Sáng hôm sau, con đường đất kết thúc ở một bãi cát.
Từ chỗ xe dừng, Hùng thấy ba dòng nước đổ vào nhau. Nhánh bên trái mang màu nâu đỏ của đất núi. Nhánh giữa nhạt hơn, có những vệt bọt dài trôi rất nhanh. Nhánh bên phải gần như xanh dưới bóng cây, nhưng mặt nước nổi đầy cành vụn. Bờ đối diện lúc hiện lúc khuất sau những doi cát thấp.
Trên thẻ đường Nham Dự đưa Khê, từ bãi này sang bờ kia chỉ có một nét khắc. Ngoài trước mắt họ, nét ấy tách thành nhiều lối, lối nào cũng có nước chảy.
“Bến ở đâu?” một người đàn ông mất ruộng hỏi.
“Đang đứng trên bến,” Khê đáp. “Còn chỗ thuyền qua thì phải hỏi.”
Ba chiếc thuyền đáy rộng nằm úp trên cát. Cạnh chúng là những giàn phơi sào, lưới và dây gai. Người nhà bến đang khiêng những rổ cát ướt khỏi một rãnh nhỏ phía sau mái. Họ thấy đoàn đến nhưng không bỏ việc. Dưới mái bến, nhóm Vịnh và Khuyết đã chờ cùng hòm đá từ chiều qua; thẻ hẹn của Khê khớp đúng bãi này. Một bà già đứng trên sàn cao nhìn các bánh xe bám bùn, rồi nhìn chân Tánh đang gác trên xe cuối.
“Muốn qua bao nhiêu người?” bà hỏi.
Thanh đọc số đã ghi: người trong đoàn, ba nhà mất ruộng, hai người già và bốn Ấu. Nàng kể riêng chiếc xe chở người không thể đi bộ lâu. Bà già nghe hết, gọi một người đàn ông dưới rãnh lên.
Ông tên Lãm, giữ thuyền lớn nhất. Mái tóc ông đã lẫn bạc, cổ tay có một vệt sẹo dài như dấu dây cứa.
“Qua được,” Lãm nói. “Nhưng không phải hôm nay chỉ việc đưa người xuống thuyền.”
“Cần đợi nước?” Hùng hỏi.
“Cần làm bến.”
Ông chỉ rãnh sau mái. Nước lũ đã để lại một lớp cát dày trước chỗ kéo thuyền ra dòng chính. Một chiếc thuyền nhỏ còn luồn qua được; chiếc lớn chở người già, đồ và thóc sẽ mắc đáy. Nếu đợi dòng nước tự mở rãnh, không ai biết phải đợi bao lâu.
“Đoàn có người giúp đào,” Hùng nói.
“Không chỉ đào.” Lãm nhìn những nhà đi cùng. “Bến bên kia cũng bị lấp. Người khỏe ở lại làm cho nhà thuyền tới hết mùa nước này. Ta đưa phần còn lại qua trước.”
Người đàn ông mất ruộng đã dừng xe trên đường hôm qua bước tới. “Ở lại bao lâu?”
“Đến khi bến có lối.”
“Nhà tôi còn phải tìm người thân.”
“Vậy tìm thuyền khác.”
Ông quay đi, để họ nhìn ba dòng nước không có một chiếc thuyền nào khác chờ khách.
Người đàn bà giữ túi thóc giống kéo đứa nhỏ sát mình. Bà đã rời một thửa ruộng bị cát phủ; bà không muốn sang bờ mới rồi để người nhà ở lại sau lưng mà chưa biết ngày gặp.
Thanh hỏi Lãm: “Thiết cần bao nhiêu việc để đưa đoàn qua?”
“Ta vừa nói.”
“Thiết nói một khoảng thời gian chưa có ngày hết. Xin chỉ từng việc.”
Lãm nhìn nàng lâu hơn. Bà già trên sàn cao lên tiếng trước:
“Dọn rãnh. Kê lại hai cọc giữ thuyền. Dẫn sào qua doi mới để thử đáy. Bên kia còn việc, nhưng phải sang mới đếm được.”
