Long, gặp bao nhiêu người tài giỏi, con mới biết bản thân nhỏ bé đến nhường nào. Một chuyện liên quan đến vận nước, đến cả giang sơn xã tắc, sao lại có thể đặt vào tay một đứa như con?
Giác Thông nhìn cậu một lúc.
- Con nghĩ đó là Thiên mệnh?
- Người ta nói như thế. Nhưng con thật lòng chẳng hiểu Thiên mệnh là gì. Nếu trời đã định, con không làm có được không? Còn nếu có thể không làm, vì sao lại gọi là mệnh?
Vị lão tăng khẽ vuốt chòm râu bạc, ánh mắt thoáng hiện vẻ tán thưởng.
- Câu hỏi ấy không dễ trả lời đâu.
Ngài quay nhìn về phía những mái điện chùa ẩn hiện dưới tán cây.
- Con có từng nghe chuyện Đức Thái Tông hoàng đế lên Yên Tử cầu Phật chưa?
Khánh lắc đầu.
- Bẩm đại sư, con chỉ biết tiên đế là bậc minh quân, còn chuyện ấy thì chưa từng nghe.
- Năm xưa, khi còn tại vị, tiên đế có lần rời kinh thành, tìm lên núi Yên Tử, chỉ mong được vào cửa Phật tu hành. Ngài gặp Quốc sư Phù Vân, thưa rằng mình đến đây cầu Phật. Quốc sư bèn dạy, trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong tâm, chẳng cần tìm kiếm nơi xa.
Giác Thông chậm rãi kể tiếp:
- Sau đó triều thần tìm lên núi, khẩn khoản xin vua trở về. Quốc sư lại khuyên rằng, đã làm bậc quân vương, phải lấy lòng thiên hạ làm lòng mình. Tiên đế nghe lời, trở về trị nước, nhưng việc tu hành cũng chẳng vì thế mà bỏ.
Khánh suy nghĩ một lát rồi hỏi:
- Vậy Quốc sư cho rằng làm vua quan trọng hơn tu Phật sao?
Giác Thông mỉm cười.
- Nếu quả thực cho rằng thế, ngài đã chẳng nói Phật ở ngay trong tâm. Người đời thường tưởng tu hành là phải rời bỏ nhân gian, tìm nơi núi sâu hang vắng. Nhưng thân ở chốn núi rừng mà tâm còn vướng danh lợi, có khác gì ở giữa chợ đời? Trái lại, thân ở giữa bụi trần mà tâm không quên đạo, há chẳng thể tu sao?
Khánh nghe đến đây, chợt nói:
- Nhưng tiên đế là vua, có muôn dân trông cậy. Con chỉ là một đứa làng chài, đâu thể đem ra so sánh?
- Lão nạp cũng đâu bảo con phải làm vua.
Giác Thông bật cười, khiến Khánh có phần bối rối.
- Điều lão nạp muốn nói là mỗi người sinh ra đều có những nhân duyên riêng. Có người sinh trong nhà đế vương, có người lớn lên nơi thôn dã. Có kẻ một đời an ổn, cũng có người vừa bước khỏi cửa đã gặp sóng gió. Nhiều chuyện vốn chẳng do mình chọn lựa. Nhưng khi sự việc đã đến, đối diện với nó thế nào lại là điều mỗi người phải tự quyết.
Ngài nhìn Khánh, nói tiếp:
- Thanh kiếm đến tay con là duyên. Con nhận lời người trao kiếm, ấy là chữ tín. Còn việc có lấy chuyện cứu giữ long mạch làm chí nguyện của cả đời mình hay không, lại là một chuyện khác.
- Nhưng thưa đại sư, nếu con không nhận lấy sứ mệnh ấy, chẳng phải đã phụ lòng vị tiền bối sao?
