🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục Khai Thác AI
🔎 Tìm kiếm ⬇️ Tải app Android
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google

Ch.27: Trận đánh chưa từng xảy ra

~23 phút đọc · 4416 từ · · ⚠️ Báo cáo

Sáng hôm sau, Khê trở lại kho Cốc với bùn khô bám kín một bên ống quần.
Chàng đã đến được trạm nam và giao bản số lính thật. Trên đường về, người gác trạm bắt chàng vòng qua chân núi, dù lối đi trên sổ Châu vẫn chạy thẳng qua Bãi Thắng.
“Bia chưa đổ,” Khê nói. “Nhưng đất phía sau nó đã nứt. Một cây tùng nghiêng, kéo cả mảng sườn xuống.”
Hùng đặt khay hạt đang giúp Cốc Mận chuyển vào mái râm xuống giàn.
“Có lộ đường cũ không?”
“Có đá kê, một đoạn rãnh và thứ trông như đầu cọc. Người gác không cho tôi lại gần.”
“Vì đất lở?”
“Vì Lạc tướng cấm.”
Thanh ngẩng lên. “Lạc tướng nào?”
“Lạc tướng Dương Kiên. Nhà Lạc tướng giữ bia từ đời người dựng nó. Lạc tướng cho dựng dây quanh bãi từ đêm qua, bảo đất chưa ổn. Sáng nay lại truyền thêm một lệnh: không ai được đào.”
Khê tháo bó thẻ đeo ở thắt lưng. Người giữ trạm đã sao cho chàng mục Bãi Thắng trong sổ Châu để đoàn đối chiếu lối đi. Trên mặt sau thẻ cuối, Khê vẽ vội bằng than bờ đá phía nam, lối mòn của trạm và vị trí cây tùng. Nét đường trên thẻ gấp khúc để tránh chỗ sườn vừa sụt. Nó không giống đường thẳng được chép trong sổ Châu.
Hùng nhìn thẻ rồi nhìn cổ chân Tánh. Nó đang ngồi dưới mái, xếp những sợi dây đánh dấu khay hạt thành ba bó.
“Đừng nhìn Địa,” Tánh nói. “Địa biết hôm nay không leo dốc được.”
Cốc Mận không ngẩng khỏi khay. “Hôm qua Công Tự cũng biết thế, sau khi mọi người nói bốn lần.”
“Lần này Địa tự biết.”
Nó đẩy bó dây thứ nhất về phía nàng. Những hạt đặt trên vải ướt đã nứt đầu mầm nhiều hơn đêm trước, nhưng ở một góc khay, vài hạt mềm đi và có mùi lạ. Mận chuyển chúng ra riêng, không cho Tánh gọi phần còn lại là giống đã cứu xong.
Thanh lấy áo khoác khỏi vách. “Ta đi cùng Khảo Tri Sứ. Công Tự Khê dẫn đường. Già Tự Nham Dự có biết lối quanh bãi không?”
“Già Tự đang ở sân,” Khê đáp. “Già Tự đến trước tôi để báo nhà Vi đoạn bờ nào phải chèn đá.”
Nham Dự nghe chuyện Bãi Thắng thì im khá lâu. Ông cầm thẻ đường, dùng ngón tay chặn ngay chỗ cây tùng Khê đã vẽ.
“Lối trên sổ từng ở phía trên rãnh này,” ông nói. “Ta đi qua khi còn nhỏ. Mấy mùa sau, nhà Dương đặt bia. Từ đó người ta đi vòng dưới chân bãi, dù sổ không sửa.”
“Vì có bia?” Hùng hỏi.
“Vì có người được chôn trên đó.”
Khê nhìn ông. “Hôm qua Già Tự chỉ bảo nền nứt.”
“Hôm qua các người còn phải giữ một kho giống và hai người bị thương. Ta không đứng giữa sân kể chuyện mồ mả.”
Nham Dự trả lại thẻ. Ông nhận đi cùng, nhưng dặn phải qua bờ đá trước khi nắng lên cao. Đất ướt dưới tùng có thể giữ được một buổi, cũng có thể rời ra trong một nhịp thở.
Tánh chống gậy đứng lên khi họ ra cửa. Thanh quay lại.
“Ở đây cần người giữ ba khay,” nàng nói.
“Địa biết.” Nó nhìn Hùng. “Nếu Can thấy đường trên sổ sai, Can ghi cả chỗ chân người ta đã đi.”
