🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục Khai Thác AI
🔎 Tìm kiếm ⬇️ Tải app Android
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google

Ch.29: Kho thóc mở cửa

~16 phút đọc · 3070 từ · · ⚠️ Báo cáo

Sáng hôm sau, con đường từ gò Vi tới chi trạm nam vẫn nằm dưới nước.
Trước khi đi xem cầu, Thanh và Hùng gặp Vực tại trạm. Ông chỉ lại lối qua sườn tùng trên thẻ trước mặt họ và Dương Kiên. Ông đánh dấu những chỗ tự nhớ; nơi nào chỉ nghe người khác kể, Hùng ghi riêng. Người cần hỏi về ca nước chưa tới đủ, nên Dương Kiên giữ phần đối chứng ấy lại trạm.
Người đưa tin đêm trước dẫn Hùng và Thanh xuống chỗ cầu đất bị xé đôi. Nước không còn chảy xiết như lúc phá đường, nhưng giữa hai đầu lối đi là một khoảng bùn sâu, lẫn rễ cây và những tấm ván gãy. Bên kia, một xe thóc mắc nghiêng dưới mái trú. Người đánh xe đứng cạnh nó, thấy họ thì giơ tay. Tiếng ông bị dòng nước nuốt mất.
“Bao lâu mới đưa xe qua được?” Hùng hỏi.
Nham Dự dùng cán búa thăm mép bùn. “Nếu nước không lên nữa, hai ngày để kê lối cho người đi bộ. Xe phải chờ lâu hơn.”
“Có thể chuyển từng bao bằng thuyền?”
“Thuyền ở bến Lau đưa được người. Muốn chở thóc qua đây phải vòng xuống khúc thấp. Sớm nhất là chiều mai.”
Người đưa tin nhìn Hùng. “Kho trạm nam có thóc. Nhà chân núi đã biết nên họ tới từ lúc trời chưa sáng.”
Hùng quay về phía trạm.
Trước cổng kho, mười mấy người đứng dưới mái hiên hẹp. Một người đàn bà bế đứa nhỏ ngủ gục trên vai. Hai người khác mang theo chiếc rá trống. Họ không chen vào cửa; họ nhìn người coi kho mỗi khi ông bước ra, rồi lại nhìn về con đường ngập.
Người coi kho tên Lân. Ông dẫn đoàn vào gian cân và đặt trước Hùng hai bó thẻ. Một bó ghi thóc đã phát theo lệ thường. Bó kia ghi phần dự trữ còn niêm.
“Phần phát trong ngày đã hết từ hôm qua,” Lân nói. “Kho còn thóc giống của trạm và thóc dự phòng khi đường nam bị cắt. Muốn đụng tới phần dự phòng phải có lệnh mang dấu cấp dự trữ đã đăng ở Châu.”
“Đường nam đang bị cắt,” Thanh nói.
“Tôi biết. Nhưng thẻ kho ghi lúc nào được mở, ai được lấy và lấy bao nhiêu. Chưa có thẻ lệnh.”
Dương Kiên đứng bên cửa. Ông đã đến trước họ, áo ngoài còn ẩm sương. Ông cầm tấm thẻ báo nước làm đứt đường, mặt sau có dấu của người gác hai đầu cầu.
“Ta có thể cho người nhà Dương chở phần thóc của nhà ta xuống,” ông nói. “Không đủ cho cả chân núi. Phần của trạm thì người coi kho nói đúng.”
“Ngài có quyền ra lệnh khi đường bị cắt,” Hùng đáp.
“Ta có quyền báo và giữ trật tự ở đây. Dấu cấp dự trữ này thuộc một chức khác. Đời trước từng có người nhân một cơn mưa để mở kho, rồi tới mùa gieo cả vùng thiếu hạt. Lệ được viết vì chuyện ấy.”
Lân không cúi đầu trước lời bênh vực. “Nếu hôm nay mở sai, người ghi thiếu thóc ở cuối mùa cũng là tôi.”
Hùng xem bó thẻ lần nữa. Trong kho có ba phần buộc dây khác màu: thóc để phát thường, thóc dự phòng cho người và thóc giống phải giữ qua mùa. Chàng tách riêng thẻ của phần thứ ba.
