Thuở Hoang Đàn, các bộ tộc chìm trong vòng xoáy đánh nhau chẳng dứt. Kẻ mạnh đem quân cướp đất kẻ yếu; kẻ yếu kết bè giữ mạng, chờ ngày phản đòn. Nhưng những liên minh dựng lên giữa khói lửa hiếm khi qua nổi một mùa gặt. Hễ lợi đổi chiều, bạn lại quay giáo vào nhau, và những trận mới nổ ra ngay trên mảnh đất vừa qua binh đao.
Ruộng đồng bị giày nát, lúa chín chưa kịp gặt đã hóa tro. Kho thóc bị vét sạch, làng xóm xác xơ, dân đói phải bỏ quê, tản đi khắp các miền đất hoang. Trên những con đường đứt đoạn giữa rừng sâu và đồng vắng, bọn cướp tha hồ hoành hành, chặn đường lấy của, giết những kẻ chẳng còn sức chống cự.
Đánh nhau hết năm này sang năm khác, hận chồng lên hận. Mỗi lần binh đao quét qua, đất lại hoang thêm một phần, người sống sót lại thêm một lần lưu lạc. Đến mỗi mùa đông, trên những miền từng có người ở lại hiện ra những khoảng đen trơ trụi, nơi lửa đã nuốt nhà cửa, ruộng vườn và cả dấu vết của những kiếp người từng sống ở đó.
Giữa cảnh hỗn mang ấy, có một bộ tộc Việt cổ vươn lên vượt xa phần còn lại. Họ đông hơn, giàu hơn, và giỏi tổ chức, giỏi chế tác hơn hẳn. Của cải đủ nuôi một đạo quân thường trực. Binh khí rèn thành nhiều loại, quân ngũ chia rành mạch: cung thủ, nỏ binh, thương binh, thuẫn binh, kỵ binh, mỗi đội giữ một phận sự riêng. Trong quân còn có xung thành xa và máy bắn đá, những cỗ máy đủ sức nghiền nát lũy gỗ, phá tan hàng rào cọc tre mà các bộ tộc khác vẫn coi là thành trì.
Thành quách của họ cũng khác. Tường đắp bằng đất nện từng lớp chắc nịch, ốp gạch bên ngoài, cứ cách một quãng lại nhô ra một mã diện, khống chế cả những đoạn tường liền kề. Đó là công trình đã được tính toán kỹ, đủ sức cầm cự trước những đạo quân đông và thiện chiến, chứ chẳng còn là vòng lũy dựng vội để chống một đợt tập kích.
Trong thời mà phần lớn bộ tộc còn dựa vào sức người, gỗ đá và lòng liều lĩnh để giành đất sống, họ đã bắt đầu lấy của cải, nghề thợ và binh pháp để định ngôi thắng bại.
Người đứng đầu bộ tộc ấy là Thanh Giao.
Dưới tay ông, bộ tộc dần vượt khỏi cái vóc của một thế lực bộ lạc, mở rộng bờ cõi, thu phục các vùng đất lân cận. Từ đó nước Hoa Việt hình thành, lớn lên qua từng cuộc chinh phạt, cho tới khi đủ sức áp đặt trật tự lên những bộ tộc lớn nhỏ xung quanh.
Các bộ tộc quy phục phải triều cống đúng kỳ, cắt đất dâng nộp để đổi lấy yên ổn. Kẻ nào chống lệnh, triều đình đem quân đến tận đất của chúng. Chẳng cần năm nào cũng động binh, cũng chẳng cần diệt hết những kẻ bất tuân. Chỉ cần một bộ tộc cãi lệnh bị đánh gục, những bộ tộc còn lại tự biết đong đếm cái giá trước khi cầm vũ khí.
Chiến tranh giữa các bộ tộc vì vậy thưa dần. Thù cũ chưa chắc đã tan, kẻ từng giành đất với nhau chưa chắc đã thôi nuôi hận, nhưng chẳng ai dám tùy tiện gây chiến khi còn phải tính đến đạo quân của Hoa Việt. Kẻ nào vung đao trước, kẻ ấy hứng lấy đòn trừng phạt của bá chủ.
Người đời gọi đó là hòa bình.
Đường sá quả có yên hơn, ruộng đất được cày cấy lâu dài, những cuộc chém giết triền miên cũng ngớt. Song nền hòa bình ấy chẳng sinh ra từ chuyện các bộ tộc đã biết sống thuận với nhau, cũng chẳng phải lòng quy phục tự nguyện. Nó được giữ bằng thành trì, binh khí và đạo quân lúc nào cũng sẵn sàng kéo tới trước mặt kẻ bất tuân.
