🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục Khai Thác AI
🔎 Tìm kiếm ⬇️ Tải app Android
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google

Ch.28: Lời khai của kẻ đào ngũ

~16 phút đọc · 3131 từ · · ⚠️ Báo cáo

Người già đứng dưới bậc cửa trạm nam, hai tay ôm chiếc chuông không còn dây treo.
Ông tên Vực. Buổi chiều, Hùng đã ghi tên ấy bên lời kể về cái giếng bị đóng trong mùa sốt. Bây giờ ông không nhìn Hùng hay Thanh. Ông nhìn Lạc tướng Dương Kiên, người đang đứng sau họ dưới ánh đèn.
“Ta đã bỏ ca,” Vực nói.
Một người ngoài sân lập tức chửi. Tiếng người khác dồn lên trước khi Thanh kịp nghe hết câu tiếp theo. Họ gọi ông là kẻ đào ngũ, hỏi vì sao sau hơn bốn mươi mùa ông mới dám bước vào trạm. Có người chỉ về phía Bãi Thắng đang tối dần trên sườn núi.
“Nhà ta có tên trên bia,” người ấy nói. “Còn mày bỏ họ ở đó!”
Vực không lùi. Ông giữ chuông chặt hơn, làm mép đồng cấn vào bàn tay.
Dương Kiên đưa tay ra hiệu cho người gác giữ cửa. Hai người bước xuống bậc, nhưng đám đông đã ép tới gần. Họ gồm người trạm, người đi xem bờ lở và vài nhà ở chân giếng. Một hòn đất ném từ phía sau hàng người, vỡ trên cột cạnh vai Vực.
Thanh xuống bậc trước khi hòn thứ hai bay tới.
“Lùi lại,” nàng nói.
“Công Thị tránh ra,” một người đàn ông đáp. “Kẻ ấy tự nhận rồi.”
“Già Tự ấy nhận đã bỏ ca. Chưa ai nghe Già Tự ấy bỏ ai và đi đâu.”
“Nghe để làm gì? Người trên bia không còn nghe được nữa.”
Thanh không nhường bậc. Nàng quay sang Dương Kiên.
“Ngài giữ trạm. Xin ngài cho người đưa Già Tự ấy vào trong.”
Lạc tướng nhìn Vực. Ông đã nghe lời thú nhận, nhưng cũng thấy hai người gác phải chống tay mới giữ được lối cửa.
“Đưa vào,” ông nói. “Không ai chạm đến người đang khai trước mặt ta.”
Người đàn ông vừa lên tiếng cười khan. “Nhà Dương che cho kẻ bỏ nhà Dương?”
Dương Kiên quay hẳn về phía ông ta. “Ta đang giữ cửa trạm của ta. Ai muốn hỏi Vực, ngày mai hỏi trước mặt người ghi lời. Đêm nay kẻ nào đánh người ở đây sẽ phải trả lời ta trước.”
Đám đông không tan, nhưng lối bậc mở ra. Khê đỡ Vực qua cửa. Ông già khựng lại khi thấy những bó thẻ mộ đang hong trên bàn dài.
“Các người tìm được rồi,” ông nói.
“Già Tự biết dưới bia có thẻ?” Hùng hỏi.
Vực đặt chuông xuống. Một vệt đỏ in ngang hai lòng bàn tay ông.
“Ta biết người ta chôn tên cùng người chết. Ta không biết đất còn giữ được chữ.”
Dương Kiên đóng cửa, để hai người gác ở ngoài. Tiếng người vẫn dội qua vách. Ông kéo ghế đối diện Vực nhưng không ngồi.
“Ca nào?” ông hỏi.
“Ca giữ giếng đêm thứ tư.”
“Trong bảy ngày đóng đường?”
“Phải.”
“Quân của ta kể người giữ giếng bỏ chỗ để người trên bãi không có nước.”
Vực nhìn ông. “Đêm ấy họ thiếu nước. Điều đó đúng.”
Hùng lấy một thẻ tre sạch đặt cạnh chiếc chuông. “Ấu sẽ ghi lời Già Tự. Chỗ nào Già Tự tự thấy, chỗ nào nghe lại, xin nói riêng.”
“Ghi cả phần ta không muốn nói?”
“Phần ấy Già Tự có thể từ chối. Nhưng nếu nói, Ấu sẽ không đổi thành một việc khác cho dễ nghe.”