- Phụ hay không phụ, còn phải xem con đã hiểu rõ lời giao phó ấy đến đâu. Người có lòng thành nhưng không biết lượng sức, đôi khi vì muốn làm điều tốt mà gây nên đại họa. Kẻ có đủ tài năng nhưng chẳng chịu gánh lấy điều phải gánh, lại có thể vì một niệm riêng tư mà bỏ mặc bao người. Hai điều ấy đều đáng suy ngẫm.
Giác Thông đưa tay chỉ về phía con dốc đá ong.
- Lão nạp hỏi con, ngày đầu tiên gánh nước, đứng dưới giếng nhìn lên sáu cái lu lớn trên kia, con nghĩ gì?
Khánh ngẩn ra trước câu hỏi bất ngờ.
- Dạ, con nghĩ chắc mình không làm nổi. Khi ấy chân còn đau, gánh được mươi chuyến đã muốn ngã.
- Vậy sao cuối cùng vẫn làm được?
- Thưa thầy, con cũng chẳng có cách gì hay. Chỉ biết gánh từng chuyến một. Hôm đầu thấy dốc cao quá, về sau đi quen mới biết chỗ nào đá trơn, chỗ nào dễ bước. Cứ thế mà làm thôi.
Giác Thông gật đầu.
- Ấy cũng là một lẽ. Người ta thường bị việc lớn trước mắt làm cho khiếp sợ, bởi chỉ nhìn thấy đỉnh núi mà quên mất con đường dưới chân. Nhưng đường xa đến đâu cũng phải bắt đầu từ một bước. Chuyện giang sơn xã tắc, lão nạp không dám bảo chỉ cần gánh nước là có thể hiểu thấu. Song nếu ngay việc trước mắt còn chẳng làm tròn, lấy gì mà bàn đến chuyện thiên hạ?
Ngài nhìn thẳng vào Khánh.
- Con chưa cần vội nhận mình là người gánh Thiên mệnh, cũng đừng vì thấy đường xa mà tự cho rằng mình không thể đi tới. Trước mắt cứ dưỡng cho thân thể khỏe mạnh, học thêm những điều chưa biết, tìm hiểu rõ lai lịch thanh kiếm. Đến lúc hiểu được điều mình phải đối diện, hãy tự hỏi lòng xem có thật sự muốn bước tiếp hay không.
Khánh cúi đầu, trầm ngâm hồi lâu.
- Con hiểu được đôi chút rồi, thưa đại sư. Chỉ là...
- Chỉ là thế nào?
Khánh ngập ngừng, rồi cuối cùng cũng nói ra điều vẫn đè nặng trong lòng.
- Con sợ mình không đủ bản lĩnh. Không riêng gì chuyện võ nghệ hay pháp thuật. Con biết chữ cũng chẳng được bao nhiêu, kinh sử thì mù mờ. Từ ngày lên kinh thành, gặp người nào cũng thấy họ hơn mình. Nhất Thắng công tử tuy có phần ham chơi, nhưng nói chuyện kinh sách thì thao thao bất tuyệt. Mai Trân cô nương tuổi chẳng hơn con bao nhiêu, võ học đã tinh thông. Các vị đạo trưởng, cao tăng con từng gặp, chuyện các ngài nói có khi con nghe chẳng hiểu nổi một nửa.
Cậu cười gượng.
- Cha con ngày trước có dạy cho ít chữ, cũng từng bảo con chịu khó đọc sách. Khi ấy con cứ nghĩ biết được chừng ấy đã là khá lắm rồi. Giờ mới thấy mình chẳng khác nào con cá nhỏ quanh quẩn trong một khúc sông, nào biết ngoài kia biển rộng đến đâu.
Giác Thông nghe xong, không vội đáp.
Ngài bước đến bên thành giếng, nhìn xuống làn nước trong vắt dưới đáy, hồi lâu mới cất tiếng:
- Tiểu thí chủ, thế gian này người thông minh nhiều lắm. Có kẻ đọc qua một lần đã nhớ, có người nghe một lời liền hiểu, cũng có người tuổi còn rất trẻ đã tinh thông kinh sử, võ học, đạo pháp. Những bậc tài trí ấy vốn đáng quý, lão nạp nào dám xem thường.
