🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục Khai Thác AI
🔎 Tìm kiếm ⬇️ Tải app Android
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google

Ch.30: Con đường của những người thua

~17 phút đọc · 3309 từ · · ⚠️ Báo cáo

Sáng hôm sau, người từ chi trạm trên tới trước khi Lân mở cân.
Họ có bốn người gác đi cùng và một người giữ dấu tên Bội. Bội không bước ngay vào kho. Ông đứng ở sân, nhìn những vết bánh xe mới trên đất rồi hỏi thóc nhà Dương đã được nhập ở đâu.
Lân chỉ hai hàng ghi trên thẻ. “Thóc nhà Dương ở hàng này. Phần dự trữ đã phát ở hàng khác.”
“Ta muốn xem phần đã phát.”
“Thẻ gốc còn ở trạm.”
Bội nhận bó thẻ, lật tới dấu niêm cũ và giờ mở kho. Ông đọc chậm hơn ở dòng ghi tên Hùng. Dương Kiên đứng bên cạnh, không giục.
“Lệnh tới sau,” Bội nói.
“Giờ tới được ghi ở mặt sau,” Dương Kiên đáp.
“Tôi thấy.” Bội khép bó thẻ. “Lệnh cũng nói giữ sổ và tra soát người đứng tên.”
“Hùng ở đây.”
Hùng bước ra từ gian trong. Đêm qua chàng cùng Thanh đã buộc riêng bản ghi xuất thóc, bản chép thẻ Bến Lau và hai lệnh đến muộn. Chàng đem bản ghi xuất thóc đặt lên bàn cân, để Bội có thể đối với thẻ của Lân.
“Tôi đứng tên mở kho,” chàng nói. “Năm nhà nhận thóc dự phòng. Lượng cân ở đây.”
Bội nhìn chàng. “Thóc ấy còn ở đâu?”
“Đã vào bếp các nhà.”
“Không phải tất cả.”
Ông chỉ một dòng ở cuối thẻ. Một trong năm nhà nhận thóc hôm qua vẫn còn phần chưa nấu. Bội sai một người gác tới kiểm. Hùng không cản; lượng thóc ấy đã được cân và ghi từ hôm qua.
“Các nhà còn nợ kho,” Bội nói. “Ta phải thu hồi phần chưa dùng.”
“Đường gò Vi vẫn chưa thông cho xe,” Lân đáp. “Lệnh cho dùng dự phòng có hiệu lực từ sáng nay.”
“Lệnh cho dùng sau khi nhận là đúng đường còn đứt. Các người đã phá niêm trước.”
Bội không nói lớn. Việc Bội sai người gác đi kiểm phần thóc còn lại đã đủ làm những người đứng ngoài sân nghe thấy.
Người đàn bà bế con hôm qua tới cùng hai nhà khác. Trên vai bà là một bó đồ buộc vội. Bà đặt nó xuống, hỏi Lân có phải sẽ lấy lại thóc không.
“Chưa ai lấy từ tay Công Thị,” Lân nói.
“Nhưng người gác đang đi theo nhà dưới dốc.”
Bội quay sang bà. “Ta đang kiểm số kho. Nhà nào nhận không đúng phần sẽ phải trả.”
“Nhà tôi nhận đúng phần,” bà đáp. “Người của đoàn với người gác đã tới xem bếp.”
“Ta chưa nói nhà Công Thị nhận sai.”
Bà cúi xuống buộc lại bó đồ. Đứa nhỏ tỉnh giấc, đưa tay tìm chiếc túi thóc giống trong tay nải. Bà đẩy tay nó sang bên.
Ngoài sân còn nhiều người không tới vì kho. Nước đã rút khỏi mép thấp, để lộ những thửa ruộng bị phủ cát và thân lúa gãy. Ba nhà dưới chân núi vừa nhận thóc hôm qua không còn chỗ gieo vụ tiếp. Họ đang xin đi theo đoàn Hùng tới bến ở vùng hợp lưu bên kia ranh, nơi có người họ hàng từng nhận người mất ruộng qua những mùa nước lớn.