Hùng gật. Chàng cất bó thẻ Khê mang tới cạnh bó thẻ ghi việc thử giống. Cuộn sổ mùa đã khô trên giàn, nhưng không có chữ nào trở lại. Lúc rời kho, chàng nhìn nó một lần rồi đi theo con đường còn in dấu chân thật ngoài sân.
• • •
Bãi Thắng nằm trên một sườn đất hẹp giữa núi thấp và dòng nước vòng ra trạm nam.
Từ xa, tấm bia trông lớn hơn khoảng đất mang tên nó. Hai cây tùng đứng phía trên, một cây còn thẳng, cây kia nghiêng về phía dòng nước. Rễ cây nghiêng nổi khỏi đất thành những đường gồ ghề; bùn mới đọng giữa các rễ như những mảng vải ướt vắt qua đá.
Dây chặn được căng từ một cọc gỗ đến thân tùng thẳng. Bốn người gác đứng bên dưới. Họ không mặc giáp đủ bộ, nhưng khi thấy Khê dẫn Hùng và Thanh tới, cả bốn đều đặt tay lên dây thắt lưng.
Khê bước lên trước. “Bản số lính đã giao cho trạm. Ta đưa Khảo Tri Sứ Hùng và Điển Tri Sứ Thanh tới xem đoạn đường sụt.”
Một người gác nhìn về phía sau bia. “Lạc tướng đã bảo không ai vào bãi.”
“Đoàn đứng ngoài dây,” Thanh nói. “Trước hết xem đường.”
Người gác không cản. Nham Dự dẫn họ đi dọc mép bãi, nơi đất còn chắc dưới chân. Phía dưới là một khoảng phẳng không rộng hơn sân kho Cốc. Một đầu bị vách đá chắn, đầu kia hẹp lại trước con rãnh sâu. Nếu nhiều người cùng xuống đó, hàng sau sẽ ép hàng trước vào rãnh.
Hùng lấy thẻ chép từ sổ Châu ra. Đoạn nói về Bãi Thắng ngắn và dứt khoát:
Quân phương bắc vượt bãi. Dương tướng giữ thế cao, chặn đường lui. Sau bảy ngày, địch tan, đường nam thông trở lại.
Bên dưới là tên những người được ghi công và số chum lương trạm đã cấp. Không có bản vẽ trận địa. Trên thẻ đường của sổ Châu, một nét thẳng nối trạm nam với bãi, như thể thuyền, người và lương đều có thể đi qua cùng một lối.
Hùng đưa thẻ cho Khê.
“Nếu một đội từ phía bắc xuống đây, họ vào bằng đâu?”
Khê chỉ khoảng giữa vách và rãnh. “Từng hàng nhỏ. Muốn rút cũng theo lối ấy.”
“Bảy ngày?”
“Có thể giữ một lối hẹp bảy ngày. Nhưng lính ở đâu trong bảy ngày đó?” Khê nhìn mặt bãi. “Nếu đóng ở đây, họ cần nước và chỗ nhóm lửa. Nếu ở phía bên kia, phải có đường đưa lương qua sườn.”
Nham Dự chỉ những bậc đá thấp men theo rãnh. “Bậc ấy dẫn tới giếng cũ. Giếng không đủ nước cho một đạo binh.”
“Có khi họ lấy nước từ sông,” Thanh nói.
“Có thể.” Khê không vội phủ nhận. “Nhưng từ bãi xuống sông phải qua rãnh. Một đội giữ bãi sẽ thấy từng người mang chum đi xuống.”
Hùng ghi lại các câu hỏi. Chàng không ghi “không có trận đánh”. Một lối hẹp vẫn có thể là nơi giao chiến; cỏ và mưa sau nhiều mùa đủ xóa những dấu nông. Điều lạ là bản ghi nói rất chắc về một cuộc giữ bãi dài ngày, còn mặt đất trước họ chưa cho thấy chỗ người và lương có thể ở lại.
Thanh bước tới tấm bia, vẫn ở ngoài dây. Nét khắc trên mặt đá sâu và đều. Nàng đọc được tên Dương Thu ở hàng đầu, kế đó là lời ca ngợi người đã “giữ đường sống cho các nhà phía nam”. Mấy hàng dưới kể về quân địch bị đẩy lùi. Một vết nứt từ chân bia chạy lên giữa hai chữ, nhưng chưa làm mất dòng nào.
