Đêm thứ hai, lửa trên sườn núi phía tây nhiều gấp ba đêm trước.
Tướng giữ ải đứng trên lầu cổng đếm, hết bên vách này sang bên vách kia, đến chỗ lửa nhòe vào nhau thì thôi. Thanh Minh đứng cạnh, tay đặt trên lỗ châu mai, không đếm. Chàng nhìn khói. Khói bốc thẳng và mỏng, mỗi đống chỉ đủ cho vài người ngồi hơ tay.
“Hôm qua mười vạn,” tướng giữ ải nói. “Đêm nay…”
“Dời nỏ binh sang vách bắc.” Thanh Minh bảo viên thị vệ đứng sau. “Ở cổng chỉ để lại ba chục người.”
“Vách bắc dựng đứng, điện hạ.”
“Ừ.”
Thị vệ lui đi. Tướng giữ ải nhìn xuống bãi tuyết trước cổng, nơi hai cỗ xe lương nằm nghiêng, bánh gãy một bên, bao tải rách miệng, gạo vãi thành vệt trắng đục trên tuyết. Chiều qua chính ông ta đã sai người đẩy chúng ra đó.
Đèn tắt khi canh hai điểm. Nỏ binh nằm sấp trên đỉnh tường vách bắc, má áp vào đá lạnh. Gió không lớn. Một viên sỏi lăn xuống, rồi thêm một viên.
Thanh Minh đứng sau lưng họ, ngón tay gõ lên chuôi thương. Một nhịp, hai nhịp.
“Chưa.”
Dưới vực có tiếng dây thừng cọ vào đá, tiếng thở của nhiều người cùng leo, lẫn một tiếng ho bị ghìm lại.
“Chưa.”
Một bàn tay đen bám lên mép tường.
“Bắn.”
Dây nỏ bật đồng loạt. Dưới vực tiếng người rơi nối nhau, rồi một kẻ gào lên bằng thứ tiếng chẳng ai trên tường hiểu. Nỏ binh lên dây lần nữa. Có tên đã leo gần đến nơi, ngậm lưỡi đao giữa răng, bị mũi tên ghim vào cổ họng, buông tay thì lưỡi đao rạch nát cả môi mình.
Ở cổng, mấy chục bóng người đang bò trên bãi tuyết về phía hai cỗ xe. Ba chục nỏ binh còn lại ngoái nhìn Thanh Minh. Chàng gật đầu một cái.
Chưa đến nửa khắc thì xong.
Sáng ra, tuyết dưới chân vách bắc đỏ từng mảng. Người đếm xác báo lên hai trăm bảy mươi. Thanh Minh không nghe. Chàng đang nhìn lên một mỏm đá cao trên sườn tây, nơi một kỵ sĩ cưỡi ngựa đen ngồi bất động từ lúc trời hửng.
“Thiên Lang,” tướng giữ ải nói.
Bên cạnh kỵ sĩ ấy còn một người đứng bộ, khoác giáp theo kiểu cả ải này đều quen mắt. Giáp quân nhà.
Thanh Minh nhìn người ấy lâu hơn nhìn Thiên Lang.
“Cho chôn,” chàng nói, rồi quay xuống thang. “Chôn cả hai bên.”
Hôm sau, đến chiều thì Tạ Phụng bị giải tới ải trên một cỗ xe có mui. Hắn bước vào trướng, thấy Thanh Minh ngồi sau án thư gặm dở miếng bánh khô, liền quỳ ngay ngưỡng cửa, đầu gần chạm đất.
“Điện hạ, thần là Tạ Phụng, thần coi kho ngoại thành, thần với Lữ tướng quân chỉ là… à, họ hàng bên vợ thôi, vợ thần với phu nhân tướng quân là chị em con dì, mà cũng chẳng thân, ba năm mới gặp một lần, dịp giỗ.”
“Ăn đi.” Thanh Minh đẩy nửa miếng bánh còn lại ra mép án.
“Thần không dám.”
“Ăn.”
Tạ Phụng bò tới nhận lấy, nhai ngay, mắt vẫn dán xuống nền. Trong trướng có một lò than nhỏ, hơi ấm chỉ lan được đến chỗ bàn.
“Đường đi vất vả không?”
“Dạ, đường tuyết nên xe chậm, mà phu xe thần không quen, nó cứ đi sát bờ mương, thần bảo mấy lần nó không nghe, nó nói đường quen. Thần thì sợ độ cao.” Hắn nuốt miếng bánh, ho sặc. “Điện hạ, thần xin hỏi, nhà thần ở nhà có chuyện gì không ạ? Người dẫn thần đi không nói. Vợ thần hay lo.”
“Nhà ngươi ở đâu?”