“Thóc giống không tính vào việc này,” chàng nói.
Lân nhìn chàng. “Phần dự phòng cũng không phải của riêng đoàn.”
“Tôi chưa bảo là của riêng đoàn.”
Bên ngoài có tiếng đứa trẻ khóc. Người đàn bà dỗ một lúc, tiếng khóc yếu đi rồi ngừng. Lân nghe thấy. Ông sắp lại hai bó thẻ cho thẳng mép, dù chúng vốn đã thẳng.
Thanh bước ra hiên hỏi từng nhà. Nàng không chỉ ghi họ nói đã hết thóc. Nàng hỏi bếp nhà còn gì, có ai đang sốt, ai có thể đi qua đường bùn để nhận phần phát và ai không thể rời người nằm bệnh. Khê đi cùng người gác tới ba căn nhà gần nhất để đối lại lời kể. Họ trở về với một vò kê còn một lớp mỏng dưới đáy, hai bếp đã tắt và một người già nằm đợi cháo từ tối qua.
Người đàn bà bế con mở tay nải mang theo, cho Thanh xem túi thóc nhỏ bà đã lấy từ xà nhà trước khi tới trạm. “Đây là phần để gieo. Nếu trưa nay không có gì nấu, tôi phải lấy nó.” Thanh ghi riêng việc ấy, không tính túi thóc giống thành lương ăn còn lại của nhà bà.
Không phải mọi nhà đều hết lương. Có nhà còn đủ hai ngày. Có nhà vừa mất phần thóc gửi trên xe bên kia cầu. Hùng ghi riêng, không gom họ thành một con số để xin mở kho cho dễ.
Ở cuối hàng, một người đàn ông nói mình chỉ cần vay một đấu tới khi xe qua được. Người bên cạnh kéo tay ông.
“Nhà Công Tự còn,” bà nói. “Nhà tôi không có gì nấu trưa nay.”
Hùng nghe cả hai. Chàng bảo người gác đưa bà vào chỗ Thanh đang ghi, rồi hỏi người đàn ông có thể giúp khuân phần phát tới nhà người già hay không. Ông nhìn chiếc rá của mình, đặt nó xuống và gật đầu.
Khi Hùng trở vào, Lân vẫn đứng cạnh cửa kho.
“Bao nhiêu nhà không chờ được tới chiều mai?” ông hỏi.
“Bảy nhà báo cần thóc hôm nay. Ba nhà trong số đó có người không tự đến nhận được.”
“Bảy nhà là lời họ nói.”
“Điển Tri Sứ đã hỏi từng bếp. Khê và người gác đã xem ba nhà gần nhất. Bốn nhà còn lại tôi muốn Công Tự cử người kho đi cùng đoàn xem trước khi phát.”
Lân nhìn các thẻ trong tay Hùng. Chàng đã đánh dấu nhà nào được kiểm bằng mắt, nhà nào còn chờ hỏi, không viết cả bảy như một việc đã biết chắc.
“Nếu đúng bảy nhà,” Lân nói, “phần dự phòng đủ. Tôi vẫn chưa có dấu lệnh.”
Dương Kiên sai người mang thẻ báo lên chi trạm trên. Người đưa tin nhận thẻ, nhìn trời rồi đi ngay. Mưa đã dứt nhưng bờ lầy khiến một chuyến đi về không thể xong trước tối.
Hùng đứng rất lâu trước cánh cửa kho. Trên gỗ có hai dấu niêm. Một dấu của người coi kho, một dấu của nơi quản phần dự trữ. Chàng có thể yêu cầu Lân phá cả hai. Ông sẽ phải chịu tội thay chàng, dù đã nói rõ mình không có quyền.
Chàng nhớ chiếc chuông của Vực đêm trước. Một người bỏ chỗ canh vì có người chờ ở lối khác, rồi mang lượt nước bị bỏ suốt hơn bốn mươi mùa.
“Công Tự giữ khóa và sổ,” Hùng nói. “Tôi sẽ ghi quyết định mở phần dự phòng bằng tên mình. Lạc tướng và Công Tự cùng chứng kiến số niêm trước khi tháo.”
Dương Kiên nhìn chàng. “Chức của Công Tự Hùng cho phép việc ấy?”
“Tôi không có thẻ cấp kho.”