“Vậy bắt đầu bằng ba việc ở bờ này,” Thanh nói. “Người nào làm được việc nào sẽ nhận việc ấy. Không giữ người của một nhà ở lại sau khi những người khác đã qua.”
Lãm nhíu mày. “Bọn mày muốn đặt lệ cho bến ta?”
“Đoàn muốn biết giá của chuyến qua trước khi nhận.”
Hùng đặt bó thẻ đường lên chiếc thuyền úp, không mở thẻ có chuyện Bến Lau. “Tôi có thể cùng làm. Việc bên kia sẽ ghi khi tận mắt thấy. Nếu một ngày không đủ, Thiết nói phần thiếu và chúng ta tính tiếp.”
“Người mang chức biết đào cát?”
“Chưa biết rãnh của Thiết cần sâu đến đâu.”
“Thế thì xuống xem.”
• • •
Cát ở bến không nằm yên như đất trong ruộng.
Hùng xúc một rổ ở miệng rãnh. Khi chàng quay lại, nước đã đưa một lớp khác tràn vào dấu xẻng. Lãm bảo người nhà bến thôi đào ở đó. Họ chuyển lên đoạn hẹp hơn, nơi hai cọc gỗ cũ còn giữ một bên bờ.
“Đào chỗ nước muốn lấp, cả ngày cũng chỉ chuyển cát từ tay mình sang tay nó,” Lãm nói.
“Làm sao biết chỗ nào nó chưa muốn lấp?”
“Lấy sào.”
Ông đưa Hùng một cây sào có các vạch khía gần đầu. Hùng đi dọc rãnh, thả sào xuống từng chỗ. Có nơi đầu sào chạm đáy ngay; có nơi cát mềm lún thêm một đoạn. Lãm bắt chàng ghi cả hai lần chạm: mặt cát đang thấy và nền chắc bên dưới. Chỉ một con số độ sâu không nói được đáy có giữ thuyền hay không.
Khê cùng hai người nhà bến dời cọc. Người đàn ông mất ruộng khiêng rổ cát tới chỗ đổ xa dòng, vợ ông dùng tấm phên giữ bờ khỏi trượt ngược. Thanh chia việc theo sức từng người. Vịnh, Bách và Du khiêng rổ cát cùng người nhà bến; Khuyết ngồi canh hòm đá dưới mái. Hai người già ngồi dưới mái se dây từ những đoạn còn dùng được. Những Ấu đủ lớn nhặt cành sắc khỏi lối kéo thuyền; đứa nhỏ nhất ở cạnh bà già trên sàn cao, không bị tính vào phần việc của nhà mình.
Tánh muốn đứng xuống khỏi xe. Nó mới đặt chân lành lên cát thì chân đau đã nhói.
“Địa cầm đầu dây được,” nó nói.
“Ngồi đó giữ các cuộn khỏi rối,” Khê đáp.
“Việc ấy ai cũng làm được.”
“Vậy làm cho đúng, để Can khỏi phải chạy về gỡ.”
Tánh nhìn đống dây. Nó chưa nguôi bực, nhưng bắt đầu tách dây ướt khỏi dây khô. Một nút cũ siết chặt, nó dùng móng tay gỡ từng vòng thay vì giật đứt.
Đến gần trưa, miệng rãnh đã đủ rộng để thử chiếc thuyền nhỏ. Lãm và Hùng cùng đẩy xuống. Thuyền trượt được ba thân rồi mắc. Hùng cắm sào, đầu sào chạm một vật cứng ngay dưới nước.
“Đá?”
Lãm bảo chàng nghiêng đầu sào. Nó trượt sang bên rồi lại mắc.
“Gốc cây. Đêm qua chưa có ở đó.”