Vực đưa mắt qua những tên trên thẻ mộ. Ông nhận ra một tên, rồi dùng ngón tay giữ chặt mép ghế.
“Ghi,” ông nói. “Ta không đến đây để nghe mình được tha.”
• • •
Khi ấy Vực chưa già. Ông đã đủ sức kéo gàu và được giao một ca giữ giếng cũ mỗi đêm.
Dịch sốt xuất hiện ở ba xóm phía trên dòng nước. Những người đầu tiên được đưa tới Bãi Thắng để nằm cách các nhà dưới chân núi. Sau đó có người sốt ở bến, rồi ở cả trạm. Đường nam bị chặn. Mỗi nhà đặt vò ngoài cọc; người giữ giếng kéo nước, chia vào vò và để người mang lên bãi lấy sau khi mình đã lùi đi.
“Vì thế chuông không đánh,” Vực nói. “Đánh chuông là gọi mọi nhà đến cùng một lúc.”
“Dương Thu ra lệnh đóng giếng?” Dương Kiên hỏi.
“Dương tướng cho đóng lối xuống giếng với các nhà. Người trực giếng vẫn phải lấy nước.” Vực ngừng một nhịp. “Đêm thứ tư, ta không lấy.”
Thanh không hỏi ngay vì sao. Nàng nhìn chiếc chuông trên bàn. Vực chạm vào vết mòn nơi dây treo từng đi qua.
“Có một người đến tìm ta trước lúc đổi ca. Người ấy từ xóm trên, áo ướt tới vai, bảo những nhà chưa có người sốt đang bị giữ ở lối thấp. Đất sau lưng họ nứt, nước qua trước mặt họ. Nếu đợi đường nam mở, mái nhà sẽ xuống sông.”
“Bao nhiêu nhà?” Hùng hỏi.
“Ta không đếm được trong tối. Người ấy nói cả ba xóm có người chờ.”
“Người ấy tên gì?”
“Công Thị Đằm. Ta nhớ vì Cơ của người ấy từng giữ chuông trước ta.” Vực nhìn Thanh. “Ta tự thấy người ấy đến giếng. Chuyện đất nứt ở xóm trên, lúc ấy ta chỉ nghe người ấy kể.”
Hùng ghi đúng hai nguồn ấy lên hai mặt thẻ.
Vực kể ông đã chạy lên báo người giữ lối. Người ở đó không cho mở dây. Họ sợ đoàn người từ vùng có sốt đi qua những nhà chưa bệnh. Vực trở lại giếng. Chiếc gàu đã được kéo lên cho lượt nước cuối đêm, còn ca của ông chưa hết.
“Ta biết có lối qua sườn tùng,” ông nói. “Lối ấy vòng ra bến Lau, không đi ngang các nhà dưới giếng. Ngày thường chỉ người chặt củi dùng. Đêm mưa nó khó đi, nhưng nếu chờ đến sáng thì bờ trên có thể sụp.”
“Già Tự xin đổi ca?” Dương Kiên hỏi.
“Không. Người đổi ca cũng đang khiêng nước lên bãi. Ta đặt gàu bên thành giếng, cầm chuông đi gọi người biết lối rồi bỏ chỗ.”
Dương Kiên ngồi xuống. “Vì sao cầm chuông?”
“Để họ theo tiếng mà không đốt đuốc ở đoạn đá hẹp. Ta quấn vải quanh miệng chuông, chỉ gõ một tiếng khi tới chỗ phải rẽ.”
Ngoài cửa, có người nghe thấy tên bến Lau, hỏi lớn ông già đang kể gì. Khê nói qua vách rằng lời khai chưa xong. Một người gác kéo họ lùi khỏi cửa.
Thanh hỏi: “Già Tự đi trước bao lâu?”
“Đủ đưa nhóm đầu qua cây tùng, trở về đón nhóm sau và lại đi. Đến gần sáng ta mới xuống giếng.”
“Trong thời gian ấy, ai lấy nước?”
Vực nhìn tên trên thẻ mộ mà ông đã nhận ra lúc vào phòng.
“Một Ấu của nhà bến tới tìm nước cho Cơ. Ấu ấy thấy không có người trực, tự thả gàu. Gàu mắc vào thành. Khi ta về, Ấu ấy vẫn ở đó.”
“Cơ của Ấu ấy thế nào?” Thanh hỏi.
“Người ấy đã sốt nhiều ngày. Sáng ấy thì chết.”