Ngài quay sang Khánh.
- Nhưng con phải biết, thông minh chưa hẳn đã là trí tuệ. Có người nhìn thấu mưu kế của thiên hạ mà chẳng nhìn thấu được lòng mình. Có kẻ thuộc làu kinh Phật, nói đạo lý thao thao bất tuyệt, đến khi gặp chút lợi danh lại chẳng giữ nổi một niệm thiện. Chữ nghĩa trong bụng người ấy có thể nhiều như nước sông Hồng, nhưng bảo đã hiểu đạo thì chưa chắc.
Khánh chăm chú lắng nghe.
- Đức Phật từng ví kẻ đọc tụng kinh điển mà không chịu thực hành như người chăn bò thuê, ngày ngày đếm bò cho chủ, rốt cuộc chẳng được hưởng phần nào. Lời ấy không phải để chê kinh sách, mà để nhắc người học rằng biết đạo và hành đạo vốn là hai việc khác nhau.
Giác Thông khẽ mỉm cười.
- Con ít chữ, kiến thức còn nông, ấy là điều có thể học thêm. Nhưng tấm lòng chất phác, ngay thẳng, biết thương người, biết giữ chữ tín, lại chẳng phải cứ đọc nhiều sách là tự nhiên có được. Có kẻ cả đời cầu đạo, đi hết núi này sang núi khác, rốt cuộc cũng chỉ mong tìm lại được cái tâm chân thật thuở ban đầu.
Khánh nghe tới đó, vẻ mặt có phần ngượng nghịu.
- Đại sư quá khen rồi. Con nào có tốt đẹp đến thế. Nhiều lúc con cũng tham, cũng giận, gặp chuyện bất bình còn muốn đánh nhau nữa.
Giác Thông bật cười.
- Nếu đã dứt sạch tham sân, con còn đứng đây làm gì? Lão nạp phải gọi con một tiếng đại đức mới phải!
Khánh không nhịn được cũng bật cười theo.
Vị lão tăng chờ cậu cười xong mới thong thả nói tiếp:
- Người thuần phác đáng quý, nhưng chẳng phải cứ thật thà là đủ. Thật thà mà không biết xét việc, dễ bị kẻ gian lợi dụng. Có lòng thương người mà thiếu hiểu biết, đôi khi muốn cứu người lại thành hại người. Còn nếu chỉ biết giữ khư khư cái tính chất phác của mình, chẳng chịu học hỏi, lâu ngày cái chất phác ấy cũng có thể hóa thành ngu muội.
Ngài nhìn Khánh, ánh mắt ôn hòa mà nghiêm nghị.
- Bởi thế, lão nạp không bảo con xem nhẹ học vấn. Trái lại, càng biết mình thiếu, càng phải chịu khó học. Nhưng học để mở mang trí tuệ, chứ đừng học chỉ vì muốn hơn thua với người. Người giỏi hơn mình thì kính mà học hỏi, người kém hơn mình cũng không vì thế mà khinh thường. Giữ được lòng ngay thẳng trong khi tài trí ngày một tăng, ấy mới là điều khó.
Khánh ngẫm nghĩ rồi hỏi:
- Vậy nếu một người vừa thông minh, vừa học rộng, lại có lòng tốt, chẳng phải sẽ hơn người chỉ có tấm lòng chất phác hay sao?
- Tất nhiên là hơn rồi!
Giác Thông đáp ngay, vẻ mặt thản nhiên đến mức Khánh phải ngẩn ra.
Thấy vậy, vị đại sư lại cười.