Hai người nhà bến xuống nước ngang gối, buộc dây quanh gốc. Tánh giữ cuộn dây trên bờ, nhả đúng từng đoạn họ gọi. Lần đầu gốc không nhúc nhích. Hùng định gọi thêm người kéo, nhưng bà già trên sàn cao bảo tất cả dừng.
Bà xuống bãi, lội tới chỗ nước đổi màu.
“Đầu gốc còn cắm trong cát,” bà nói. “Kéo thẳng sẽ xé bờ.”
Bà tên Mân. Lãm gọi bà là Cơ; những người trẻ ở bến gọi Già Thị Mân. Bà lấy đầu sào chỉ cách xoay gốc xuôi theo dòng rồi mới nhấc. Hùng làm theo. Gốc cây chuyển chậm, để lại một dải cát sẫm bên dưới. Lần kéo sau nó ra khỏi rãnh.
Chiếc thuyền nhỏ trôi qua.
Người đàn ông mất ruộng thở phào. Lãm vẫn không bảo họ lên.
“Đó mới là lối ra bến,” ông nói. “Bọn mày còn chưa biết lối qua sông.”
Hùng nhìn tấm thẻ đường. Nét khắc từ bờ này tới bờ kia không cho biết gốc cây đêm qua, cũng không cho biết doi cát nào đã đổi chỗ sau lũ.
“Thiết có thẻ luồng mới không?”
“Có những dấu người bến đặt mỗi sáng. Qua một trận mưa, lại đặt.”
“Cho tôi xem.”
Lãm không đáp. Ông đưa cây sào về giàn, bảo người nhà lo bữa trưa.
• • •
Họ ăn dưới mái bến, mỗi nhà mở phần lương của mình.
Lãm không nhận thóc từ các nhà mất ruộng. Ông lấy cá khô của nhà bến, chia cho những người đã xuống rãnh từ sáng. Người đàn bà giữ túi giống đong một phần thóc ăn vào nồi chung. Bà đặt túi giống ra xa bếp, dưới mắt đứa nhỏ.
Hùng ngồi ở mép sàn, lau cát khỏi các vạch trên cây sào. Chàng đã vẽ lại ba nhánh nước trên một thẻ sạch. Nét nào cũng phải để hở ở đầu bên kia vì chàng chưa tới đó.
Mân nhìn thẻ. “Sao phần giữa Công Tự vẽ thẳng?”
“Từ đây trông nó thẳng.”
“Đứng dậy.”
Bà dẫn Hùng lên chiếc sàn cao. Từ trên đó, dòng giữa không còn thẳng. Một vệt nước nhạt cong về trái, gần tới doi cát thì đứt. Phía sau vệt ấy là một dải nâu đậm, hẹp hơn nhưng chạy liền tới bờ đối diện.
“Vệt nhạt là cát nổi dưới nước,” Hùng nói.
“Hôm nay thì phải. Hôm qua nó ở thấp hơn.” Mân chỉ vệt nâu. “Còn chỗ kia?”
“Nước sâu?”
“Cắm sào mới biết chắc. Màu chỉ bảo Công Tự nên thử ở đâu.”
Chàng nhìn tiếp. Nhánh bên phải xanh hơn cả hai nhánh còn lại. Dưới bóng cây, màu ấy từng khiến chàng nghĩ nước lặng. Nhưng cành vụn đi qua đó nhanh đến mức một chiếc lá vừa chạm mép bóng đã biến mất sau doi.
“Chỗ xanh cũng không chắc an toàn.”
“Không có màu nào tự nói đủ một câu.”
Mân gọi Lãm đem lên một bát nước nhánh giữa và một bát nước nhánh trái. Đặt cạnh nhau, bát nước nhánh giữa nhạt vì cát mịn lơ lửng; bát kia sẫm vì bùn từ sườn cao. Bà để yên một lúc. Hạt cát trong bát thứ nhất lắng xuống nhanh hơn. Trong bát thứ hai, màu nâu vẫn còn ở nước phía trên.