“Vậy điều Công Tự định làm trái lệ.”
“Phải.”
Thanh từ hiên bước vào, nghe được câu ấy. Nàng không ngăn. Nàng đặt bó thẻ ghi nhà lên bàn, ngay cạnh tay chàng.
Trong sân, gió lùa qua những chiếc rá trống. Hùng không nhìn ra đó khi đáp. Chàng nhìn tấm thẻ ghi phần thóc giống, đặt nó xa bó dự phòng.
“Tôi sẽ chỉ lấy phần cần để bảy nhà qua hôm nay và sáng mai. Nhà nào còn lương thì chờ chuyến thóc từ gò Vi. Nếu lệnh đến trước chuyến xe, người giữ kho có thể dừng việc phát tiếp. Tôi chịu trách nhiệm về dấu niêm và lượng thóc đã xuất.”
Lân hỏi: “Nếu sau này có người bảo Công Tự bịa số nhà?”
“Công Tự ghi số mình đã cân. Điển Tri Sứ ghi người nhận. Người gác và người của từng nhà nhìn lúc phát. Bản của tôi gửi về Châu cùng thẻ báo đứt đường.”
“Còn nếu cuối mùa kho thiếu?”
“Bản ấy cũng mang tên tôi.”
Dương Kiên vẫn chưa đồng ý. Ông đi ra hiên, nhìn hàng người đang đợi. Người đàn bà bế con ngồi xuống bậc, nhường chỗ dưới mái cho người già vừa được dìu tới. Không ai hô mở kho.
“Công Tự có thể chờ thẻ trả lời,” ông nói khi trở vào.
“Họ không thể chờ cùng một cách.”
Lân lấy dao nhỏ dùng cắt dây niêm. Ông đặt nó giữa bàn, chưa đưa cho ai. Tay ông không run, nhưng ông nhìn hai dấu niêm lâu hơn nhìn con dao.
Hùng viết lên một thẻ tre sạch: giờ mở kho, tình trạng đường, phần thóc được phép lấy trong quyết định của chàng và phần thóc giống phải giữ nguyên. Dưới đó chàng ghi tên mình, chức vụ, rồi để một khoảng cho Lân ghi lượng cân thực tế. Chàng đọc thành tiếng từng dòng cho Dương Kiên và người coi kho nghe.
“Đừng ghi tên ta vào hàng ra lệnh,” Dương Kiên nói.
“Tôi không ghi.”
“Ghi rằng ta có mặt và phản đối.”
Hùng viết thêm đúng lời ấy.
Lân nhấc dao. Ông cắt lần lượt hai dây niêm ở cửa kho, để Dương Kiên và Hùng cùng nhìn dấu trên từng sợi trước khi đặt chúng lên bàn. Cửa kho nặng; ba người cùng đẩy mới mở được. Mùi thóc khô từ bên trong tràn ra hiên.
Không ai trong hàng người bước tới. Họ nhìn cánh cửa mở như nhìn một thứ chưa chắc đã dành cho mình.
Lân gọi hai người làm kho mang cân ra. Ông chỉ mở ngăn dự phòng, để ngăn thóc giống còn nguyên dấu. Hùng đứng ngay cửa, nhìn từng đấu được đong. Thanh gọi tên nhà theo thẻ đã kiểm. Phần của người già được giao cho người đàn ông vừa nhận khuân giúp; Khê đi theo để thấy thóc tới đúng bếp. Người đàn bà bế con nhận phần mình sau cùng. Nàng không cảm ơn ngay, vì còn phải hỏi có được mang thêm nước để nấu hay không.
“Có,” Thanh đáp. “Nước ở giếng phát theo lượt. Sẽ có người chỉ cho Công Thị.”
Tới giữa trưa, hai người gác và người kho đi kiểm bốn nhà còn lại trở về. Một nhà vẫn có củ khô và kê, chỉ cần chờ xe. Một nhà có thóc nhưng không có người đủ sức giã. Hai nhà thực sự không còn gì nấu. Lân tự gạch tên nhà thứ nhất khỏi lượt phát hôm ấy. Nhà thứ hai được người hàng xóm nhận giã giúp, không lấy thêm thóc kho.