“Dạ phố sau chợ Tây, gần cái giếng có cây gạo. Cây gạo ấy cổ lắm, mùa hoa rụng đầy sân nhà thần, vợ thần quét mãi không sạch, cứ than nhà người ta chẳng có cây gạo…”
“Kho của ngươi có mấy gian?”
“Ba gian. Gian trong cùng dột. Dột từ hồi tháng bảy, thần báo mãi, bên trên cứ bảo chờ. Tháng bảy mưa to, thần nhớ ngày hai mươi mốt, vì hôm đó con thần ốm, thần phải về sớm, mà đúng hôm đó có mười hai xe đến kho. Mười hai xe.” Hắn khựng lại, nuốt nước bọt, rồi nói tiếp nhanh hơn, như muốn lấp chỗ vừa hở. “Gạo mốc đấy ạ. Gạo mốc thì nặng lắm, ướt, thần khuân nhiều rồi nên biết. Ông Hứa dặn cứ để đó đừng đụng, đừng ghi sổ, chờ ông tự lo liệu, thần cũng chẳng dám hỏi, vì gian ấy vốn dột mà.”
“Mưa hôm ấy lớn lắm?”
“Dạ lớn. Gió nữa. Mái ngói bay mất một mảng bên cửa sau.”
“Anh rể ngươi uống rượu gì?”
“Dạ?”
“Lữ Khoan. Hắn uống rượu gì?”
“Dạ… rượu nếp. Rượu nếp thôi điện hạ, ông ấy không ưa rượu mạnh, bảo rát họng. Có lần ở nhà thần ông ấy uống nhầm chén của thằng con thần, chén ấy pha nước, ông ấy cười cả buổi…”
Thanh Minh gật. Chàng với lấy chén nước trên án, uống một ngụm, không hỏi thêm câu nào về mười hai xe gạo mốc.
“Đêm nay ngươi ngủ ở đây,” chàng nói. “Có chăn. Cho người mang thêm than.”
Tạ Phụng ngẩng lên, lần đầu nhìn thẳng mặt chàng. “Thần ngủ ở đây? Rồi bao giờ thần được về nhà ạ? Vợ thần…”
“Mai.”
Hai thị vệ đỡ hắn đứng dậy. Ra đến cửa hắn vẫn ngoái đầu lại, miệng còn lẩm bẩm về cái chăn, về chuyện ngủ nhà lạ khó ngủ, thần xin phép mang theo cái gối nếu được. Tấm màn cửa buông xuống, nuốt nốt phần còn lại.
Hứa Tĩnh đến ải vào sáng hôm sau nữa, ngồi trên cỗ xe hai ngựa, bên cạnh là chiếc hộp gỗ sơn đen buộc dây đỏ. Trên nắp hộp còn một lớp tuyết mỏng chưa kịp tan.
Ông ta giữ sổ lương nhập xuất, làm quan qua ba đời vua, tóc bạc mà lưng vẫn thẳng, quen đứng ở cuối điện, người ta chỉ nhớ đến khi cần tra một con số. Đêm Đông Chí ông ta cũng quỳ ở gian điện ấy, ngay sau lưng Thanh Minh, cạnh long sàng. Nay ông ta được phái đi làm việc của kẻ khác: mang tin nhập quan đến ải, theo ý triều thần, vì không ai trong triều chịu tự nguyện đi.
Thanh Minh nhận tin ngay ở sân thành, trước khi ông ta kịp bước vào trướng. Chàng nghe xong, gật đầu, rồi đi về phía chiếc thùng nước dưới chân tường, nơi quân lính vẫn rửa tay trước bữa ăn.
Chàng rửa tay. Nước trong thùng đục màu tro, váng mỡ nổi lờ lờ. Chàng nhúng tay xuống, chà từng ngón, rồi dừng, nhìn mặt nước ửng đỏ, hất đi. Một người lính múc nước mới. Chàng rửa lần hai. Lần ba. Đến lần thứ tư, người lính múc nước không dám nhìn nữa, chỉ đứng cầm gáo chờ.
Hứa Tĩnh đứng bên cửa trướng, hai tay ôm hộp. Ông ta đợi Thanh Minh lau tay vào tà áo rồi mới bước lên, đặt hộp xuống án, mở nắp, lấy ra một nén hương dài cùng cuốn sổ lễ. Ông ta đọc, giọng đều, từng dòng: giờ nhập quan, ai khiêng, ai đứng ngoài cửa điện, ai được vào, ai không. Đọc đến tên người nào, ông ta dừng nửa nhịp.
Thanh Minh nghe hết. Chàng cầm nén hương, đưa lên ngửi, rồi đặt xuống, không đốt. Chàng nhìn cuốn sổ lễ một lúc, như đang xem chữ. Nét chữ Hứa Tĩnh đều, đẹp, nét nào cũng đúng chỗ.
