CHƯƠNG 97: HỒ SƠ ĐÃ KHÉP
Trần Phàm không đi thẳng tới cổng Hàn Thị Trang.
Sáng hôm đó, hắn rời nhà trọ từ sớm, theo con đường dẫn tới một phiên chợ nhỏ họp định kỳ, cách trang viên chừng nửa ngày đường - nơi nông dân quanh vùng, thương nhân nhỏ lẻ, và đôi khi cả người làm công của các gia tộc lớn tụ tập trao đổi hàng hóa vào những ngày cố định trong tháng. Đây là kiểu địa điểm lý tưởng cho việc nghe ngóng: đủ gần trang viên để thông tin còn mới, còn chính xác, nhưng cũng đủ xa để giảm thiểu nguy cơ chạm mặt trực tiếp một người quen cũ.
Trước khi vào chợ, hắn dừng lại bên một con suối nhỏ ven đường, cải trang nhẹ - không phải thứ gì cầu kỳ, chỉ là búi tóc lại theo một kiểu khác hẳn thói quen thường ngày, để tóc xõa lệch che bớt một phần gò má, rồi vốc chút bụi đất khô xoa lên vạt áo và ống quần, tạo thành lớp bụi đường tự nhiên như một kẻ đã đi bộ nhiều ngày liền không nghỉ. Không nhiều, nhưng đủ để thay đổi ấn tượng đầu tiên mà một ánh mắt lướt qua sẽ ghi nhận - với khoảng cách tám năm và một gương mặt đã trưởng thành hơn nhiều so với tuổi mười tám, chỉ cần vậy cũng đủ giảm đáng kể khả năng bị nhận ra.
Nhìn mặt mình phản chiếu mờ nhạt trên mặt nước suối, Trần Phàm khựng lại một khoảnh khắc ngắn. Gương mặt đó, dù đã đổi khác nhiều so với ký ức của chính hắn về một đứa trẻ gầy gò năm nào, vẫn còn vài nét quen thuộc không thể xóa hết bằng bụi đường hay kiểu tóc khác - sống mũi, đường viền hàm, một vết sẹo nhỏ mờ gần chân mày trái do một lần bị đá văng trúng khi còn quét sân đá cuội cho Trận Pháp Đường. Hắn không chắc còn ai ở Hàn Thị Trang đủ để tâm nhớ những chi tiết nhỏ như vậy về một tạp dịch vô danh, nhưng sự cẩn trọng chưa bao giờ là thừa.
Hắn đứng dậy, phủi tay, bước vào chợ khi mặt trời đã lên cao, hòa vào dòng người qua lại giữa các sạp hàng.
Tại một gian hàng bán nông cụ - cuốc, xẻng, dây thừng, vài món đồ sắt rèn thô - Trần Phàm dừng lại, cầm lên một chiếc cuốc, xoay qua xoay lại như đang cân nhắc mua, kéo dài thời gian đứng đó lâu hơn mức một người mua hàng bình thường cần.
Không lâu sau, một thanh niên trẻ, áo vải thô, vai đeo một cái gùi tre trống, bước tới cùng gian hàng, hỏi mua vài món đồ sửa chữa.
"Trang viên dạo này thiếu người quá." Thanh niên đó than với người bán hàng, giọng có vẻ quen thân, chắc đã ghé chợ này nhiều lần. "Một mình tôi phải lo cả phần việc của hai người, chủ nhân giờ không dám thuê thêm vì ngân khố eo hẹp."
"Hàn Thị Trang mà cũng khó khăn vậy sao?" Người bán hàng hỏi, tay vẫn thoăn thoắt gói đồ.
"Từ vụ chiến tranh mấy năm trước, bao nhiêu người đi lính không về, ruộng đất cũng mất một phần, giờ gượng dậy chậm lắm." Thanh niên đáp, thở dài. "Trận Pháp Đường vẫn còn đó, vẫn hoạt động, nhưng tạp dịch chỉ còn ba bốn đứa, không như hồi xưa nghe nói đông lắm. Mấy trưởng lão già cũng phải tự tay làm nhiều việc lặt vặt hơn trước, chứ không ngồi không sai bảo suốt ngày như hồi trước nữa."
"Trưởng lão nào coi Trận Pháp Đường vậy?" Người bán hàng hỏi, chỉ là một câu hỏi phụ họa cho câu chuyện, không có ý gì đặc biệt.
"Tôi mới vào có nửa năm, chưa rành hết mặt các cụ trong đó." Thanh niên gãi đầu, cười trừ. "Chỉ biết có mấy ông già lắm, một ông hình như phụ trách lâu năm nhất, nghe đồn khó tính nhưng công bằng."