Hùng nhìn phần thóc chưa phát còn trên cân. Nếu chàng đã viết một con số tròn cho tất cả các nhà lúc sáng, không ai ngoài sân biết hai phần ấy đã bị lấy thừa. Nhưng cuối mùa, hai phần ấy vẫn thiếu.
“Ghi cả những nhà không nhận,” chàng bảo Thanh.
“Qua đang ghi.”
Tánh tới khi họ đã đóng cửa ngăn dự phòng. Chân nó còn đau nên Cốc Mận nhờ người nhà Cốc đưa nó sang bằng thuyền bến Lau, rồi dìu từ bến lên trạm. Nó mang theo một túi hạt đã được hong và một thẻ của Mận.
“Công Thị Mận bảo phần này chưa được gọi là giống sống,” nó nói với Hùng. “Công Thị ấy muốn xem kho trạm có chỗ đặt khay thử không. Kho Cốc còn ướt.”
Lân nghe chữ “giống” thì lập tức chỉ về ngăn niêm kín. “Không đặt cạnh thóc phát. Người không biết sẽ lấy nhầm.”
“Tôi biết,” Tánh nói.
“Người khác thì sao?”
Tánh nhìn hai sợi dây đánh dấu trong tay. Nó không cãi. Nó hỏi Lân chỗ nào khô, có nắng sớm nhưng không bị người khiêng bao đi qua. Lân dẫn nó tới một mái thấp phía sau kho. Họ đặt khay thử ở đó, treo thẻ của Mận ngay trên giàn. Chỉ khi đã nhìn rõ đường từ cửa kho tới giàn, Tánh mới buộc dây.
Ngoài sân, một người đưa tin khác từ trạm trên tới. Anh không mang thẻ trả lời cho chuyến báo vừa gửi; anh mang một bó lệnh cũ có dấu tra soát kho từ mùa trước, nói người ở bàn tra soát bảo phải xem lại trước khi cấp dự trữ. Bàn tra soát còn yêu cầu chuyển hòm thẻ giao nhận cũ lên để tra soát và chưa cho đoàn sao chép thêm.
“Bao lâu mới có lệnh mới?” Dương Kiên hỏi.
“Người coi dấu đi sang bến đông. Họ đang tìm.”
Lân nhìn cánh cửa vừa được niêm lại bằng dây mới. “Tới lúc tìm được, phần trưa đã vào nồi.”
“Và người ấy sẽ hỏi vì sao mở,” Dương Kiên nói.
“Tôi đã ghi,” Hùng đáp.
Người đưa tin ngần ngại. “Bàn tra soát còn dặn: chưa phát thêm. Họ nói có thể lấy thóc nhà Dương trước.”
“Thóc nhà ta đang đưa xuống,” Dương Kiên đáp. “Nó đủ bù một phần ngày mai, không đưa được bữa trưa hôm nay trở lại.”
Ông cầm thẻ của Hùng đọc một lượt. Khi tới dòng ghi ông đã phản đối, ông nhìn chàng.
“Công Tự chép đúng.”
“Đó là điều ngài nói.”
“Ta sẽ gửi cùng thẻ báo của ta. Họ cần thấy lúc mở kho đã có ai ở đây, ai bảo dừng và ai quyết làm.”
Một người làm kho từ gian sau đi tới, trên tay cầm thẻ giao nhận cũ. Ông bảo khi lấy dây niêm mới, mình thấy trong hòm lưu có một thẻ lạ nằm lẫn với những thẻ trả lại từ trạm trên.
Lân đọc dấu đầu thẻ. Mặt trước ghi một lần chuyển thóc dự trữ mùa trước. Mặt sau có hàng chữ ngắn yêu cầu “giữ lại để so đường lương Bến Lau”. Dấu lệnh ở cuối không giống dấu thường dùng để cấp kho. Nó là dấu của một bàn tra soát mà Lân chưa từng gặp người tới làm việc.
“Thẻ này vào hòm từ bao giờ?” Hùng hỏi.
“Trước mùa mưa,” người làm kho đáp. “Tôi không biết ai bỏ vào. Hòm ấy nhận thẻ theo chuyến, không khóa riêng từng người.”
Thanh đứng bên cạnh Hùng, không chạm vào thẻ.
“Đường lương Bến Lau là bó chúng ta vừa mở tối qua,” nàng nói.