- Lão nạp đâu có nói chất phác thì không cần học, hay người thông minh đều là hạng gian xảo. Một người vừa có tài trí, vừa biết giữ đạo nghĩa, chẳng phải là điều đáng mừng cho thiên hạ hay sao? Chỉ có điều, tài trí có thể dùng để cứu người, cũng có thể dùng để hại người. Càng tài giỏi mà tâm càng bất chính, tai họa gây ra đôi khi càng lớn.
Ngài đưa tay chỉ cây dâu da cổ thụ đứng bên giếng.
- Như cây kia, cành lá sum suê là nhờ gốc rễ bền chắc. Gốc tốt mà chẳng chịu lớn, rốt cuộc cũng chỉ là cây nhỏ. Cành lá tươi tốt mà gốc đã mục, gặp một trận gió lớn cũng khó đứng vững. Tâm tính và tài học của con người cũng vậy, không nên thiếu bên nào. Chỉ có điều, phải biết lấy gì làm gốc, lấy gì làm ngọn.
Khánh chậm rãi gật đầu.
Giác Thông lại nói:
- Lão nạp thấy con chịu khó, biết nhớ ơn, lại không nỡ nhìn người khác chịu khổ. Những điều ấy đáng quý, nhưng cũng chưa phải đã đủ. Con còn trẻ, đường đời chưa trải bao nhiêu, lòng người cũng chưa hiểu hết. Ngày sau gặp lợi lớn mà không tham, gặp uy quyền mà không khuất, gặp nguy nan mà chẳng bỏ điều nghĩa, khi ấy mới biết cái tâm hôm nay có thật vững vàng hay không.
Ngài ngừng một chút, giọng dịu xuống:
- Cho nên, đừng vì thấy người khác giỏi hơn mà tự coi mình thấp kém. Cũng đừng vì được lão nạp khen vài câu mà tưởng mình đã hơn người. Cứ giữ lấy tấm lòng hiện tại, rồi chịu khó học hỏi, rèn luyện. Biết đâu một ngày kia, chính con lại trở thành người mà hôm nay mình đang ngưỡng mộ.
Khánh đứng lặng hồi lâu.
Những lời vừa nghe không khiến cậu bỗng nhiên hiểu thấu kinh nghĩa, cũng chẳng làm thanh kiếm trong Tàng Khố trở nên bớt bí ẩn. Thiên hạ vẫn rộng lớn, bản thân cậu vẫn nhỏ bé như trước.
Nhưng ít nhất, cậu đã hiểu một điều.
Mình ít học thì có thể học thêm, sức yếu thì có thể rèn luyện. Không cần vì thấy người khác tài giỏi mà xấu hổ về xuất thân, cũng chẳng cần vội vàng trở thành một người nào khác.
Nghĩ đến đây, Khánh chợt nhớ cha mình. Người đàn ông quanh năm chèo thuyền, kéo lưới ấy vốn chẳng phải bậc học rộng tài cao, nhưng những chữ đầu tiên cậu biết, những điều đầu tiên cậu hiểu về cách làm người, đều do cha dạy.
Ngày trước cậu chưa từng nghĩ những điều giản dị ấy có gì đáng quý.
Khánh chắp hai tay, thành kính cúi đầu.
- Những lời đại sư dạy hôm nay, con xin ghi nhớ.
Giác Thông khẽ lắc đầu.
- Nhớ thì dễ, làm được mới khó. Huống hồ, lời lão nạp cũng chỉ là lời của một ông sư già. Sau này con đi nhiều, gặp nhiều, ắt sẽ có những điều tự mình hiểu ra, có khi còn khác cả những gì hôm nay lão nạp đã nói.
Ngài mỉm cười, chòm râu bạc khẽ rung theo gió.
- Đạo lý trong thiên hạ vốn không nằm hết trong miệng một người. Con cứ sống, cứ học, rồi tự mình suy xét lấy.
Nói đoạn, vị trụ trì chậm rãi quay người, bước về phía chính điện.