Thanh đã nghe họ từ lúc trời chưa sáng. Nàng ghi tên người đi, người ở lại, số ngày lương mỗi nhà tự mang được và tên người họ định tìm. Không nhà nào được ghi là đã có đất ở nơi đến.
“Công Thị sẽ đưa họ đi?” Bội hỏi khi thấy bó thẻ.
“Đoàn và họ đi cùng một đường,” Thanh đáp. “Tới bến, mỗi nhà tự trình việc của mình. Tôi không hứa người ở đó sẽ cấp ruộng.”
“Ba nhà này vừa nhận thóc trạm.”
“Vì họ không có gì nấu hôm qua.”
“Nếu họ mang đi, kho lấy gì đối?”
Lân nhấc bản ghi giao nhận. “Tên và lượng của từng nhà. Tôi đã đối lúc phát.”
Bội nhìn ông. “Một dòng thẻ không nuôi lại kho.”
“Thu lại từ họ cũng không làm đường gò Vi mở sớm hơn,” Dương Kiên nói.
Hai người đứng đối diện qua chiếc cân. Trong sân, những nhà chuẩn bị đi im dần. Hùng thấy người đàn bà bế con đặt tay lên túi giống như sợ ai đó sẽ tính cả nó vào phần phải trả.
Bội bảo người gác đưa hòm thẻ giao nhận cũ lên xe của trạm trên.
“Lệnh yêu cầu giữ để tra soát,” ông nói.
“Giữ ở đâu?” Dương Kiên hỏi.
“Trạm trên.”
“Thẻ gốc đang ở chi trạm nam, có người coi kho và người nhà ta cùng giữ. Muốn chuyển, ghi từng bó rồi đóng dấu nhận.”
“Tôi có dấu tra soát.”
“Dấu của Công Tự cho phép hỏi. Nó không làm ba nút dây trong hòm tự có tên.”
Lân đem thẻ giao hòm tới. Bội nhìn số bó phải kê và bảo để lại đến chiều. Ông chưa muốn nhận một vật mình chưa đếm.
Hùng mở bản chép thẻ Bến Lau. “Bản này tôi đem theo để gửi về Châu cùng lời khai. Bản gốc ở lại trong hòm.”
“Trạm trên đã dặn chưa chép thêm,” Bội nói.
“Bản này được chép sau khi lời dặn tới. Lạc tướng yêu cầu, Lân đối bản gốc, tôi ghi cả việc ấy.”
“Vậy phải để bản chép lại.”
“Lệnh giữ hòm thẻ gốc và sổ xuất kho ở trạm để tra soát. Chưa có lệnh giữ bản đối chiếu tôi gửi về Châu.”
Bội đưa tay ra. Hùng không đặt bản chép vào đó. Chàng để nó trên bàn, đủ gần cho Bội đọc, nhưng vẫn giữ một tay ở mép thẻ.
“Công Tự có thể chép việc tôi không giao,” Hùng nói. “Tôi sẽ ghi việc Công Tự yêu cầu.”
Bội rút tay về. Ông sai người gác chép tên ba nhà đi cùng đoàn và lượng thóc họ nhận. Người gác còn lại đứng ở cổng.
“Các người chưa rời trạm được,” ông nói. “Ta phải so xong phần lương.”
Dương Kiên nhìn chiếc xe trống ngoài sân. “Công Tự đã xem thẻ, xem cân và sai người hỏi từng nhà. Ta cho Công Tự dùng gian trong tới chiều. Con đường không thuộc kho.”
Bội không đáp. Nhưng người gác ở cổng vẫn đứng nguyên.
• • •
Đến trưa, người gác đi kiểm thóc trở lại một mình.