Trần Phàm đặt chiếc cuốc xuống, chậm rãi, tay khẽ siết lại quanh cán gỗ một nhịp rồi buông ra ngay. Câu trả lời đó không đủ để xác nhận bất cứ điều gì cụ thể - "một ông già lâu năm nhất" có thể là bất cứ ai, không nhất thiết là Vương Lão. Nhưng nó cũng không loại trừ khả năng đó. Một sự mơ hồ vừa mang theo chút hy vọng, vừa chưa đủ để hắn yên tâm hoàn toàn.
Hắn không hỏi thêm, không muốn để lộ bất cứ dấu hiệu quan tâm thái quá nào tới một chi tiết cụ thể như vậy trước một người xa lạ. Gương mặt thanh niên đó cũng hoàn toàn xa lạ với hắn - không phải ai hắn từng biết trong tám năm ở trang viên, chắc chắn là một lớp tạp dịch mới vào sau khi hắn đã rời đi từ lâu. Điều đó, dù nhỏ, cũng là một thông tin hữu ích: gia tộc vẫn duy trì các bộ phận cũ, Trận Pháp Đường vẫn còn hoạt động, nhưng quy mô nhân sự đã thu hẹp đáng kể so với những gì hắn còn nhớ.
Hắn mua một món đồ nhỏ không thật sự cần thiết, chỉ để hoàn tất vai một người khách bình thường, rồi rời khỏi gian hàng, tiếp tục đi sâu hơn vào chợ.
Buổi chiều, Trần Phàm tìm một quán nước nhỏ dựng tạm ở rìa chợ, mấy chiếc ghế gỗ thấp kê dưới bóng một cây đa già, chủ quán là một bà lão bán nước chè xanh và vài loại bánh nhà làm. Tiếng ve kêu rả rích trên tán cây, xen lẫn tiếng người mua kẻ bán đang thu dọn dần các sạp hàng khi buổi chợ bắt đầu ngả sang chiều muộn.
Hắn ngồi xuống một góc, gọi một bát nước chè, giả vờ nghỉ chân sau buổi sáng dạo chợ, hai tay ôm lấy bát nước ấm như một người thực sự mệt mỏi vì đường xa. Hai bàn kế bên, hai người phụ nữ lớn tuổi ngồi cùng nhau, dáng vẻ quen thuộc của những người đã sống đủ lâu để chứng kiến nhiều đổi thay trong vùng, đang rôm rả bàn chuyện, tay vẫn thoăn thoắt vá lại một tấm áo cũ trong lúc nói.
"...bà còn nhớ cái hồi loạn lạc không, bao nhiêu người đi lính, đi làm ăn xa rồi mất tích luôn, chẳng ai về..."
"...nhớ chứ, khổ lắm. Mấy năm sau, gia tộc nào cũng phải làm một đợt dọn sổ, xóa tên hết những người biệt tích quá lâu không tin tức. Để sổ sách mãi vậy phiền lắm, còn phải lo trách nhiệm này nọ nếu có người tìm về đòi quyền lợi..."
"...phải, cứ để lâu vậy không xong. Coi như chết hết cho gọn, đỡ vướng..."
Trần Phàm nhấp một ngụm nước chè, động tác không đổi nhịp, ánh mắt vẫn nhìn thẳng ra khoảng sân chợ trước mặt, không quay đầu về phía hai người phụ nữ đang trò chuyện. Nhưng trong đầu, một mảnh ghép cuối cùng vừa khớp vào đúng chỗ của nó.
Hai người phụ nữ đó không nói về hắn, không biết gì về sự tồn tại của hắn cả - chỉ đang bàn chuyện phiếm chung chung về một hiện tượng phổ biến ở các gia tộc nhỏ trong vùng sau chiến tranh. Nhưng câu chuyện đó, ghép cùng với những gì hắn đã biết, đã nghe, đã tự mình trải qua, đủ để tạo thành một kết luận gần như chắc chắn.
Hắn không cần đột nhập vào kho lưu trữ của Hàn Thị Trang, không cần hỏi thẳng bất cứ ai trong trang viên để biết chắc điều này. Logic và bối cảnh đã đủ rõ ràng, từng mảnh một xếp chồng lên nhau thành một bức tranh hoàn chỉnh.
Tám năm mất tích, không một dòng tin tức nào gửi về. Một gia tộc nhỏ, nguồn lực eo hẹp sau chiến tranh, không có lý do gì để duy trì mãi hồ sơ của một kẻ đã biệt tăm quá lâu. Và thói quen "dọn sổ" phổ biến mà hai người phụ nữ vừa nhắc tới như một chuyện đương nhiên, chẳng có gì đặc biệt để bàn thêm.