“Nhìn màu, rồi nhìn thứ làm ra màu,” bà nói. “Nhìn bọt đi nhanh hay đứng, nhìn sóng bị bẻ ở đâu. Sau đó mới lấy sào.”
Hùng hỏi vì sao người bến không chép những điều ấy thành đường cho khách.
Lãm vừa lên sàn, nghe được câu hỏi.
“Vì người khách cầm thẻ qua vào mùa sau sẽ bảo nhà bến đã chỉ sai. Doi cát không đóng dấu vào bản chép của Công Tự.”
“Tôi không định chép một lối cố định.”
“Vậy Công Tự định chép gì?”
“Cách nhà bến kiểm lối mỗi ngày. Ai biết chỗ nào phải thả sào, chỗ nào phải ngừng.”
Lãm nhìn thẻ còn để hở đầu của Hùng. “Nếu ai cũng biết, nhà bến lấy gì sống?”
Hùng không trả lời ngay. Chàng đã thấy người ở kho Cốc mất cuộn sổ mùa, thấy một bó thẻ cũ có thể bị mang đi trước khi người địa phương kịp đối. Không có lý do gì buộc Lãm giao một nghề đã giữ nhiều nhà qua lũ chỉ để chàng có thêm một bản ghi.
“Để đoàn qua trước,” Hùng nói. “Phần nào Thiết cho phép ghi, Thiết tự đọc lại. Phần nào là chỗ sống của nhà bến, tôi chỉ ghi rằng phải hỏi người biết luồng và kiểm lại bằng sào.”
Lãm không nhận lời. Ông nhìn trời. Mây mỏng đang đi từ phía núi xuống, che bớt ánh nắng trên mặt nước.
“Sau bóng mây, màu đổi,” ông nói. “Nếu đi, phải đi lúc còn đủ sáng để nhìn cả bọt.”
• • •
Chiếc thuyền nhỏ ra trước với Lãm và hai người cầm sào.
Nó không chở khách. Họ qua đoạn rãnh vừa mở, ra dòng giữa rồi trở lại sau một vòng rộng. Ở chỗ vệt nước nhạt bẻ sang trái, người cầm sào thả đầu gỗ xuống. Cát cách đáy thuyền chưa tới một cánh tay. Họ cắm một cọc nhỏ ở mép an toàn, buộc dải vải trắng trên đầu. Phía dải nâu đậm, sào xuống sâu hơn, nhưng dòng ép vào mạn mạnh đến mức Lãm phải cho thuyền vòng lại một lần nữa.
Một người nhà bến đưa chiếc thuyền lớn ra thử. Nó nặng hơn, chở cả những tấm ván dùng kê bánh xe. Mân đứng trên bãi nhìn nước, thỉnh thoảng bảo họ dừng mái. Không ai trong đoàn khách được cầm lái.
Hùng theo thuyền nhỏ trong lượt thử thứ hai. Chàng cầm sào, nhưng Lãm giữ tay lái. Mỗi lần Hùng thấy một vệt màu đổi, chàng nói điều mình đoán trước khi thả sào. Hai lần đầu chàng đoán sai: một vệt sáng là nắng xuyên mây, không phải cát; một chỗ nâu đậm lại nông vì bùn mới vừa bồi lên. Lãm không chê. Ông chỉ chờ chàng tự nói ra chỗ mình sai rồi mới cho đi tiếp.
Lần thứ ba, Hùng không gọi nó là lạch sâu. Chàng chỉ nói: “Bọt qua chỗ này không quay lại. Xin thử.”
Lãm cho thả sào. Đầu gỗ đi xuống sâu rồi chạm nền chắc. Ông gật một cái.
“Qua được thuyền nhỏ. Thuyền lớn còn phải thử chỗ kế.”
Họ tới gần giữa hợp lưu thì nghe tiếng người trên bờ gọi. Chiếc xe chở một người già đang đứng ở rãnh. Bà muốn lên thuyền ngay vì chân không chịu nổi thêm một đêm trên cát. Người nhà bà đã đưa đồ xuống, chưa biết chiếc thuyền lớn có qua được hay không.