Nhà ấy đã nấu một nửa phần nhận hôm qua. Nửa còn lại nằm trong chum, còn dấu đong của Lân. Người gác không lấy. Anh mang về lời người nhà ấy: nếu trạm cần, họ sẽ để chum ở đó cho người coi kho tới nhìn.
Bội ghi lời ấy, rồi xếp thẻ lại. Ông không tìm được phần thóc phát vượt quá lượng trên cân. Lân nhờ ông ghi kết quả kiểm ngay bên dưới yêu cầu thu hồi. Bội viết một hàng ngắn và đóng dấu mình.
Người gác ở cổng dịch sang một bên cho xe chở người ra. Anh vẫn nhìn những bao nhỏ buộc dưới sàn.
Khê đã kiểm từng dây xe. Tánh ngồi ở bậc thấp, chân đau duỗi ra trước. Nó mang một túi đồ nhỏ; khay thử hạt của Cốc Mận ở lại mái sau kho, có thẻ của nàng và người trạm nhận trông. Tánh đã hỏi Lân chỗ nào tránh được nắng gắt buổi chiều rồi mới chịu rời.
“Địa đi bộ được,” nó nói khi Khê đặt cây gậy cạnh chân.
“Đi được đến đâu?” Khê hỏi.
“Qua khỏi cổng.”
“Thế thì cầm gậy.”
Tánh cầm. Nó nhìn người gác ở cổng, rồi nhìn đứa nhỏ đang ngồi trên xe. Người đàn bà bế con hôm qua đã đổi sang dắt tay nó; bà cần cả hai tay để giữ bó đồ không rơi.
“Địa kéo xe được,” Tánh nói.
“Chân mày không cần chứng minh gì với cái xe,” Hùng đáp.
“Địa chỉ nói thôi.”
Hùng nghe giọng nó có phần cụt. Từ sáng Tánh đã thấy người trạm và những nhà nhận thóc nhìn nhau qua sân. Nó có thể nhấc một bao nặng hơn hai người làm kho; nó không biết phải đặt sự bực bội ấy vào đâu.
Thanh tới bên xe đầu. “Đi chậm qua bãi cát. Nhà có người già ở giữa đoàn, để không bị bỏ lại.”
Dương Kiên giao cho Hùng một thẻ xác nhận những bản gốc nào còn ở trạm nam. Bên dưới có dấu của Lân, người đã đối bản chép với thẻ gốc chiều hôm qua, và dấu của Dương Kiên xác nhận bản gốc vẫn ở trạm.
“Vực đã chỉ lối trên thẻ hôm qua,” ông nói. “Ta giữ thẻ ấy ở trạm; khi người cần hỏi về ca nước tới đủ, ta sẽ đối lời Già Tự ấy với họ. Không ai được lấy việc bọn bay đi khỏi đây làm cớ đóng nó lại.”
Thanh nhận thẻ. “Nếu có lời mới, xin ghi ai tự thấy và ai nghe kể.”
“Ta biết.”
Họ rời sân trạm. Bội đứng dưới mái, xem đoàn qua cổng. Ông chưa ra lệnh giữ người. Nhưng trước khi chiếc xe cuối khuất sau bờ thấp, Hùng thấy ông gọi ba người gác có ngựa tới bàn cân.
Con đường tới bến hợp lưu không chạy qua Bãi Thắng. Nó theo mép những ruộng cao, rời xa sườn tùng rồi xuống một dải đất cứng giữa hai nhánh nước. Nham Dự đã chỉ đường trên thẻ cho Khê, đánh dấu chỗ từng có cọc dẫn xe và chỗ cọc bị lũ nhổ. Dương Kiên cho một người trạm đi cùng tới ranh đường mình quản; người ấy sẽ quay về trước tối. Vịnh, Bách, Du và Khuyết cùng người coi lương, hai người gánh và hòm đá đã theo đường chi đồn Đá Mở xuống bến hợp lưu từ hôm trước; Khê mang thẻ hẹn chỗ gặp, cùng thẻ của trưởng đồn Kỳ cho chàng theo đoàn.