Chàng bảo Hứa Tĩnh ở lại. Việc đếm lương trên ải, từ nay giao cho ông ta.
Hứa Tĩnh bái tạ, hai lần, lần sau cúi sâu hơn lần đầu. Tuyết trên nắp hộp đã tan thành nước, chảy xuống mép gỗ.
Chiều ấy, Thanh Minh ngồi một mình ngoài sân thành, lưng dựa chân tường. Gió bắc thổi dọc lối đi giữa hai dãy trướng. Chàng mài Đảm Long thương, chậm, từng nhát một, theo đúng chiều lưỡi. Lưỡi thương chưa cùn. Mài đến nhát thứ mấy chục chàng vẫn chưa dừng, và trong ải không ai dám đi ngang qua chỗ ấy.
Thư từ kinh thành đến khi đèn đã thắp, nét chữ vội, đóng dấu quan trấn kinh. Thanh Minh đọc dưới đèn.
Phủ Lữ Khoan đã vây xong từ canh tư, người trong phủ chưa ai ra khỏi cổng. Sáng ra quan vào khám thư phòng, thấy trên giá sách hở một ngăn, bên cạnh đống thẻ tre vẫn xếp ngay ngắn. Lò sưởi trong phòng còn ấm. Tro trong lò sạch bong.
Lính gác từ đầu hôm chỉ đứng ngoài cổng, chưa ai vào trong.
Chàng đọc hai lượt. Rồi gấp thư, đút vào ống tay giáp, hỏi tướng giữ ải đêm nay ai canh vách bắc.
Canh tư, có tiếng gọi dưới cổng.
“Mở cổng! Tả quân về! Mở cổng cho anh em!”
Giọng ấy khàn, hơi ồ, thứ giọng quen quát giữa gió. Trên tường có người đang cúi buộc lại dây giày, anh ta ngừng tay.
Dưới bãi tuyết, ba nghìn người đứng thành hàng, đuốc cắm dọc hai bên, lá cờ tả quân của Thanh Tử phần phật giữa đội ngũ. Người giương cờ đứng trước nhất, đầu trần. Mặt hắn lộ ra dưới ánh lửa: râu rậm đã bạc ở cằm, một vết sẹo chạy dọc má trái từ thuở còn đánh bộ tộc.
“Các ngươi nhận ra ta chứ?” Hắn ngửa mặt lên tường. “Ta bế Đại hoàng tử lên yên ngựa lần đầu. Ta từng ăn cơm nhà các ngươi. Mở cổng, ta kể cho nghe chuyện đêm ấy, có kẻ bày mưu hại anh em mình. Mở ra!”
Một người lính của quân cũ Thanh Tử đã bước tới đầu cầu thang. Rồi một người nữa, rồi thêm người nữa. Họ đứng dồn ở miệng thang, không ai bước xuống, không ai quay lại.
Thanh Minh đứng trên lầu cổng, tay phải vịn lỗ châu mai. Chàng nhìn xuống Lữ Khoan một lúc, rồi quay sang viên tướng coi quân cũ đang đứng cách ba bước, mặt xám ngắt.
“Ông ta đã gọi tên ngươi chưa?”
“Dạ… chưa, điện hạ.”
“Đợi.”
“Mở cổng!” Lữ Khoan gào lần nữa, giọng vỡ ra ở chữ cuối. “Các ngươi muốn chết ở đây vì một thằng ranh đang run lẩy bẩy trên kia sao?”
Một người lính ở miệng thang ngoái nhìn lên lầu. Thanh Minh nhìn lại, không nói. Người lính chớp mắt, rồi đi ngược lên, đứng vào hàng.
“Nỏ.”
Dây nỏ bật. Cán cờ tả quân gãy đôi, lá cờ đổ xuống giữa đám người dưới bãi. Im lặng một nhịp, rồi cả ba nghìn người đồng loạt xông lên.
Chúng chạy thẳng vào chân tường, mang theo thang gỗ buộc dây da, mang theo cả hai cây trụ lớn cưa vội từ rừng, đầu bịt sắt. Cung thủ trên thành bắn đến rã tay. Tên cắm vào tuyết, vào khiên, vào lưng người, nhưng hàng trước ngã thì hàng sau đã giẫm lên. Một cây trụ đập vào cổng, nghe như xương gãy. Cây thứ hai nện theo ngay.
Thang gỗ dựng lên. Ba, bốn, rồi hơn chục chiếc cùng lúc.
“Dầu!”
Nồi dầu sôi nghiêng xuống, lửa bén vào áo da, vào râu tóc. Tiếng gào dưới chân tường không còn ra tiếng người. Có kẻ vẫn leo, hai tay bám chặt chiếc thang đang cháy.