Tất cả chỉ dẫn về một kết luận duy nhất: cái tên Trần Phàm, một tạp dịch mồ côi, tứ linh căn khuyết Hỏa, "không đáng đào tạo" theo đúng những lời từng nghe được nhiều năm trước từ những kẻ có tiếng nói trong trang viên, gần như chắc chắn đã bị xóa khỏi sổ sách từ lâu. Ghi nhận là đã chết, hoặc mất tích vĩnh viễn - không ai buồn xác minh lại, không ai buồn cử người đi tìm kiếm thêm. Một tạp dịch không có giá trị đặc biệt trong mắt gia tộc không phải loại người đáng để họ bỏ công sức truy tìm khi biến mất.
Trần Phàm ngồi với nhận thức đó một lúc lâu, tay vẫn giữ bát nước chè đã nguội bớt.
Không có cảm xúc bộc phát mạnh mẽ nào trào lên trong hắn - không phải hắn vô cảm trước một điều lẽ ra phải mang ý nghĩa lớn lao như vậy, chỉ là đây gần như đúng những gì hắn đã đoán trước, đã chuẩn bị tâm lý sẵn từ rất lâu trước khi đặt chân tới vùng đất này. Một người tự đánh giá bản thân đủ thực tế sẽ không mong đợi một gia tộc từng coi mình vô dụng lại tốn công lưu giữ hồ sơ mãi mãi.
Cảm giác chủ đạo, nếu phải gọi tên, là một sự nhẹ nhõm mang tính thực tế nhiều hơn là cảm xúc. Hắn hoàn toàn tự do khỏi danh tính cũ - không còn bất cứ ràng buộc pháp lý hay xã hội nào với Hàn Thị Trang, không còn một sợi dây vô hình nào có thể kéo hắn trở lại đó bằng nghĩa vụ hay trách nhiệm. Cái tên "Trần" hắn mang theo suốt hành trình, không họ không xuất thân, giờ đây không chỉ là một sự lựa chọn thận trọng mà còn là một sự thật - trên giấy tờ, con người cũ đã không còn tồn tại nữa.
Có một khoảnh khắc ngắn, hắn tự hỏi liệu mình có nên cảm thấy điều gì khác hơn thế - một chút mất mát, một chút tủi thân của kẻ bị chính nơi mình từng thuộc về gạch tên không thương tiếc. Nhưng cảm giác đó, nếu có, chỉ thoáng qua rất nhanh rồi tan biến, không đủ sức bám lại. Trần Phàm nhận ra, ngồi đó giữa tiếng ồn ào nhỏ của phiên chợ đang tan dần, rằng mối liên hệ thật sự giữ hắn với Hàn Thị Trang trong tám năm qua chưa bao giờ là cái tên trong sổ sách hay tư cách thành viên gia tộc. Nó luôn chỉ là một người - một ông già ngồi bên đống than hồng, để lại vài mảnh giấy không đúng chỗ một cách quá tình cờ để không đúng chỗ.
Nhưng ngay sau cảm giác nhẹ nhõm đó, một câu hỏi khác lập tức chiếm lấy vị trí quan trọng hơn trong đầu hắn.
Vương Lão.
Nửa câu hỏi đã có lời giải. Nửa còn lại - về ông già từng để quên vài mảnh giấy sơ đồ trận pháp trên bậc cửa như một sự vô tình có chủ đích, từng nói với hắn câu "biết khi nào nên biến mất" trong một đêm nào đó nhiều năm trước - vẫn còn treo lại, chưa có gì để trả lời.
Hỏi về tình trạng hồ sơ chung của một tạp dịch vô danh là chuyện dễ, chỉ cần nghe ngóng những câu chuyện phiếm không ai để tâm. Nhưng hỏi về một người cụ thể, có tên tuổi, có vị trí trong gia tộc - dù chỉ là một trưởng lão phụ trách Trận Pháp Đường không giữ vai trò quyền lực gì lớn - lại là chuyện khác hẳn. Một câu hỏi cụ thể như vậy, nếu đặt sai chỗ, sai người, hoàn toàn có thể gây chú ý không cần thiết, khiến người ta tự hỏi vì sao một kẻ lạ mặt lại quan tâm tới một trưởng lão cụ thể trong một gia tộc nhỏ mà bản thân không có liên hệ gì rõ ràng.
Trần Phàm rời quán nước khi trời bắt đầu nhá nhem tối, ánh nắng cuối ngày nhuộm vàng những mái lều tạm của phiên chợ đang dần thưa người, các gian hàng lần lượt thu dọn để chuẩn bị đóng cửa.
Hắn đi bộ chậm rãi quanh khu chợ, không có mục đích cụ thể, chỉ để đầu óc có thời gian sắp xếp lại mọi thứ vừa thu thập được trong ngày, đồng thời suy nghĩ về cách tiếp cận thông tin về Vương Lão trong những ngày tới.