Họ thôi đánh nhau vì có một thế lực đủ mạnh để biến chiến tranh thành món hàng đắt, chứ chưa hẳn vì đã học được cách chung sống.
Chừng nào Hoa Việt còn đủ sức bắt mọi kẻ cúi đầu, trật tự ấy còn nguyên. Nhưng một khi bá chủ yếu đi, những bàn tay từng cung kính dâng cống phẩm sẽ lại tìm đến vũ khí. Lúc ấy, những mối thù bị nén qua bao năm sẽ lần lượt trồi lên, và nền hòa bình tưởng bền kia sẽ lộ ra bản chất thật của nó: một thứ trật tự chỉ đứng vững chừng nào chưa ai đủ sức đạp đổ.
Và rồi đến một đêm, trật tự ấy bị thử.
Đêm Đông Chí, tuyết phủ trắng sân Điện Nguyên Hoa.
Trong điện, nến cháy leo lét. Ánh vàng chao nghiêng trên màn trướng, hắt xuống giường rồng nơi Thanh Giao đã nằm mê man suốt ba ngày. Mặt ông vàng như sáp, hơi thở mỏng đến mức thầy thuốc phải cúi sát mới nhận ra. Mười ngón tay gầy guộc buông thõng bên mép giường.
Triều thần quỳ kín gian điện. Chẳng ai dám cất tiếng.
Thanh Minh quỳ cạnh giường rồng, hai tay ôm bàn tay lạnh ngắt của cha. Từ đầu đến giờ, ông chưa rời đó nửa bước.
Đúng lúc ấy, cánh cửa điện bật tung.
Gió tuyết ùa vào cùng một người lính cấp báo. Giáp hắn lấm bùn, áo choàng rách một mảng, vừa qua ngưỡng cửa đã khuỵu xuống nền ngọc. Hắn chống tay định đứng dậy nhưng lại đổ gục, giọng đứt quãng vì kiệt sức.
“Tâu điện hạ… Đại hoàng tử Thanh Tử bị ám hại.”
Thanh Minh ngẩng đầu.
Người lính cúi rạp, hai hàm răng nghiến chặt.
“Kẻ ra tay là quân phản loạn. Chúng xuất phát từ chính quân của ngài!”
Cả điện chấn động, nhưng chẳng ai thốt nên tiếng kinh hô. Mọi ánh mắt dồn về phía Thanh Minh, rồi vội vã cúi xuống.
Trên giường rồng, mí mắt Thanh Giao khẽ động.
Người lính khựng lại một thoáng, rồi cắn răng nói tiếp:
“Còn một tin nữa…”
Hắn ngẩng lên, giọng khản đặc.
“Hắc Lang đã nổi dậy ở phía tây Thiên Môn quan. Mười vạn kỵ binh vượt sơn khẩu, đang ép sát cửa ải!”
Lần này, đến những lão thần từng trải bao phen sóng gió cũng chẳng giữ nổi vẻ điềm tĩnh. Thanh Tử bị giết, quân nhà làm phản, Hắc Lang đem mười vạn kỵ ập tới: ba tai họa cùng giáng xuống trong một đêm.
Thanh Giao nằm bất động. Ông đã không còn nghe rõ lời tâu, nhưng hai chữ Thanh Tử vẫn xuyên qua cơn mê, chạm tới chút tỉnh táo cuối cùng.
Đôi môi khô nứt khẽ run.
Ông quay đầu, chậm chạp nhìn Thanh Minh. Đôi mắt đục mờ dừng lại trên mặt con, rồi từ từ ngước lên mái điện tối đen, như còn một câu muốn hỏi trời mà chẳng sao thốt thành lời.
Máu trào ra khỏi miệng, thấm đỏ vạt gối.
Bàn tay trong tay Thanh Minh bỗng buông hết sức lực.
Thanh Giao băng hà.
Triều thần đồng loạt cúi đầu. Có người run run nhắm mắt, có người siết chặt hai bàn tay, nhưng chẳng ai dám khóc thành tiếng. Bên ngoài, gió tuyết vẫn rít qua khe cửa, lạnh lẽo như thể trời đất chưa hề hay một triều đại vừa mất người đứng đầu.
Thanh Minh nhẹ nhàng đặt tay cha xuống dưới lớp chăn gấm, kéo mép chăn che kín những ngón tay đã cứng, rồi lặng lẽ đứng dậy.