Ông nói câu cuối mà không nhìn ai. Hùng đặt bút xuống một nhịp, rồi hỏi:
“Già Tự có biết chắc người ấy chết vì thiếu lượt nước đó không?”
“Không.” Vực siết tay. “Người ấy có thể chết dù ta ở giếng. Nhưng người ấy cần nước và ta không ở đó. Ta không xin ghi rằng mình đã cứu người ở sườn tùng để xóa việc này.”
Thanh gật rất nhẹ. Nàng bảo Hùng ghi cả hai điều: lượt nước bị bỏ, và nguyên nhân cái chết chưa thể biết chắc.
Dương Kiên nhìn người già. “Dương Thu có biết Già Tự dẫn người đi không?”
“Đến sáng Dương tướng biết. Người ấy lên sườn xem đường, rồi cho người mang dây tới chỗ đá trơn. Người ấy không gọi ta về giếng, bảo người khác giữ ca đó.”
“Dương Thu bắt Già Tự?”
“Không.”
“Vì sao?”
“Ta không biết Dương tướng nghĩ gì. Ta chỉ nghe người ấy bảo: ‘Đưa người qua hết rồi nói chuyện của mày.’”
Vực nhớ rõ giọng ấy. Nhưng ông không tự nhận rằng Dương Thu đã cho phép việc bỏ ca từ đầu. Trong thẻ ghi lời, Hùng để hai thời điểm tách nhau.
• • •
Vực nói đêm đầu tiên chỉ có những nhà sát bờ nứt đi được. Người khỏe mang trẻ nhỏ; người vừa hết sốt phải nghỉ sau mỗi đoạn dốc. Họ không đi thành một đoàn dài. Mỗi nhóm chờ dưới một tán cây, nghe một tiếng chuông mới bước tiếp. Những người còn ở xóm trên chuyển gạo, hạt giống và đồ dùng xuống theo các lối khác trong những đêm sau.
“Có bao nhiêu người rời đi?” Dương Kiên hỏi.
“Ta từng tưởng mình nhớ được,” Vực đáp. “Hơn bốn mươi mùa rồi. Ta nhớ đứa bé ngủ trong giỏ cá, nhớ một người làm rơi nắp chum ở chỗ rễ tùng. Ta không dám lấy những điều ấy mà đoán thành số nhà.”
Thanh nhìn Hùng. Chàng đã ghi được tên bến Lau, ba xóm phía trên và đường sườn tùng. Những điều ấy có thể đem so với dấu còn lại.
Dương Kiên gọi người giữ trạm. “Lấy bó thẻ chuyển lương qua bến Lau của mùa ấy.”
Người giữ trạm ngần ngại. “Thẻ ấy nằm trong lương đường nam. Ban nãy chúng ta chỉ lấy phần Bãi Thắng.”
“Lấy cả bó.”
Họ phải mở ba nút dây đã cũ. Các thẻ được buộc theo nơi nhận, không theo chuyện được kể trên bia. Dưới dấu bến Lau có nhiều lượt giao hơn Hùng dự tính: gạo xay, vải buộc, chum nước và giống còn khô. Lượt đầu mang dấu đêm thứ tư. Các lượt còn lại mang dấu từ đêm thứ tư đến đêm thứ bảy, là bốn đêm cuối của đợt đóng đường.
“Bốn đêm cuối trong bảy ngày ghi ở sổ Châu,” Khê nói.
Hùng đặt bản kể đại thắng cạnh bó thẻ. Sổ Châu viết quân địch tan sau bảy ngày, đường nam thông trở lại. Bó giao nhận cho thấy trong bốn đêm cuối ấy, lương đi theo một lối khác tới bến Lau.
Không thẻ nào ghi tên từng người được phát lương. Nhưng ở cuối bó có một thẻ tổng, mặt sau chia thành những nhóm nhỏ bằng vạch. Người giữ trạm đọc quy ước cũ ở đầu thẻ: một vạch dài cho một mái, vạch ngắn bên cạnh cho người cần khiêng hoặc dìu. Dưới ba tên xóm là năm mươi hai vạch dài. Hùng đếm hai lượt; Thanh đếm lại mà không cho chàng biết con số mình có trước khi cả hai cùng chỉ vào vạch cuối.
“Năm mươi hai mái,” nàng nói. “Còn số người, thẻ này không cho biết.”
Vực cúi đầu. “Nhiều hơn ta nhớ.”