Khánh đứng nhìn theo cho đến khi bóng áo nâu khuất sau hàng cột gỗ, mới cúi đầu vái thêm một vái. Tiếng chuông chùa từ xa ngân lên, hòa cùng tiếng gió sớm và tiếng người gọi nhau nơi Hậu xá.
Khánh quay xuống con dốc đá ong. Sáu chiếc lu nước trước hiên Dược Đường vẫn còn đó. Nghĩ đến những chuyến nước đang chờ, cậu bất giác thở dài, rồi xắn cao tay áo đi về phía Hậu xá.
Vừa bước qua cổng sân, Khánh đã nghe một tiếng gọi lanh lảnh:
- Anh Khánh! Anh Khánh về rồi!
Một thằng bé chừng mười hai, mười ba tuổi từ sau đống củi chạy vụt ra, hai bàn chân đất lấm lem bùn. Chính là thằng Mót, đứa nhỏ chuyên phụ việc ngoài ruộng rau và chuồng trâu của Hậu xá.
Nó chạy đến trước mặt Khánh, mắt sáng rỡ.
- Mấy bữa nay anh đi đâu mà em tìm mãi chẳng thấy? Hôm qua em còn để dành cho anh hai củ khoai nướng, chờ mãi không thấy về, đành ăn mất một củ rồi!
Khánh bật cười, đưa tay xoa đầu nó.
- Thế còn một củ đâu?
- Em ăn nốt sáng nay rồi!
Thằng bé đáp tỉnh bơ, khiến Khánh không nhịn được cười thêm lần nữa.
- Thế mà cũng khoe! Ta có chút việc phải đi, giờ chẳng phải đã về rồi sao?
- Anh về đúng lúc lắm! Mấy hôm nay trong chùa có chuyện lớn đấy!
Mót hạ giọng, nhưng vẻ mặt lại phấn khởi như sắp kể chuyện hội làng.
- Quân Thiên Sứ kéo đến đông lắm. Hôm trước còn vào tận lò rèn, đòi xem hết đồ đạc, binh khí trong ấy. Mấy vị sư thúc bên tăng binh không chịu, hai bên cãi nhau ầm cả lên!
Khánh nhớ đến những toán quân áo giáp gặp trên đường về, liền hỏi:
- Thế rồi sao?
- Thì suýt đánh nhau chứ sao! Có tên lính còn đặt tay lên chuôi đao. May mà một vị sư thúc bước ra, cầm cây thiền trượng gõ đánh cộp xuống nền đá, bảo đây là đất Phật, muốn lục soát thì phải có lệnh đàng hoàng!
Mót vừa kể vừa vung tay bắt chước, suýt quệt vào mặt Khánh.
- Hôm qua lại thêm một trận nữa. Em đang gánh rơm ngoài sân, nghe tiếng quát tháo chạy ra xem, thấy hai bên đứng kín cả cửa lò. Chỉ thiếu nước rút đao rút gậy thôi. Mấy vị sư thúc của mình chẳng ai chịu lùi đâu!
Nó nói đến đây, hai mắt sáng lên đầy ngưỡng mộ.
- Em bảo, có đánh nhau thật thì đám quân kia chưa chắc đã thắng được tăng binh chùa ta!
Khánh nhìn vẻ mặt hớn hở của nó, không khỏi ngạc nhiên.
- Đánh nhau có gì mà vui? Lỡ có người bị thương thì sao?
- Nhưng bọn họ đến gây sự trước mà!
- Ta đâu có bảo họ đúng. Chỉ là thấy ngươi bênh các vị tăng binh quá, cứ như chính mình cũng ở trong đội ấy.
Mót ưỡn ngực.
- Thì em cũng là người của chùa mà!
Khánh bật cười.
- Ngươi mới có từng ấy tuổi, đã biết mình là người của chùa rồi à?
- Sao lại không biết!
Thằng bé đáp ngay, nhưng rồi như nhớ ra điều gì, giọng nó nhỏ xuống.