Khi quay lại, nỗi đau trên mặt ông đã bị nén xuống, chỉ còn đôi mắt lạnh đi trông thấy.
“Quân phản loạn…”
Ông dừng lại, nhìn người lính đang quỳ dưới điện.
“Ai cầm đầu?”
Người lính nuốt xuống ngụm máu trong miệng rồi mới đáp được.
“Phó tướng Lữ Khoan. Tả quân của Đại hoàng tử.”
Trong điện có người hít vào một hơi rất khẽ. Cái tên ấy ai cũng quen. Lữ Khoan theo tiên đế từ thuở còn đánh bộ tộc, từng bế Thanh Tử lên yên ngựa lần đầu.
Thanh Minh chỉ nhìn người lính.
“Kể từ lúc quân xuất phát.”
Hắn kể, từng đoạn một, đứt quãng. Đại hoàng tử dẫn quân ra đón địch, Hắc Lang giả thua ba lần liền, lần nào cũng bỏ lại vài trăm xác và vài cỗ xe lương. Đến lần thứ ba, quân ta đuổi vào Hắc Phong Cốc, một lòng chảo hẹp chỉ có hai lối ra. Tả quân do Lữ Khoan chỉ huy được giao giữ cửa sau.
“Cửa sau mở lúc nào?”
“Chưa đến canh hai.”
“Ai mở?”
“Chính tả quân. Họ rút đi trước. Một khắc sau thì quay lại từ phía sau, chém vào thân binh của Đại hoàng tử.” Hắn thở dốc. “Cùng lúc ấy Hắc Lang bịt cửa trước.”
“Ngươi tận mắt thấy?”
“Thần thấy cờ hiệu tả quân. Mũi cờ chĩa vào lưng chúng thần.”
Thanh Minh gật đầu một cái. “Đại hoàng tử.”
“Thần được thân binh đẩy ra cửa hông trước. Tin ngài…” Giọng hắn tắt đi, rồi cố nối lại. “Người thân binh cuối cùng chạy ra đã nói lại với thần.”
Trong điện lặng đi một lúc. Gió tuyết gõ vào khung cửa.
“Tả quân bao nhiêu người?”
“Tám nghìn.”
“Giờ Lữ Khoan ở đâu?”
“Thần không rõ. Lúc thần ra khỏi cốc, hắn đã dẫn quân chạy về phía tây.” Người lính cúi đầu. “Về phía Hắc Lang.”
“Ở kinh, hắn còn gì?”
Người lính ngẩng lên, lần đầu lộ vẻ ngạc nhiên vì có kẻ nghĩ tới điều ấy. “Vợ con hắn. Người thân cận. Một đội lính coi kho ngoài thành, do em vợ hắn quản.”
Thanh Minh quay sang hàng quan võ. Ông không nâng giọng.
“Vây kín phủ Lữ Khoan trước khi trời sáng. Giam cả nhà, giữ nguyên người, giữ nguyên đồ đạc. Ai đụng vào một tờ giấy trong phủ, kẻ đó ta xử.”
Một vị tướng bước ra nửa bước. “Điện hạ, giết cả họ…”
“Ta bảo giam.” Thanh Minh nhìn ông ta. “Hắc Lang mua Khoan bằng vàng, bằng đất hay bằng một lời hứa, thứ ấy cũng đã qua tay một kẻ nào đó trong kinh trước khi tới tay hắn. Ta cần người ấy còn sống để hỏi.”
Vị tướng lùi lại, trán rịn mồ hôi dù trong điện lạnh như hầm băng.
“Đội lính coi kho, thay bằng người khác. Em vợ hắn thì dẫn đến đây, đừng để hắn biết ta đang tìm.” Ông ngừng một nhịp. “Quân của Thanh Tử còn ở kinh bao nhiêu?”
Chẳng ai đáp ngay. Cuối cùng một lão thần mới ngập ngừng: “Bẩm, chừng ba nghìn. Toàn người trung quân và cánh hữu, không theo Lữ Khoan.”
“Ba nghìn người ấy, hôm nay đã có ai khóc cho Đại hoàng tử chưa?”
Lão thần há miệng, chẳng nói được gì.
Thanh Minh cũng chẳng cần câu đáp. Ông bước tới án thư cạnh giường rồng, trải địa đồ ra, đặt tay lên vùng núi phía tây. Ngón cái dừng ở Thiên Môn quan.