Hỏi thẳng ở phiên chợ này rõ ràng không phải cách hay - những người ở đây, dù có ghé qua trang viên thỉnh thoảng, phần lớn chỉ biết những chuyện phiếm bề ngoài chứ không đủ gần để nắm rõ tình trạng cụ thể của một trưởng lão. Có lẽ hắn cần một nguồn khác - một người làm công thời vụ thật sự thân cận hơn với Trận Pháp Đường, hoặc một thương nhân chuyên cung cấp vật liệu trận pháp cho trang viên, loại người có lý do chính đáng để biết và nhắc tới tên các trưởng lão mà không ai phải nghi ngờ động cơ. Nhưng tìm được đúng người như vậy cần thời gian, cần kiên nhẫn dò từng mối quan hệ một, không thể vội vàng trong một hai ngày.
Hắn đã có câu trả lời cho một nửa lý do đưa mình tới vùng đất này. Danh tính cũ, trên mọi giấy tờ và sổ sách của Hàn Thị Trang, đã thực sự khép lại - không còn một dấu vết chính thức nào ràng buộc hắn với nơi từng là toàn bộ thế giới của một tạp dịch mười tám tuổi năm nào.
Nửa câu hỏi còn lại vẫn treo lơ lửng, chưa có gì để nắm bắt.
Đêm đó, tại một nhà trọ nhỏ dựng tạm ở rìa khu chợ, phòng ốc đơn sơ chỉ có một chiếc giường tre và một ngọn đèn dầu nhỏ, Trần Phàm không lấy Trận Đạo Sơ Giải ra đọc như thói quen mỗi tối vẫn duy trì suốt cả hành trình.
Hắn ngồi yên trong bóng tối một lúc lâu, ngọn đèn dầu tắt từ sớm, chỉ còn ánh trăng mờ nhạt lọt qua khe cửa sổ, để cho những ký ức về những năm tháng làm tạp dịch dưới sự quan sát lặng lẽ của Vương Lão trôi qua trong đầu mà không cố ngăn lại hay xua đi.
Những buổi tối ngồi bên đống than hồng sắp tàn trong góc Trận Pháp Đường, khi mọi người khác đã về nghỉ từ lâu, chỉ còn hai người - một ông già và một đứa trẻ không ai buồn để mắt tới - cùng nhìn vào ngọn lửa đang lụi dần, không nói gì nhiều nhưng cũng không thấy cần phải nói. Có những đêm ông kể chuyện về những vùng đất xa xôi ông từng nghe qua, giọng chậm rãi như đang kể cho chính mình nghe hơn là cho một đứa trẻ tạp dịch. Có những đêm chỉ im lặng, chỉ có tiếng củi cháy lách tách và tiếng gió lùa qua khe cửa gỗ.
Những mảnh giấy sơ đồ trận pháp bị "bỏ quên" một cách quá tình cờ để đúng ngay chỗ hắn sẽ quét qua mỗi sáng - không bao giờ là một tờ trọn vẹn, chỉ là những mảnh vụn đủ để một đứa trẻ tò mò tự ghép nối, tự suy luận, tự học lấy mà không ai phải đứng ra dạy dỗ công khai, không ai phải chịu trách nhiệm nếu có kẻ khác trong trang viên phát hiện một tạp dịch khuyết linh căn lại đang học trận pháp.
Câu nói ngắn gọn, không đầu không cuối, về việc biết khi nào nên biến mất - câu nói khi đó hắn còn quá nhỏ để hiểu hết ý nghĩa, chỉ nhớ mang máng là một lời dặn dò trong một đêm mưa nào đó, giờ nhìn lại, sau tất cả những gì đã trải qua - phế tích, chiến tranh, ba năm dưới đáy khe vực, và cả buổi chiều hôm nay khi hắn phải cải trang để tránh bị nhận ra ngay chính nơi mình từng lớn lên - mang theo một trọng lượng khác hẳn, gần như một lời tiên đoán mà chính người nói ra cũng không chắc mình đang tiên đoán điều gì.
Trần Phàm không khóc, không thở dài, không có bất cứ biểu hiện kịch tính nào trong bóng tối căn phòng trọ nhỏ đó. Hắn chỉ ngồi, hai tay đặt trên đầu gối, lưng thẳng theo thói quen đã ăn sâu, để những ký ức đó có không gian tồn tại trọn vẹn trong một đêm - điều mà suốt tám năm bận rộn với việc sống sót và đi tiếp, hắn hiếm khi cho phép mình làm - trước khi ngày mai tiếp tục hành trình tìm kiếm câu trả lời còn lại.