“Bia dựng sau việc ấy bao lâu?” nàng hỏi.
Nham Dự ngẫm. “Lúc ta còn nhỏ, Quân ta kể ở đây chỉ có cọc gỗ. Bia đến sau nhiều mùa.”
“Vậy người dựng bia có thể đã nghe kể.”
“Cũng có thể đã cầm một bản ghi mà chúng ta chưa thấy.”
Một giọng đàn ông đáp từ phía đường trạm.
“Có bản ghi. Nó nằm ở trạm nam. Bọn bay đã đọc sổ Châu, không cần đứng trên đất nhà ta mà đoán nữa.”
Lạc tướng Dương Kiên đi cùng hai người giữ trạm. Ông ngoài năm mươi, tóc ở hai thái dương đã bạc. Áo ông lấm bùn ở gấu, khác vẻ chỉnh tề của những người đi theo. Hẳn ông vừa từ chỗ bờ sụt trở về.
Khê đứng thẳng. “Thưa Lạc tướng, bề tôi đã báo người gác rằng đoàn chỉ xem đường.”
Dương Kiên gật một cái rồi nhìn Hùng và Thanh.
“Xem đường thì đứng dưới đó cũng đủ. Phía sau bia là mộ. Ta đã cấm đào.”
“Tôi chưa xin đào,” Hùng đáp. “Tôi đang đối chiếu đường trên sổ với đường dưới chân.”
“Đối chiếu đến mộ tổ tiên ta?”
“Đối chiếu đến chỗ con đường đi qua.”
Dương Kiên nhìn tấm thẻ trong tay chàng. “Sổ nói nhà Dương giữ bãi. Bia cũng nói vậy. Một cơn mưa làm sụt đất không khiến cả hai thành lời sai.”
“Đúng,” Hùng nói. “Nhưng đường vẽ trên sổ đang dẫn người vào nền nứt. Phần ấy cần sửa ngay, dù chuyện trận đánh thế nào.”
Lạc tướng quay sang người giữ trạm. “Đóng lối trên. Dựng cọc ở hai đầu đường.”
Người ấy nhận lệnh rồi đi. Dương Kiên nhìn lại Hùng, giọng bớt gắt nhưng không mềm hơn.
“Đường, bọn bay được sửa. Mộ thì không.”
Thanh hỏi: “Có ai đã xuống chỗ đất lộ sau bia chưa?”
“Người nhà ta. Họ phủ vải và chèn đá, không chạm vào vật chôn. Ta sẽ đợi đất ráo rồi làm lại bờ.”
“Có người ở dưới đoạn sụt?”
“Nhà Dương chôn người giữ bãi ở đó.”
“Có tên trên mộ không?”
“Những tên còn giữ được đều ở trên bia.”
Thanh nhìn sang những rễ tùng đang níu một mảng đất ướt. “Nếu bờ tiếp tục trượt, những người ấy sẽ lộ ra trước khi Lạc tướng kịp làm lại. Đoàn có thể giúp giữ đất mà không đào.”
Dương Kiên theo hướng mắt nàng. Một rễ tùng mảnh vừa nhả khỏi mép bùn, để rơi vài hòn đất nhỏ xuống rãnh.
“Nhà ta có người,” ông nói.
“Vậy để người nhà Lạc tướng làm. Đoàn đứng ngoài và ghi những gì nhìn thấy. Không ai bước qua dây khi chưa được Lạc tướng cho phép.”
Lạc tướng không trả lời ngay. Cuối cùng ông bảo người gác mang thêm ván đến chân cây. Lệnh cấm đào vẫn giữ. Hùng và Thanh cũng không bước qua dây.
• • •
Trong lúc người nhà Dương chèn ván, Thanh tìm những người sống quanh bãi.
Nhà đầu tiên ở dưới đường trạm. Một người đàn bà đang rửa bùn khỏi miệng vò. Nàng biết bia từ nhỏ, nhưng chưa từng thấy ai cúng ở phía trên cây tùng. Nhà nàng đặt bát nước ở chân rãnh vào một ngày khác, không phải ngày ghi chiến thắng trên bia.
“Vì ai?” Thanh hỏi.
“Vì những người không xuống được tới giếng.”
“Người bị chặn bởi lính?”
Người đàn bà lắc đầu. “Cơ tôi bảo họ khát và nóng. Cơ không kể có lính ở đó.”