“Sơn khẩu phía tây cửa ải rộng bao nhiêu?”
Một tướng già đáp: “Chỗ hẹp nhất, mười ngựa đi hàng ngang.”
“Mười vạn kỵ binh qua một khe hẹp mười ngựa.” Ông nhìn địa đồ, rồi nhìn sang Hắc Phong Cốc ghi bằng nét mực nhỏ ở phía dưới. “Hắc Lang vừa dạy ta cách chúng đánh. Dụ vào chỗ hẹp, bịt hai đầu.”
“Điện hạ,” vị tướng khi nãy dè dặt lên tiếng, “chư tướng cho rằng nên cố thủ, chờ…”
“Chờ viện binh?”
Ông không quay lại. Ba chữ ấy rơi xuống điện, nhẹ và lạnh. Vị tướng khép miệng.
Thanh Minh buông tay khỏi địa đồ, lúc này mới quay đầu nhìn thân thể cha trên giường rồng, một lần, rồi nói với người đứng gần nhất.
“Mang giáp của ta ra. Dắt ngựa đến cửa điện.”
Cánh cửa điện mở ra, tuyết thổi tận lên bậc ngọc. Bạch mã đã đứng sẵn, hơi thở phả thành khói trắng. Thanh Minh khoác giáp vàng, nhận Đảm Long thương từ tay thị vệ, chẳng ngoảnh lại điện.
Trên đường ra ngoài thành, ông cho gọi viên tướng coi ba nghìn quân cũ của Thanh Tử. Người ấy chạy đến, mặt tái đi.
“Quân của ngươi có bao nhiêu kỵ?”
“Bẩm, một nghìn tám trăm.”
“Cho lên ngựa hết. Nỏ binh còn lại giao cho tướng giữ ải.” Thanh Minh nhìn thẳng vào hắn. “Họ đi cạnh ta.”
Viên tướng nuốt khan. “Điện hạ, những người này vừa mất chủ tướng. Cánh tả của họ…”
“Cánh tả của họ vừa chém vào lưng họ.” Ông thúc ngựa lên một bước. “Ai muốn rửa chuyện đó thì đi. Ai không đi, ngươi ghi tên.”
Chẳng có cái tên nào được ghi.
Gió tuyết đuổi theo họ suốt chặng đường. Đến chân Thiên Môn quan thì trời đã xám lại, tuyết ngớt dần, để lộ ải đứng chắn giữa hai vách núi, tuyết bám dày trên lỗ châu mai. Phía tây, nơi sơn khẩu mở ra, một dải đen đang trườn xuống: kỵ binh Hắc Lang, hàng nối hàng, cờ đen cắm trên lưng ngựa lay như bầy quạ.
Thanh Minh lên lầu cổng, đứng nhìn chúng lâu hơn chư tướng mong đợi. Ông đếm. Đầu đoàn đã ra khỏi khe, đang dàn dần trên bãi tuyết trước ải. Thân đoàn còn kẹt trong lòng sơn khẩu, ngựa chen vai nhau, đuôi đoàn chưa ra khỏi bóng núi.
“Chúng đang đi mười ngựa một hàng,” ông nói với tướng giữ ải. “Mười vạn người thì một canh giờ cũng chưa qua hết. Đợi chúng qua hết, dàn xong, ta chỉ còn nước chết trên thành.”
“Vậy thì…”
“Ta đánh vào đầu đoàn ngay bây giờ, lúc nó chưa dàn xong, thân đoàn chưa kịp đẩy lên.”
Tướng giữ ải nhìn bãi tuyết, rồi nhìn mười vạn bóng đen. “Một nghìn tám trăm kỵ, điện hạ.”
“Chỉ đánh cái đầu. Đánh xong thì quay về. Chớ đuổi vào khe.” Thanh Minh nhìn ông ta. “Nếu ta về không kịp, đóng cổng.”
Tướng giữ ải mở miệng, rồi nhận ra mình chẳng còn câu nào để nói tiếp.
“Mở cổng.”
Then sắt kéo lên, tiếng gỗ rền xuống nền đá. Bạch mã tung vó trên tuyết, một nghìn tám trăm kỵ theo sau, đạp tuyết bốc lên thành làn khói trắng quanh gót ngựa.
Hắc Lang thấy họ khi còn cách hai trăm bước. Tiếng tù và rúc lên, nghe đục như bị bóp nghẹt giữa hai vách núi. Đầu đoàn vội quay mũi, nhưng phía sau đang đẩy lên, và bãi đất trước ải chưa đủ rộng để quay đầu hàng nghìn con ngựa.