Thanh giữ họ trên bãi.
“Chúng ta sẽ lên khi người bến gọi,” nàng nói. “Không ai thử luồng bằng người ngồi trên xe.”
Bội và những người gác không xuất hiện ở bờ sau. Nhưng trên thẻ công vụ của Hùng vẫn có tên nơi nhận bản tra soát. Chàng biết chờ thêm một đêm cũng có cái giá: người già mệt hơn, lương của ba nhà ít đi, và người muốn giữ bản chép có thêm thời gian tới bến. Chàng không giục Lãm đưa thuyền lớn đi khi chưa thử xong.
Ở lượt về, nước từ nhánh trái mạnh lên. Một dòng bọt mới xô ngang vệt cọc họ vừa đặt. Lãm nghiêng mái để thuyền nhỏ tránh, rồi nhổ cọc mang về.
“Lối cũ mất rồi?” Hùng hỏi.
“Chưa mất. Nó đổi cửa.”
Trên bờ, Tánh nhìn thấy dải vải trắng trong tay người thuyền. Nó chỉ về một khoảng cát vàng vừa lộ giữa hai đợt sóng.
“Can, chỗ đó mới nổi.”
“Mày thấy nước rút?” Thanh hỏi.
“Địa thấy hạt cát đi cùng bọt. Lúc trước bọt trôi qua, giờ nó vòng.”
Mân nghe thấy, bảo một người lấy sào thử từ bờ. Đầu sào chạm cát ngay dưới lớp nước mỏng. Bà cho người đánh dấu chỗ ấy để các xe không bị đẩy xuống khi chờ kéo lên thuyền. Tánh muốn xuống giúp cắm cọc; Thanh nhìn chân nó, nó tự ở lại xe.
Chiều đã ngắn. Lãm quyết định chỉ đưa người và đồ cần dùng qua trước; xe để sang sớm mai tháo bánh, chở từng phần. Ba nhà mất ruộng nhìn những chiếc xe. Chúng giữ nồi, chăn và ít công cụ họ còn mang được.
“Nếu xe ở lại, người trạm tới lấy thóc thì sao?” người đàn ông hỏi.
“Thóc và túi giống lên cùng người,” Thanh đáp. “Xe, bánh và những thứ nặng có tên trong bản giao với nhà bến. Tôi ở lại cùng chúng cho tới lượt sau.”
Hùng nhìn nàng. “Qua ở lại. Bậu đưa người qua.”
Thanh lắc đầu. “Bậu còn phải xem lượt thuyền lớn. Qua đã ghi từng xe và biết người nhà nào nhận bên kia.”
Họ không tranh trước mặt các nhà. Lãm bảo cần một người của đoàn ở mỗi bờ để so đồ; người ở lại sẽ qua chuyến cuối, đi cùng thuyền lớn. Hùng ở lại bãi cát với thẻ; Thanh đi chuyến đầu cùng hai nhà có Ấu và người già. Khê đưa Tánh lên thuyền lớn, để nó ngồi thấp bên một sườn ván, chân đau kê trên túi mềm. Nhà còn lại chờ cùng Hùng.
Thuyền lớn rời rãnh. Mân đứng ở mũi, Lãm giữ lái. Người cầm sào gọi độ sâu qua từng đoạn. Đến chỗ vệt nâu hẹp, mạn thuyền bị đẩy lệch. Người nhà bến hạ mái bên trái; Tánh nắm chặt mép ván nhưng không đứng bật dậy. Thanh đặt bàn tay lên vai người già, giữ bà ngồi yên.
Một đoạn sau, tiếng sào gõ xuống nền chắc vang từ thuyền. Nó không phải tín hiệu đã tới bờ, chỉ báo họ còn một lối đủ sâu. Hùng trên bãi nghe được và thở ra. Mân nhìn lại, thấy chàng vẫn đứng cạnh thẻ đường chưa khép.