“Có thể Già Tự chỉ dẫn vài nhóm,” Thanh đáp. “Thẻ tính cả những nhóm qua sau.”
“Ta dẫn đường hai đêm đầu. Hai đêm sau có người thay. Ta biết họ tiếp tục vì chuông trở lại chỗ giếng mỗi sáng.”
Dương Kiên cầm thẻ tổng lên. Ông nhận ra một dấu nhỏ của nhà Dương bên tên xóm thứ ba.
“Dương Thu đã duyệt lương?”
“Dấu này của trạm dưới quyền Dương tướng,” người giữ trạm nói. “Không cho biết tay ai đóng.”
“Vậy đừng ghi tay Dương Thu,” Hùng nói.
Lạc tướng nhìn chàng, rồi đặt thẻ xuống đúng chỗ cũ.
Bó giao nhận ghi lương tới bến Lau trong bốn đêm cuối và năm mươi hai mái thuộc ba xóm. Vực khai ông dẫn những nhóm đầu qua sườn tùng tới bến ấy. Hai nguồn cùng chỉ về bến Lau và mốc đêm thứ tư; bó thẻ chưa cho biết chắc họ đi lối nào hay ai dẫn các nhóm sau. Chúng chưa nói ai quyết định cho cả ba xóm bỏ đất, cũng chưa nói vì sao sổ Châu không chép cuộc ra đi ấy.
Dương Kiên lấy bản kể đại thắng đọc lại một lần. Khi đến hàng “địch tan, đường nam thông”, ông dừng.
“Nếu nhiều nhà đi khỏi vùng này,” ông nói, “đường nam thông cho ai?”
Không ai trả lời ngay.
Bên ngoài, gió từ sườn tùng đi qua sân trạm. Người đứng chờ vẫn đông. Họ đã nghe loáng thoáng con số năm mươi hai mái và bắt đầu gọi tên những xóm cũ. Một người quả quyết nhà mình chưa từng sống ở phía trên. Người khác nói Cơ mình vẫn giữ một bài hát gọi bến Lau là bến đón người về.
Thanh không cho người gác biến những câu ấy thành lời khai từ ngoài sân. Nàng xin Dương Kiên giữ cửa thêm một đêm, rồi từng nhà có điều cần nói sẽ được ghi tên và nghe riêng. Đám đông đang tìm một người để trút giận; nếu mở cửa ngay, họ sẽ chỉ nhớ ai hô lớn nhất.
Lạc tướng đứng dậy. “Ta phải nói với họ có gì trên thẻ.”
“Ngài nên nói,” Thanh đáp. “Và nói phần nào chưa biết.”
• • •
Khi Dương Kiên bước ra hiên, đám đông im dần. Thanh theo ra, đứng lại ở mép cửa.
Ông không mang bia xuống, cũng không mang Vực ra. Ông cầm thẻ tổng có ba tên xóm để mọi người thấy vật ông đang nói đến.
“Trạm giữ một bản giao lương qua bến Lau trong bốn đêm cuối của đợt đóng đường,” ông nói. “Thẻ ghi năm mươi hai mái từ ba xóm. Lời Vực cho biết người ấy bỏ ca giếng đêm thứ tư để dẫn nhóm đầu qua sườn. Việc bỏ ca là thật. Việc nhiều nhà rời vùng này cũng có dấu trong thẻ.”
“Vậy nhà tôi chết vì kẻ ấy bỏ giếng?” người đàn ông đã lên tiếng lúc Vực đứng ở cửa hỏi.
“Ta chưa biết người trong nhà ấy chết vì điều gì,” Dương Kiên đáp. “Ta sẽ không lấy thẻ lương để trả lời thay một người đã chết.”
“Nhưng kẻ ấy tự nhận!”
“Người ấy nhận không ở chỗ canh. Sáng mai lời ấy được chép cùng tên người cần hỏi về ca nước. Đêm nay không ai được g-iết người ấy.”
Người đàn ông muốn bước lên, nhưng một người đàn bà bên cạnh giữ tay ông. Bà hỏi về xóm thứ hai trên thẻ. Khi Dương Kiên đọc tên, bà đưa tay che miệng. Thanh không biết bà nhớ được ai hay vừa nhận ra một nơi Cơ mình từng kể. Nàng bảo người gác ghi tên bà để sáng mai hỏi.
Vực nghe mọi lời từ gian trong. Khi đám đông bắt đầu lùi, ông đứng dậy.