Họ qua một ruộng cát mới. Chủ ruộng đứng cạnh bờ, tay cầm một nắm đất ướt. Ông không đi với đoàn. Ông bảo vụ tới sẽ thử gieo ở mép trên, dù chẳng biết cát dưới lớp bùn dày bao nhiêu.
Một trong ba nhà đi cùng dừng xe.
“Nhà tôi còn một thửa như thế,” người đàn ông nói.
“Công Tự muốn quay lại?” Thanh hỏi.
“Tôi không biết.”
Vợ anh đặt tay lên càng xe. “Ấu đã đi cả buổi. Tới bến rồi tìm chỗ ngủ trước.”
Anh bước tiếp, nhưng không thôi nhìn thửa ruộng cho đến khi đường ngoặt. Không ai gọi những nhà ấy là người thắng nước lũ. Họ chỉ mang được người, ít lương và vài thứ biết dùng ở một nơi chưa gặp.
Buổi chiều, người trạm đi dẫn đường dừng ở cột đá đánh dấu đoạn cuối trạm nam còn coi. Phía trước là lối đắp hẹp chạy giữa bãi lau. Nước hai bên đã xuống, để lại bùn mềm. Một cây gỗ lớn bị lũ đưa tới nằm song song lối đi, mắc một đầu dưới bờ cứng. Xe người có thể qua từng chiếc. Ngựa đi nhanh sẽ khó tránh nhau.
Người dẫn đường chỉ chỗ cắm cọc qua bãi. “Qua cây lau ngả là hết đường của Châu này, sang vùng bến hợp lưu. Tôi quay về từ đây.”
Ông chưa đi được bao xa thì tiếng vó ngựa nổi sau lưng đoàn.
Khê kéo xe đầu sang phía chắc. Ba người gác từ trạm trên tới, Bội đi sau họ. Người dẫn đường đứng lại bên cột đá.
Bội xuống ngựa ở đầu lối đắp. “Công Tự Hùng! Dừng đoàn.”
Hùng bước ngược về phía ông. Thanh bảo các xe tiếp tục qua từng chiếc. Bội nhìn thấy, giơ tay cho người gác tiến lên.
“Ta chưa so xong lương mang khỏi trạm,” ông nói.
“Công Tự đã đóng dấu lượng kho phát đúng thẻ,” Hùng đáp.
“Thóc vẫn nằm trên xe. Và bản chép Bến Lau vẫn trong tay Công Tự.”
Hùng không đáp ngay. Chàng rút thẻ Dương Kiên vừa giao, đưa mặt có các dấu xác nhận cho Bội nhìn.
“Bản gốc ở trạm nam. Lương của các nhà có tên ở sổ. Nếu Công Tự muốn giữ thóc họ đang dùng trên đường, ghi tên người nhận lại và phần ăn nào sẽ cấp thay.”
Bội không nhận thẻ. “Ta muốn các người quay về để làm rõ.”
“Công Tự có lệnh giữ đoàn?”
“Ta có lệnh tra soát.”
“Tôi sẽ trả lời về việc mở kho tại nơi nhận bản đối chiếu. Công Tự đã ghi điều tôi làm. Các nhà này không đứng tên phá niêm.”
Bội nhìn qua vai Hùng. Người đàn bà bế con đã sang gần hết lối. Trên xe bà có chiếc túi giống buộc cao, tránh bùn bắn. Hai xe còn lại đang đợi nhau ở đầu đoạn hẹp.
Một người gác thúc ngựa lên. Con vật đặt chân xuống đất mềm, trượt một bước. Tánh ở cạnh cây gỗ cúi nhặt một hòn đá kê cọc. Khê thấy tay nó siết lại.
“Tánh,” anh gọi.
“Địa thấy.”