- Cha mẹ em mất từ hồi em còn bé tí. Em cũng chẳng nhớ rõ mặt nữa. Hồi ấy theo người ta đi hết chợ này sang chợ khác, có bữa đói quá, nằm ngủ dưới mái hiên nhà người ta còn bị đuổi.
Nó cúi xuống, lấy ngón chân di một hòn sỏi trên mặt đất.
- Sau có người đưa em đến chùa Hư Vân. Thầy trong chùa thấy em không nơi nương tựa nên cho ở lại. Ban đầu chỉ nhặt rau, quét sân, lớn thêm chút thì xuống Hậu xá phụ làm ruộng. Ở đây có cơm ăn, có chỗ ngủ, trời mưa cũng chẳng sợ ướt.
Nói đến đó, Mót lại ngẩng lên, vẻ mặt tươi tỉnh như cũ.
- Em còn được các sư thúc dạy mấy đường côn nữa đấy! Sau này lớn lên, biết đâu em cũng được vào tăng binh. Khi ấy ai dám đến bắt nạt chùa ta!
Khánh im lặng nhìn nó.
Mới lúc nãy, cậu còn cùng Giác Thông bàn đến nỗi khổ của những người sống dưới Hậu xá. Trong mắt cậu, nơi này có biết bao chuyện bất công, những món nợ đè nặng lên vai người nghèo, những lời mắng chửi và roi vọt chẳng biết lúc nào mới dứt. Vậy mà đối với Mót, chính ngôi chùa ấy lại là nơi đã cho nó một mái nhà.
Khánh chợt hiểu, cùng sống dưới một mái chùa, mỗi người vẫn có thể mang trong lòng một câu chuyện khác nhau.
- Này, anh Khánh!
Tiếng Mót kéo cậu trở về với thực tại.
- Anh có biết dùng côn không?
- Không biết.
- Thế kiếm?
- Cũng không.
Mót tròn mắt.
- Vậy anh phải học đi! Nhỡ bọn quân kia đánh vào tận Hậu xá thì sao?
Khánh phì cười.
- Có đánh đến đây thì ta còn phải lo kéo ngươi chạy trước, học côn làm gì?
- Em không chạy đâu! Em sẽ ở lại giúp các sư thúc!
Nó vừa nói vừa nhặt một cành tre khô bên đường, vung lên mấy cái ra vẻ oai phong. Nhưng mới xoay được hai vòng, đầu cành đã mắc vào dây phơi áo, kéo rơi cả một chiếc quần vá chằng vá đụp xuống đất.
Từ trong bếp, một tiếng quát lập tức vang ra:
- Mót! Thằng ranh kia! Lại phá phách gì đấy?
Mót giật bắn mình, vội nhặt chiếc quần lên nhét vào tay Khánh.
- Anh cầm hộ em một tí!
Chẳng đợi cậu đáp, nó đã co giò chạy biến về phía sân rau.
Khánh nhìn chiếc quần trong tay, vừa buồn cười vừa bất đắc dĩ lắc đầu.
Phía xa, từ hướng lò rèn bỗng vọng lại một tiếng kim loại va chạm chát chúa. Sau đó là tiếng người quát tháo, rồi im bặt.
Khánh ngẩng đầu nhìn về phía ấy. Xem ra chuyện giữa tăng binh và quân Thiên Sứ vẫn chưa đến hồi kết.
Mặt trời chiếu xiên qua bóng cây trên Phong Nguyệt quán.
Nắng đã lên cao, rọi qua những ô cửa chạm hoa, in thành từng vệt sáng trên nền gạch. Ngoài phố, tiếng người mua bán, tiếng bánh xe lộc cộc thỉnh thoảng vọng vào, xen lẫn tiếng đàn sáo từ những gian lầu phía trước.
Trong gian phòng khuất phía sau tầng hai, Tố Nga ngồi một mình trước án thư.