Nàng không nhớ tên người đầu tiên đặt bát. Thanh ghi tên người kể, ghi rằng câu chuyện đến từ mẹ nàng và ghi riêng ngày lễ mà nàng còn nhớ. Nàng không biến lời truyền lại thành điều người đàn bà đã tận mắt thấy.
Ở nhà thứ hai, một người làm chum kể cha mình từng được gọi lên Bãi Thắng để thay những vò nước vỡ. Nhà ấy giữ mấy mảnh vò có dấu trạm nam, tìm được dưới chân dốc khi đào rãnh cho nhà nhiều năm trước. Hùng xin xem. Các mảnh dày, miệng rộng, đủ giống vò nước ở trạm; không mảnh nào cho biết chúng đã được mang lên cho quân, cho người bệnh hay cho người làm đường.
“Có vết tên nhà Dương không?” chàng hỏi.
“Không.” Người làm chum nhún vai. “Vò nhà tôi cũng không tự nói mình từng đựng thứ gì.”
Hùng trả lại. Sự thận trọng ấy khiến chàng nghĩ đến Cốc Mận đặt hai hạt trong cùng một túi cạnh nhau: giống nhau về chỗ tìm thấy chưa đủ để bảo chúng có cùng một số phận.
Họ đi tiếp tới căn nhà sát giếng cũ. Một người già ngồi trong bóng cửa, bên cạnh chiếc chuông nhỏ không còn dây treo. Khi nghe hỏi về Bãi Thắng, ông không nhìn bia mà nhìn đường đi xuống rãnh.
“Giếng bị đóng một mùa,” ông nói.
“Vì giao chiến?” Thanh hỏi.
“Vì người ta sợ uống chung.”
Ông đưa ngón tay chỉ một vết cũ trên thành chuông. “Chuông này từng báo giờ lấy nước. Có một mùa không ai đánh. Mỗi nhà mang vò riêng, đặt ngoài cọc rồi lui ra. Người giữ bãi đem nước lên sau.”
“Già Tự nhớ mùa ấy?”
“Ta nhớ khi ấy đã được giao một ca giữ giếng.”
Người già không nói thêm. Hùng hỏi tên để ghi lời, ông đáp, rồi nhìn chiếc chuông như sợ đã kể quá nhiều. Trên đường ra, Thanh thấy ở góc nhà một cây gậy có đầu bị mòn một phía. Người già chống nó ra cửa, đứng theo dõi họ cho đến khi họ khuất dưới con dốc.
Ba lời kể không khớp hết. Người đàn bà nói bát nước đặt vào một ngày, người giữ chuông nhớ một mùa các nhà không được lấy nước chung ở giếng, còn nhà làm chum chỉ giữ những mảnh đất nung. Không lời nào đủ tự mình xóa một trận đánh khỏi sổ Châu. Nhưng chúng cùng dẫn tới những việc bản ghi đại thắng không nhắc: nước bị chia riêng, người không xuống giếng được và một bãi mộ phía trên.
Khi họ trở lại, người nhà Dương đã chèn xong tấm ván đầu. Dương Kiên đứng bên cây tùng thẳng, tay giữ một đoạn dây mới. Ông cho họ đến gần hơn một khoảng, nhưng vẫn không cho qua mép ván.
Đất sụt đã bóc đi mặt ngoài của một bờ xếp đá. Bên trong có những lớp đất khác màu. Lớp trên cùng sẫm và lẫn rễ mới; bên dưới là dải đất nhạt hơn, chạy ngang sườn thành nhiều khoảng hẹp song song. Một góc vải mục lộ ra ở khoảng gần cây tùng nghiêng.
Khê nhìn rồi lùi một bước. “Nếu là mộ, ván phải kê dưới nữa. Bờ này còn rỗng.”
Nham Dự giúp người nhà Dương chuyển đá. Khi họ nhấc một hòn đá đã tự rời khỏi bờ, một thẻ tre mỏng trượt theo đất xuống mép ván.
Dương Kiên giơ tay. Mọi người dừng lại.
Thẻ đã sẫm màu nhưng chưa vỡ. Nó nằm trên mặt đất vừa lộ, không cần đào mới lấy được. Lạc tướng tự cúi xuống nhặt. Ông phủi bùn bằng đầu ngón tay rồi đặt nó lên tấm ván sạch.
Hùng không đưa tay tới.
“Ngài đọc được không?” chàng hỏi.