Khi thuyền sang được, người bên kia nhóm một đốm lửa trong vòng đá. Hùng không nhìn rõ mặt Thanh, nhưng thấy nàng đưa từng người rời thuyền rồi quay lại đếm đồ. Đốm lửa ấy cho bờ này biết nơi đã có người nhận.
Chuyến thứ hai mang người, thóc còn lại và hòm đá. Hùng qua sau cùng trong ngày, cùng Lãm và hai người giữ sào. Chàng không còn đoán mỗi vệt màu. Ở một chỗ mặt nước sáng lên, chàng hỏi người bến đó là nắng hay cát. Họ thử bằng sào rồi mới trả lời.
• • •
Bờ bên kia thấp hơn, nhưng nền sau mái bến đã được kê bằng gỗ cũ và đất nện. Thanh chia chỗ nghỉ cho ba nhà, gần nhau để sáng mai họ cùng tới hỏi người họ hàng đã nhắc. Mân chỉ chỗ lấy nước, chỗ nhóm bếp và một lối không được dựng mái vì khi nước lên nó thành đường thoát của thuyền.
Hùng cùng Lãm đi xem bến bị lấp bên này. Cát tràn gần tới cọc giữ thuyền, nhưng lối kéo vẫn dùng được nếu dọn từ mép cao xuống. Chàng ghi số người của đoàn có thể làm việc sáng mai; Lãm ghi số người nhà bến cùng làm. Việc chưa làm được không bị tính thành món nợ hết mùa.
“Công Tự đã thấy cả hai bờ,” Lãm nói. “Bây giờ còn muốn chép màu nước không?”
“Muốn chép cách hỏi và cách thử. Màu hôm nay để ở thẻ riêng, ghi ngày và nơi nhìn.”
“Màu ngày mai khác.”
“Vậy ngày mai có thẻ khác.”
Lãm nhìn Mân. Bà đang rửa hai chiếc bát đựng nước ban trưa; dưới đáy bát nhánh giữa là một lớp cát mịn vàng nhạt, bát còn lại giữ bùn nâu dính thành vệt. Bà đặt chúng trước Hùng.
“Ghi từ đây,” bà nói. “Đừng bắt đầu bằng con đường Công Tự muốn tìm.”
Hùng dùng đầu bút tách hai lớp lắng ra trên một mảnh gỗ. Trong cát nhạt có vài hạt tối, nặng hơn, nằm lại khi nước cuốn phần nhẹ đi. Chàng không biết chúng là gì. Mân bảo người bến đôi lúc giữ những hạt ấy để thử đất ở đoạn thuyền hay mắc; chỗ chúng tụ có thể chỉ một dòng đã mang cát từ xa tới, nhưng cũng có thể bị cơn lũ sau xóa sạch.
Hùng không đặt tên cho những hạt tối. Chàng ghi ai lấy mẫu, lấy ở nhánh nào và đã để lắng bao lâu. Bên cạnh, Mân đọc cho chàng cách người bến so màu nước với màu bùn trong bát, bọt trên mặt dòng và độ sâu dưới sào. Lãm thêm điều kiện về bóng mây. Thanh ghi riêng phần việc của hai bờ và tên những người đã qua.
Đêm ấy, ba nhà mất ruộng ngủ trên đất của vùng bến hợp lưu. Xe còn ở bờ cũ, thóc ăn đã qua trước, túi giống được treo cao khỏi nền ẩm. Tánh nằm cạnh chiếc gậy, cổ chân được Thanh quấn lại. Khê nhắc nó ngày mai vẫn phải ngồi khi người khác tháo bánh xe; nó đáp “Địa biết”, lần này không phụng phịu.
Sáng mai họ còn việc ở bến. Con đường qua nước không nằm trọn trên thẻ của Hùng, cũng không nằm yên dưới mắt người giữ thuyền. Nhưng khi mỗi bên biết điều mình đã thấy và điều phải hỏi tiếp, ba nhà có thể bắt đầu tìm người của họ ở bờ này.