“Cho ta ra nói với nhà người thiếu nước,” ông bảo Thanh khi nàng trở vào.
“Ngày mai,” nàng đáp. “Khi họ có thể nghe hết lời và Già Tự còn sống để trả lời.”
“Công Thị che cho ta?”
“Ấu giữ Già Tự khỏi bị giết trước khi việc được xét. Lượt nước Già Tự bỏ vẫn ở trong bản ghi.”
Vực ngồi xuống. Ông không cảm ơn. Một lát sau, ông đẩy chiếc chuông về phía nàng.
“Ngày trước ta đem nó đi để dẫn người. Sau đó không ai treo lại. Cứ tưởng vì nó làm mọi người nhớ ca nước bị bỏ.”
“Có thể họ còn nhớ đường đi,” Thanh nói.
“Không ai nói với ta.”
“Nếu Già Tự muốn biết, ngày mai hỏi họ. Đừng để Ấu đoán thay.”
Hùng chép lại các dấu trên thẻ giao nhận. Người giữ trạm đối từng tên xóm và vạch mái với bản gốc rồi mới để chàng buộc bản sao thành bó. Hùng cất lời khai và bản sao thẻ giao nhận thành hai bó riêng. Bó thứ nhất mang tên Vực, ghi điều ông tự thấy, điều nghe Đằm báo và điều ông chưa thể biết. Bó thứ hai chép năm mươi hai vạch mái, ba tên xóm, các lượt giao lương tới bến Lau. Bản gốc vẫn ở trạm, dưới mắt người giữ trạm và người nhà Dương.
Khê nhìn cách chàng buộc dây. “Sổ Châu sẽ sửa chứ?”
“Đường vào Bãi Thắng phải sửa ngay,” Hùng đáp. “Chuyện cũ cần bản đối chiếu gửi về Châu. Ta không tự cạo dòng đại thắng khỏi thẻ gốc.”
“Còn bia?”
Dương Kiên đã trở vào. Ông nghe câu hỏi, nhưng không tỏ vẻ bị xúc phạm như buổi chiều.
“Đất dưới bia còn phải giữ trước,” ông nói. “Ngày mai người nhà ta kê lại chân dốc. Sau đó ta sẽ đọc lời chép của bọn bay. Nếu đặt thêm bản ghi, tên người chết và tên các xóm rời đi phải đúng.”
Hùng gật. “Những tên chưa chắc sẽ để chờ.”
“Ta biết.” Dương Kiên nhìn chiếc chuông cũ. “Lúc bọn bay mới tới, ta tưởng chỗ trống chỉ là điều người ngoài muốn lấy khỏi nhà Dương.”
Ông không nói thêm. Trong phòng, không ai bảo Dương Thu đã ra lệnh cho cuộc di dân, cũng không ai bảo ông đã tự đổi tai họa thành chiến công. Họ chỉ biết bản ghi đại thắng đã lấy đúng bảy ngày người ta đóng đường, đưa nước lên bãi và chuyển năm mươi hai mái nhà qua một lối khác. Dòng chữ về quân địch không giữ lại việc những người ấy đã đi đâu.
Ngoài sân, người gác vừa đóng cổng thì một người đưa tin từ bờ dưới tới. Áo anh ta ướt bùn, trên tay là thẻ báo của kho trạm nam. Nước đêm trước đã làm đứt lối chuyển lương từ gò Vi. Mấy nhà ở chân núi không còn đủ thóc chờ chuyến sau; trong kho trạm vẫn có thóc, nhưng người coi kho đang đợi lệnh mới dám mở phần dự trữ.
Dương Kiên nhận thẻ. Ông chưa kịp đọc hết, Vực đã ngẩng lên khi nghe tên những nhà ở chân núi.
Thanh nhìn từ bó thẻ của bốn mươi mùa trước sang tấm thẻ còn ướt trong tay Lạc tướng. Cùng một con đường có thể bị đóng vì những lý do khác nhau. Người đứng ở cửa trạm vẫn phải quyết định sẽ để ai chờ ở phía ngoài.
Nàng đưa chiếc chuông lại cho Vực.
“Giữ lấy,” nàng nói. “Sáng mai Già Tự còn phải chỉ đúng lối mình đã đi.”
Ông nhận chuông bằng cả hai tay. Đêm ấy không ai treo nó lên, cũng không ai bắt nó im.

💬 Bình luận (0)