“Thấy gì?”
“Nếu hất cây này ngang lối, ngựa không qua.”
“Người đứng sát đầu kia.”
“Địa có thể hất xa hơn.”
Khê nhìn vai nó. Một lần Tánh dùng hết sức với thân cây mắc bùn, đầu gỗ có thể quét cả xe cuối lẫn người gác. Nó cũng sẽ dồn lực lên bàn chân còn đau.
Thanh nghe thấy, đi tới. Nàng không bảo Tánh đứng yên. Nàng chỉ về chỗ đầu cây nằm dưới bờ.
“Có thể xoay nó chậm không?”
Tánh nhìn phần bùn giữ thân gỗ, rồi nhìn những cọc dẫn đường đã lỏng sau lũ. “Nếu kê đá dưới đầu này. Nhưng phải có người giữ dây. Không được giật.”
“Can giữ,” Khê nói.
“Can đừng buộc vào tay.”
“Can biết buộc vào cọc.”
Ở đầu lối đắp, Bội ra hiệu người gác xuống ngựa. Hùng đứng giữa họ và những chiếc xe, vẫn giữ tấm thẻ xác nhận trước ngực. Chàng không lùi, cũng không tìm cách giằng dây cương.
Tánh đưa hòn đá kê dưới thân gỗ. Nó thử đẩy bằng vai. Cây chỉ dịch một ít. Bàn chân đau nhói khiến nó phải đổi thế đứng. Khê căng dây từ đầu kia, giữ cho thân gỗ không bật ngược. Người dẫn đường, chưa đi xa, quay lại chèn thêm một hòn đá ở mép bờ.
“Đẩy nữa là nó xoay,” ông nói.
“Chờ xe cuối qua,” Tánh đáp.
Nó giữ nguyên sức trên vai. Những thớ gỗ cấn vào áo, nhưng cây chưa chuyển thêm. Xe cuối đi qua chỗ bùn, người đàn ông mất ruộng cùng vợ đẩy hai bên. Khi bánh sau lên nền cứng, Thanh giơ tay.
Tánh thở ra rồi đẩy theo hướng đã chọn. Cây gỗ xoay từ từ, chắn ngang lối đắp. Một đầu tựa vào bờ chắc; đầu kia nằm trên hai hòn đá kê. Nó không lăn xuống phía người gác. Khê buộc dây giữ đầu gỗ vào cọc. Tánh lùi một bước, nhăn mặt vì chân đau.
Bội tới sát vật chắn. Bên kia, Thanh đang cho các xe dừng lại để đợi người đi bộ. Đoàn không chạy.
“Các người định chặn hầu lính?” ông hỏi.
“Đoàn cần qua lối một xe,” Hùng đáp. “Không ai bị đánh. Khi người và xe khỏi đoạn hẹp, người trạm có thể tháo dây, xoay cây lại.”
“Ta vẫn có thể đi bộ qua.”
“Công Tự có thể,” Thanh nói từ bên kia. “Nhưng xin đừng đưa ngựa và người vào giữa những xe có Ấu và người già.”
Một người gác đặt tay lên cán giáo. Tánh thấy động tác ấy. Nó đã đứng ở đầu dây, có thể giật cọc cho thân gỗ bật thêm một đoạn. Chỉ cần vậy, người gác sẽ phải nhảy tránh. Nó thả tay khỏi dây.
Người gác nhìn nó. Tánh giữ hai bàn tay mở, không bước tới. Khê đứng bên cạnh, giữ nút dây đủ căng để cây gỗ nằm yên.
Bội nhìn những chiếc xe, rồi nhìn tấm thẻ Hùng vẫn đưa ra. Ông gọi người gác bỏ tay khỏi cán giáo.
“Ta sẽ ghi rằng các người cản đường.”
“Ghi cả việc đoàn để lối cho người đi bộ,” Hùng đáp.
“Ta sẽ ghi điều mắt ta thấy.”