Mũi thương của Thanh Minh đâm vào hàng đầu của chúng.
Ông không dừng. Đảm Long thương quét ngang một vòng, hai kỵ sĩ Hắc Lang văng khỏi yên. Bạch mã giẫm lên người ngã, ông ghì cương xoay nửa vòng, cắt vào sườn một toán đang cố dàn trận. Giáp vàng giữa tuyết sáng đến mức tên bắn dồn cả về phía ông. Một mũi sượt qua vai, một mũi khác găm vào miếng giáp ngực, rung lên một tiếng rồi rơi xuống.
“Bên phải! Ép chúng vào vách!”
Quân ông theo tiếng hô mà đổi hướng. Hắc Lang bị dồn lại ngay chỗ chúng định dàn quân, cái bãi tuyết hẹp dần thành hình phễu.
Rồi ông thấy cờ.
Ở cánh trái đoàn địch, giữa những lá cờ đen, có một dải cờ khác màu. Cờ hiệu tả quân của Thanh Tử, giờ nằm giữa đám man kỵ. Chúng treo nó lên như chiến lợi phẩm, hoặc như một lời nhắn.
Phía sau ông, nhịp vó ngựa bỗng loạn.
Ông chẳng cần ngoái lại. Một nghìn tám trăm người cũng đã thấy dải cờ ấy. Có kẻ ghìm cương. Một hàng đang chậm lại.
Thanh Minh không quát. Ông thúc bạch mã lao thẳng về phía dải cờ, một mình, bỏ trận hình của mình lại sau lưng. Mũi Đảm Long thương xuyên qua ngực kẻ cầm cờ, cán cờ đổ xuống tuyết. Ông cúi xuống chặt đứt dây buộc, nâng dải cờ lên bằng mũi thương rồi quẳng xuống dưới vó ngựa mình.
Ngựa giẫm lên nó.
Một tiếng gầm vỡ ra từ phía sau, thô ráp, của những người vừa tìm lại được hơi thở. Hàng ngũ khép lại, đổ vào cánh trái Hắc Lang như một cái búa.
Thân đoàn địch còn đang đẩy lên phía sau, tiếng người la ngựa hí dội vào vách núi, hàng chục kỵ sĩ bị chính đồng đội chèn ngã xuống tuyết. Đầu đoàn gục dần. Mỗi lần thêm một hàng ngã, hàng kế sau lại xông lên, nhưng chỉ xông vào đúng chỗ Thanh Minh muốn chúng đến.
“Rút!”
Tù và quân ông rúc ba hồi. Ông kéo cương, bạch mã xoay đầu về phía ải, chẳng ngoái lại. Quân ông rời trận từng toán, vừa chạy vừa chém. Trên lầu cổng, cung thủ đồng loạt buông dây, mưa tên che kín lối lui.
Cổng ải khép lại sau lưng người cuối cùng.
Trời sáng hẳn, Hắc Lang rút khỏi chân ải. Chúng chưa tan vỡ, chỉ lui ra ngoài tầm tên, quay vào sơn khẩu, bỏ lại trên bãi tuyết chừng bốn nghìn xác người và ngựa. Mười vạn kỵ vẫn còn đó. Hắc Lang chưa thua. Chúng chỉ biết thêm một điều về cái ải này.
Thanh Minh xuống ngựa giữa sân thành. Một nghìn tám trăm người xuất ải, về được một nghìn một trăm. Những người bị thương nằm dọc chân tường, tuyết quanh họ đã sẫm màu. Tướng giữ ải đứng sau ông, định nói gì đó, rồi thôi.
Ông đi dọc hàng người ấy, chậm rãi, dừng lại bên từng người còn mở mắt. Đến người cuối cùng, ông hỏi tên. Người lính đáp, ông gật đầu, bảo ghi lại.
“Điện hạ.” Tướng giữ ải bước lên. “Hắc Lang còn mười vạn, chúng sẽ tính lại.”
“Phải.” Thanh Minh nhìn về phía sơn khẩu, nơi bóng núi bắt đầu nhuộm xám. “Hôm nay chúng đã thấy ta đánh thế nào. Ngày mai chúng sẽ chẳng đi hàng ngang nữa.”
Ông tháo bao tay, cúi nhìn bàn tay mình. Máu khô đã dính chặt từ lúc nào.
“Gọi người coi kho đến. Lương trên ải còn đủ mấy ngày?”