“Có thể người tra soát muốn hỏi một khoản cũ,” Hùng đáp. “Cũng có thể họ đang giữ thẻ vì việc khác. Chưa biết.”
Lân nhìn từ tấm thẻ lạ tới dấu niêm mới trên cửa kho. “Nếu họ đã muốn so từ mùa trước, sao không tới?”
Dương Kiên không trả lời. Ông bảo người làm kho đặt thẻ vào một tấm vải sạch, để Lân ghi nơi tìm thấy và những người có mặt.
“Bàn tra soát đã dặn chưa cho chép thêm,” Dương Kiên nói. “Ta vẫn yêu cầu bọn bay chép thẻ này trước mặt người giữ kho. Ghi cả lệnh của họ và tên ta vào bản đối chiếu.”
Hùng chép trước mặt hai người; Lân so với thẻ gốc. Dương Kiên yêu cầu gửi bản chép về Châu. Bản gốc vẫn nằm trong hòm của trạm, chờ người có trách nhiệm nhận và đóng dấu giao.
Chiều muộn, thóc nhà Dương xuống tới sân. Người nhà ông kê các bao bên cạnh cân, đợi Lân đếm rồi mới nhập. Không ai lấy số ấy viết bù vào phần dự trữ đã xuất. Hai nguồn thóc được ghi thành hai hàng khác nhau.
Hùng xem thẻ cuối ngày. Bảy nhà từng được báo là cần giúp ngay; sau khi kiểm, chỉ năm nhà nhận thóc kho. Một nhà được giúp giã phần mình có, một nhà chờ xe bên kia cầu. Phần dự trữ đã mất dấu niêm cũ và giảm đi từng ấy thóc. Không dòng nào trên thẻ làm việc ấy biến mất.
Dương Kiên đứng ở cửa, nhìn người gác đưa phần cuối cùng tới căn nhà có bếp tắt từ tối qua.
“Ngày mai họ sẽ hỏi Công Tự vì sao không chờ,” ông nói.
“Tôi sẽ mang thẻ tới.”
“Họ cũng sẽ hỏi ta vì sao đứng nhìn.”
“Ngài có lời của ngài trong bản ghi.”
Lạc tướng gật, nhưng chưa rời cửa. Phía sau ông, Tánh cùng Lân đang thử chỗ treo khay hạt để nắng sáng mai không chiếu gắt vào phần đã ngâm. Ở sân trước, người coi cân buộc lại dây cho từng bó thẻ giao nhận. Một cánh cửa kho vừa mở đã khiến nhiều người phải đặt tên mình cạnh việc họ làm.
Khi trời sẫm, người đưa tin Dương Kiên phái đi buổi sáng trở về. Anh mang hai thẻ lệnh còn ướt ở mép. Thẻ thứ nhất cho phép dùng thóc dự phòng nếu đường gò Vi không thông tới sáng hôm sau, nhưng yêu cầu giữ nguyên niêm cho đến lúc xác nhận. Thẻ thứ hai mang dấu của bàn tra soát trạm trên: nếu kho tự ý phá niêm, phải giữ sổ xuất kho và thẻ Bến Lau để tra soát, gọi người đứng tên mở kho lên trả lời. Dương Kiên cho chép nguyên lệnh và ghi giờ hai thẻ tới. Hùng đặt bản ghi phát thóc cạnh chúng, không giấu lượng đã xuất.
Lân đọc xong, đưa hai thẻ cho Hùng.
Thanh nhìn sang chàng.
“Bậu giữ bản chép hai lệnh,” Hùng nói. “Bản ghi mở kho, qua tự mang lên.” Tay chàng giữ mép thẻ lâu hơn cần.
Nếu chờ đúng lệnh, họ vẫn phải để năm căn bếp trống thêm một đêm.
Chàng không sửa giờ mở kho cho khớp với lệnh. Thanh buộc bản ghi của Hùng và hai thẻ lệnh thành những bó riêng, để sáng mai người từ trạm trên có thể thấy thứ tự mọi việc.
Ngoài mái hiên, một tiếng sấm vang rất xa. Không có mưa rơi xuống sân. Trong những nhà dưới chân núi, khói bếp bắt đầu lên qua hàng cây thấp.

💬 Bình luận (0)