“Vậy chúng ta cùng có chỗ để bắt đầu.”
Bội đứng lại cho tới khi người già cuối cùng đi khỏi dải đất mềm. Ông không nhận thẻ xác nhận, cũng không lấy được bao thóc hay bản chép. Lúc chiếc xe có túi giống đi khuất, ông nhìn theo lâu hơn nhìn tấm thẻ. Người dẫn đường của trạm nam trở lại tháo dây, rồi cùng Khê kê cây gỗ dọc mép lối như trước. Tánh muốn giúp nhấc đầu gỗ, nhưng chân nó run; lần này nó để hai người làm.
Bội cho người gác dắt ngựa qua từng con. Họ không đuổi nữa. Ông nói sẽ gửi bản tra soát tới nơi Hùng nhận trách nhiệm. Hùng đọc tên nơi nhận trên thẻ công vụ cho ông ghi, rồi đi theo đoàn.
• • •
Đêm xuống trước khi họ tới bến.
Đoàn dựng mái tạm trên một nền cao còn vết cọc của những chuyến qua trước. Cọc ranh đã ở sau lưng họ từ chiều. Nền cao nơi đoàn nghỉ thuộc vùng bến hợp lưu, dù họ còn phải đi tới bến và tìm đường qua nước vào sáng mai. Nhà có người già nhóm bếp trước; nhà có Ấu chia nước. Người đàn bà giữ túi giống mở phần thóc ăn đã nhận ở trạm nam. Bà đong vừa đủ một nồi, buộc phần còn lại cẩn thận.
Thanh xem chân Tánh. Da ở chỗ đau không rách thêm, nhưng cổ chân sưng trở lại. Nàng quấn vải, dặn nó ngày mai lên xe qua đoạn đường thấp.
“Địa chặn được họ,” Tánh nói.
“Ừ.”
“Nếu Địa hất cây ngay lúc đầu, họ đã không tới gần.”
“Xe cuối cũng chưa qua,” Thanh đáp.
Tánh nhìn bàn tay mình. “Địa biết.”
“Lúc biết, mày vẫn còn muốn hất.”
“Có.”
Nàng buộc nút cuối rồi ngồi cạnh nó một lúc. Tánh nghe những người mất ruộng gọi nhau chuyển nồi khỏi gió. Ở đầu bãi, Khê đang chỉ cho một người nhà cách buộc dây xe để sáng mai bánh không sụp xuống cát.
“Địa đứng chờ lâu quá,” nó nói.
“Họ qua được vì mày chờ.”
Tánh không đáp ngay. Nó nhìn chiếc gậy Khê đặt bên cạnh. Sáng nay nó đã định bỏ lại ở trạm.
Hùng tới sau khi ghi xong nơi đoàn nghỉ và lượng lương các nhà còn giữ. Chàng mang hai bó thẻ: một bó về kho, một bó về bến Lau. Chúng không bị lấy đi trên đường, nhưng việc Bội đã thấy cả hai cũng nằm trong bản ghi mới của chàng.
“Sáng mai tới đường bến,” chàng nói. “Người dẫn đường bảo từ đó phải hỏi luồng nước trước khi tìm thuyền.”
“Địa hỏi được,” Tánh nói.
“Mai mày ngồi xe và hỏi.”
Nó muốn phản đối, rồi nhìn chân mình. “Địa sẽ hỏi.”
Ngoài mái tạm, gió qua bãi lau làm các ngọn cây nghiêng về cùng một hướng. Không có tiếng sấm. Phía xa, vài đốm lửa của những nhà đi trước hiện rồi khuất theo lối xuống bến. Đoàn chưa biết ai sẽ nhận họ ở vùng bến phía trước, và những thửa ruộng đã mất vẫn ở sau lưng. Sáng mai, họ phải tìm một đường qua nước trước khi có thể hỏi đến đất.

💬 Bình luận (0)