Dương Kiên nghiêng thẻ về phía sáng. Một mặt ghi tên, mặt kia có dấu đếm và vài chữ ngắn. Ông đọc tên người đầu tiên, rồi im khi đến dòng dưới.
Thanh đứng đủ gần để nhận ra một chữ chỉ cơn sốt và dấu phân người thuộc nhà trạm. Nàng chờ Lạc tướng đọc tiếp.
Ông đặt thẻ xuống. “Một người trong nhà ta cũng có thể chết bệnh sau trận đánh.”
“Có thể,” nàng đáp.
Ván thứ hai được kê vào. Sau nó, đất cũ tự rạn thành một khe dài. Ba thẻ tre khác nằm sát mép khe, buộc thành bó bằng sợi đã mục gần hết. Dương Kiên bảo người nhà lấy một mảnh vải đỡ chúng, không được giật. Bó thẻ ra khỏi đất cùng vài hạt sỏi nhỏ.
Hùng đọc từng mặt khi Lạc tướng cho phép. Tên người thuộc nhà Dương nằm cạnh tên người chèo bến và một người giữ giếng. Các dấu ngày xếp gần nhau. Bên mỗi tên đều có cùng ký hiệu mà thẻ đầu mang theo: cơn sốt. Không có hàng phân người nhà mình với quân đối phương.
“Có thể người hai phía cùng mắc bệnh,” một người gác nói.
“Có thể,” Hùng đáp. “Ta chưa biết đã có hai phía ở đây hay không.”
Dương Kiên nhìn chàng. “Bọn bay tới đây để tỏ ra rằng tổ tiên ta nói dối?”
“Tôi tới để biết bãi này giữ dấu của việc gì.”
“Trên bia ghi rất rõ.”
“Thẻ dưới đất cũng ghi rõ phần của chúng.”
Một tiếng động khô vang phía trên. Cây tùng nghiêng dịch đi một chút, không đổ, nhưng tấm ván mới đặt chịu lực rồi bật khỏi một hòn chèn. Mọi người lùi lại. Nham Dự giữ mép ván, gọi thêm đá. Khê cùng người gác chuyển đá từ đường trạm lên, xếp thành một hàng thấp ở phía còn chắc. Hùng cất bó thẻ vào tấm vải khô sau khi Dương Kiên gật đầu, để hai tay giúp giữ dây.
Trong lúc họ làm, một khoảng đất nhỏ nữa rơi khỏi bờ. Dưới đó hiện ra miệng một rãnh đã được lấp từ lâu, chạy vòng ngoài những dải đất nhạt màu. Những hòn đá kê rãnh không dẫn nước vào bãi; chúng hướng nước mưa đi vòng khỏi chỗ chôn.
Nham Dự ngồi xuống, nhìn cách xếp đá. “Người làm rãnh sợ nước tràn vào đây.”
“Người giữ mộ nào chẳng sợ,” Dương Kiên đáp.
“Phải. Nhưng rãnh này cũ hơn bia. Chỗ đặt bia đã lấp mất một đoạn của nó.”
Lạc tướng không cãi. Ông xuống giúp kê hòn đá cuối. Cây tùng thôi dịch, rễ vẫn căng trên mặt đất như những sợi dây đang giữ một vật quá nặng.
• • •
Họ trở về trạm nam khi mặt trời nghiêng xuống sau núi.
Dương Kiên không cho đoàn tự mang bó thẻ khỏi bãi. Ông nhận giữ thẻ gốc và tự đưa về trạm, nơi Hùng sẽ chép trước mặt ông. Hùng đồng ý. Thanh xin có một người giữ trạm và một người nhà Dương cùng so từng nét. Không ai phải tin riêng bản chép của đoàn.
Ở trạm, sổ Châu gồm những bó thẻ tre được trải trên bàn dài. Khê đứng bên cửa, để người gác ra vào mà không phải chen qua những thẻ mộ Dương Kiên đang hong. Những thẻ đầu ghi lương cấp cho cuộc “giữ bãi bảy ngày”: chum nước, vải, củi và người chuyển đồ. Hùng đọc lại phần ấy sau khi đã thấy mộ.
“Lương cho lính có thể gồm tất cả,” Dương Kiên nói.
“Đúng.” Hùng đặt một ngón tay ở cột nhận. “Nhưng tại sao người nhận là người giữ giếng, người coi nước và những nhà không có tên trong hàng lính?”
“Vì lính giữ họ.”