Nàng mặc áo lụa màu thiên thanh, bên ngoài khoác hờ một lớp sa mỏng. Mái tóc đen vấn lỏng sau gáy, để vài lọn buông xuống bên gò má. Làn da trắng mịn, đôi mắt phượng hơi rủ và nét môi điểm son nhạt khiến dung nhan nàng thêm phần diễm lệ. Dẫu vậy, vẻ lười biếng thường thấy trên gương mặt ấy lúc này đã nhường chỗ cho một nét đăm chiêu hiếm gặp.
Trên án gỗ đặt một nghiên mực, một cây bút lông cán ngọc cùng dải lụa trắng trải phẳng.
Tố Nga nhấc bút, thong thả viết từng hàng chữ nhỏ:
"Thưa chủ nhân,
Việc chủ nhân căn dặn, nô tì đã làm xong. Đứa trẻ ấy hiện vẫn bình an tại chùa Hư Vân.
Nô tì mạo muội nhiều lời, chẳng rõ vì sao chủ nhân lại coi trọng một thiếu niên như vậy. Hắn tuy có chút khác thường, song tu vi còn nông cạn, kiến thức cũng chẳng có bao nhiêu."
Ngòi bút dừng lại một thoáng.
Tố Nga nhìn những dòng chữ vừa viết, khóe môi khẽ nhếch lên như nhớ tới điều gì đó, nhưng nụ cười ấy rất nhanh đã biến mất. Nàng chấm thêm mực, viết tiếp:
"Ngoài ra, nô tì xin chủ nhân chớ quên lời hứa năm xưa. Hai phách của nô tì đã khiếm khuyết quá lâu, kính mong chủ nhân sớm ban cho một phiến Tục Phách, để nô tì có cơ hội tu bổ hồn phách.
Nô tì xin cúi đầu bái tạ."
Đặt bút xuống, nàng lặng lẽ nhìn dải lụa hồi lâu.
Ngoài cửa sổ, một con chim sẻ đậu trên mái ngói, ríu rít mấy tiếng rồi vụt bay đi. Tố Nga ngước nhìn theo, bàn tay vô thức đặt lên ngực.
Tố Nga khẽ thở ra, lấy một cây kim bạc từ hộp trang sức.
Đầu kim chạm nhẹ vào ngón trỏ. Một giọt máu đỏ sẫm rịn ra, rơi xuống giữa dải lụa.
Ngay khi giọt máu thấm vào mặt vải, những nét mực bỗng lay động. Một ngọn lửa xanh nhạt lặng lẽ bốc lên từ vết máu, chạy dọc theo từng hàng chữ. Không khói, không tro, cũng chẳng có chút hơi nóng nào.
Chỉ trong chớp mắt, dải lụa cuộn lại, hóa thành một vệt sáng mảnh như tơ.
Tố Nga khẽ phất tay áo.
Vệt sáng luồn qua song cửa, lao vút lên khoảng trời phía trên những mái ngói, thoáng chốc đã mất hút.
Nàng dùng khăn lau sạch vết máu trên đầu ngón tay.
- Một đứa trẻ làng chài...
Tố Nga khẽ lẩm bẩm.
Nghĩ đến vẻ mặt lúng túng của Khánh trong lần gặp trước, nàng bất giác mỉm cười.
- Rốt cuộc ngươi có gì mà khiến người ấy phải bận tâm đến thế?
Từ ngoài hành lang, tiếng một tì nữ vang lên:
- Cô nương, dưới lầu có khách đến tìm!
Tố Nga khép nắp nghiên mực, thoáng liếc về phía cửa.
- Biết rồi. Bảo họ đợi một lát.
Giọng nàng mềm mại, trở lại vẻ biếng nhác quen thuộc.
Nàng đứng dậy, thong thả bước về phía bàn trang điểm. Chuỗi chuông bạc nơi cổ chân khẽ ngân lên theo từng bước đi.
Ngoài cửa sổ, nắng gần trưa vẫn trải vàng trên những mái nhà Thăng Long.