Viên tướng coi quân cũ không còn đứng sau Thanh Minh nữa. Hắn đã chạy tới đoạn tường bên trái, túm một người lính cũ khỏi miệng thang, hất vào vách, quát vào mặt: “Nhìn xuống kia! Nhìn cho kỹ!” Rồi tự mình rút đao chặt thang. Dây da bung, thang gỗ nghiêng ra ngoài, kéo theo năm sáu kẻ rơi xuống.
Bên vách bắc có tiếng hô lạ.
Thanh Minh không quay đầu. Một thị vệ chạy tới, thở không ra hơi: “Điện hạ, vách bắc, có người từ trong tường…”
“Trong tường nào?”
“Dây… có dây thừng.”
“Bao nhiêu người?”
“Hơn hai chục, đã leo được nửa chừng.”
“Nỏ binh vách bắc?”
“Vẫn ở đó. Họ đang bắn.”
“Cổng chính còn chịu được bao lâu?”
Thị vệ nuốt khan. “Cây trụ thứ ba đang tới.”
“Ra cổng hông.” Chàng rút Đảm Long thương khỏi giá. “Gọi kỵ binh. Một nghìn một trăm người. Ta đi trước.”
Cổng hông chỉ rộng đủ hai ngựa đi song song. Thanh Minh ra trước, bạch mã vừa qua ngưỡng đã chạm một mũi giáo, chàng vặn người gạt đi, mũi thương đâm vào cổ kẻ cầm giáo. Phía sau, kỵ binh tràn ra từng cặp, từng cặp. Tuyết bắn tung dưới vó như nước vỡ bờ.
Chúng đang dồn cả vào cổng chính. Lưng chúng quay về phía cổng hông.
Một nghìn một trăm kỵ vòng theo chân tường, cắt vào sườn đám đông ở chỗ chúng mỏng nhất. Hàng ngũ quân địch toác ra như bao thóc bị rạch. Người ngã, ngựa loạn, cờ đổ. Đảm Long thương không ngơi. Kim giáp đẫm một vạt đỏ từ vai xuống thắt lưng, chẳng rõ máu ai.
Rồi giữa đám loạn, chàng thấy chòm râu bạc.
Lữ Khoan đứng cách chàng chừng ba chục bước, mất mũ, tay cầm thanh đao đã mẻ, vẫn đang hô gì đó với đám tả quân đang tan. Hắn cũng thấy chàng. Hai người nhìn nhau qua đầu người, qua khói. Lữ Khoan ngẩng lên, không né, miệng mở ra như muốn nói điều gì.
Thanh Minh thúc ngựa.
Hắn quay đầu ngựa chạy về phía sơn khẩu. Một toán kỵ Hắc Lang từ hướng tây lao ra chắn giữa hai người, cờ đen phần phật, mũi giáo chĩa ngang. Đảm Long thương quét xuyên hai kẻ đi đầu, nhưng khi chàng xoay ngựa tìm lại bóng râu bạc ấy, chỉ còn bụi tuyết và một con ngựa trống yên.
“Điện hạ!”
Có người kéo cương chàng. Là viên tướng coi quân cũ, mặt bê bết, một bên tai rách toạc. “Điện hạ, vách bắc!”
Ở vách bắc, nỏ binh vẫn đứng nguyên chỗ, nhưng không còn bắn. Hai mươi mấy xác nằm rải trên đoạn tường hẹp, vài kẻ trong số đó mặc áo lính coi ải, không phải giáp Hắc Lang. Một sợi dây thừng buộc vào chốt sắt phía mặt trong tường, thòng xuống vực. Nút buộc còn mới, gọn gàng, thứ nút lính thợ vẫn dùng.
Thanh Minh nhìn sợi dây rất lâu.
“Ai gác đoạn này chiều qua?”
Nỏ binh đứng gần nhất cúi đầu. “Đổi gác lúc giờ thân, điện hạ. Người nhận ca là…” Anh ta nhìn quanh tìm một cái tên, không ai đáp. “Người đến đổi ca có giấy của quan coi sổ lương, xin vào kiểm dây thừng dự trữ. Sổ ghi là kiểm đếm.”
“Giấy ấy đâu?”
Nỏ binh lục túi áo, đưa ra một mảnh thẻ tre nhỏ. Chữ trên đó đều, đẹp, nét nào cũng đúng chỗ.
Thanh Minh cầm lấy, siết các ngón tay quanh nó, rồi quay lưng đi dọc tường. Bình minh bắt đầu lên sau lưng chàng, nhuộm hồng mép tuyết, nhuộm cả sợi dây thừng đang đung đưa nhẹ trong gió.
Ở cuối dãy kho lương, một ngọn đèn vẫn còn sáng. Hứa Tĩnh đứng dưới ngọn đèn ấy, lưng thẳng, cuốn sổ ôm trước ngực, đang nhìn ra phía vách bắc.