“Có thể.”
Hùng lật sang bó thẻ sau. Ở đó có một bản chép ngắn hơn, cùng thời nhưng nét tay khác. Người chép đã ghi số nhà “đóng lối”, số vò nước đặt ngoài cọc và số vải đưa lên bãi. Một dòng ở cuối thẻ đã bị sửa bằng lớp mực đậm. Hùng nghiêng thẻ về phía sáng; dưới nét sửa còn thấy dấu của một chữ, nhưng không đủ để đọc. Chàng không cố đặt tên cho nó.
“Bản này không ghi của lấy được sau trận,” Thanh nói.
“Có những trận không lấy được gì,” Dương Kiên đáp.
“Dạ. Bản này cũng không ghi người địch bị bắt hay nơi người địch rút. Nó chỉ ghi nhà nào bị đóng lối và người nào mang nước.”
Dương Kiên kéo sổ lại. Ông nhìn hai bó thẻ rất lâu.
Một người giữ trạm mang ra bó thẻ giao nhận cũ, vốn để đối chiếu với sổ khi tính lương. Các thẻ dài dùng ghi việc nhiều mùa vẫn còn buộc đúng từng năm. Một thẻ nói bảy ngày đường nam bị chặn; thẻ khác ghi sau đó mở lại giếng. Ở mép một thẻ, người chép ghi rằng nhà có người sốt không được đưa vò qua cọc.
Thẻ cuối mang dấu của người canh lối bắc. Bảy vạch canh nằm cạnh bảy lần giao nước. Dưới mỗi vạch đều ghi không có toán quân nào vượt vào bãi; những người được cho qua cọc chỉ mang vò, vải và cáng lên cho người sốt. Khê đặt thẻ ấy bên thẻ vẽ lối đi được sao từ sổ Châu. Lối bắc giữa vách đá và rãnh sâu là đường duy nhất một toán quân có thể dùng để vào bãi từ phía ấy.
“Có thể người canh đã bỏ sót?” Dương Kiên hỏi.
“Có thể,” Hùng đáp. “Nhưng cả bảy lượt báo cùng ghi một điều, và không thẻ giao nhận nào ghi lương cho lính địch bị bắt hoặc việc đưa người bị thương sau giao chiến qua cọc. Phải đặt bản kể đại thắng cạnh những dấu này.”
Hùng đặt thẻ giao nhận cạnh bó thẻ vừa lộ ở bãi. Những dấu ngày khớp nhau.
Chàng không cần đào tới hài cốt để biết bãi đất phía trên dùng chôn người chết trong mùa sốt ấy. Tên trên thẻ mộ đến từ nhiều nhà, không phải một hàng quân. Đường đi bị đóng để giữ người ở hai phía cách nhau. Vò nước và vải được đưa lên bãi trong bảy ngày. Bảy lượt canh lối bắc không thấy quân vượt vào, trái với lời kể quân phương bắc tràn qua bãi trong đoạn sổ Châu được chép lại về sau và trên tấm bia dựng sau đó. Những dấu còn giữ cho thấy một mùa dịch đã được ghi thành chiến công ở chính bãi này; ai đã đổi cách ghi vẫn chưa rõ.
Dương Kiên chạm vào tên Dương Thu trên thẻ đầu.
“Nếu không có lính địch,” ông nói, “vì sao người đời ấy phải giữ đường?”
Thanh đáp: “Vì người đang sống ở phía dưới.”
Ông nhìn nàng, vẻ mặt khép lại. “Bọn bay bảo tổ tiên ta nhốt người bệnh trên núi?”
“Đoàn chưa biết người ấy đã ra lệnh gì,” nàng nói. “Đoàn biết có người bị sốt ở bãi, có người mang nước lên và có người chết. Sổ giao nhận ghi con đường bị chặn để các nhà không đi qua nhau. Muốn biết Dương Thu đứng ở phía nào, còn phải tìm lời của người ở đó.”
“Người ở đó đã chết.”
“Có thể còn người sống lúc ấy,” Hùng nói. “Việc mới hơn bốn mươi mùa.”
Lạc tướng rút tay khỏi sổ. “Người sống nhớ sai. Bọn bay vừa học điều ấy ở kho giống.”
“Cho nên đoàn đặt lời nhớ cạnh thẻ và đất,” Hùng đáp. “Không bắt một người nhớ thay tất cả.”
Dương Kiên đứng dậy. Người gác phía cửa cũng thẳng lưng theo. Khê không nhúc nhích.
“Ta cấm đào mộ,” Lạc tướng nói. “Lệnh ấy giữ nguyên.”
“Đoàn không xin đổi,” Thanh đáp.
“Ta cũng không cho bọn bay gọi tổ tiên ta là kẻ giả công.”
“Tôi chưa ghi ai sửa sổ,” Hùng nói. “Nhưng tôi phải ghi rằng phần đất lộ sau bia là nơi chôn người chết vì sốt. Cùng những ngày ấy, trạm đóng đường và đưa nước lên bãi. Bản kể đại thắng không khớp các thẻ còn giữ.”
“Nếu ta không cho ghi?”
Hùng nhìn bó thẻ trên bàn, rồi nhìn những thẻ mộ đã được hai bên cùng đọc. Chàng nhớ cuộn sổ mùa ở kho Cốc: khi chữ mất, không ai được viết bù; khi chữ còn, không ai có quyền giả như mình không thấy.
“Tôi sẽ ghi việc ngài không đồng ý,” chàng nói. “Điều đó cũng thuộc bản đối chiếu.”
Dương Kiên nhìn chàng thêm một lúc. Rồi ông kéo ghế ngồi xuống, bảo người giữ trạm lấy thêm đèn. Chính ông đọc tên trên từng thẻ mộ để Hùng chép. Tới một cái tên họ Dương, giọng ông chậm lại; ông đọc hết rồi mới đưa thẻ đi. Có tên ông phải đọc lại hai lần vì chữ ở đầu bị bùn ăn mỏng. Hùng đánh dấu chỗ không chắc, không tự sửa theo tên nhà Dương quen thuộc.
Khi bó thẻ cuối cùng được đặt xuống, Dương Kiên nói:
“Dương Thu có thể đã giữ đường cho người bệnh. Có thể người đời sau thấy một người đứng trước cái chết rồi viết thành đứng trước lính địch.”
Thanh đáp: “Có thể. Bây giờ chúng ta chưa biết ai đã đổi cách kể.”
“Ta sẽ không để bia bị đập.”
“Không ai xin đập bia.”
“Nó gọi sai tên việc.”
“Vậy đặt một bản ghi mới cạnh nó,” Hùng nói. “Bia cho biết người đời sau đã nhớ thế nào. Thẻ và đất cho biết còn điều gì họ không kể.”
Lạc tướng không nhận lời. Ông cũng không đuổi họ khỏi trạm.
Bên ngoài, tiếng chuông nhỏ vang một lần từ phía giếng cũ. Không phải chuông gọi nước theo giờ; âm thanh ngắn rồi tắt, như có người cầm nó thử trong tay.
Khê bước ra xem. Khi chàng trở vào, sắc mặt khác đi.
“Người già ở nhà giếng vừa tới,” chàng nói. “Già Tự ấy nghe người trạm nhắc các thẻ mộ, bảo muốn gặp Lạc tướng.”
Dương Kiên khép sổ. “Người ấy đến xin gì?”
“Già Tự ấy không nói. Có người nhận ra, bảo Già Tự ấy đừng bước vào.”
“Vì sao?”
Khê nhìn Hùng rồi nhìn Lạc tướng. “Họ gọi Già Tự ấy là người đã bỏ chỗ canh trong bảy ngày ấy.”
Tánh không có mặt để hỏi ngay một câu khiến cả gian trạm phải trả lời. Hùng nhìn bó thẻ trên bàn. Trong những tên đã chép, có người giữ giếng, người chèo bến và những người được đưa lên bãi; không thẻ nào ghi người nào được phép rời chỗ canh.
Thanh đứng dậy trước. “Để Già Tự ấy vào nói.”
Ngoài cửa, mấy giọng người đã nổi lên. Một giọng bảo ông già quay về. Giọng khác nhắc tên Dương Thu, lần này không giống lời trên bia. Dương Kiên ra hiệu cho người gác mở lối, nhưng khi Thanh bước qua cửa, nàng thấy người già vẫn đứng ở chân bậc, hai tay giữ chiếc chuông không còn dây treo.
Phía sau ông, con đường tránh Bãi Thắng uốn qua sườn tùng. Bia còn đứng trên cao. Đất dưới chân nó vừa được chèn lại, đủ giữ những ngôi mộ qua một đêm nữa.

💬 Bình luận (0)