🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục Khai Thác AI
🔎 Tìm kiếm ⬇️ Tải app Android
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google

Ch.26: Hạt giống chìm

~29 phút đọc · 5646 từ · · ⚠️ Báo cáo

Chiếc thuyền chở giống xoay ngang dòng nước.
Một chum đất va vào mạn, kêu vỡ rất khẽ giữa tiếng sấm. Người lái thuyền ghì mái chèo xuống nhưng mũi thuyền không quay lại. Dòng nước đỏ từ sườn núi đổ vào một bên, dòng dưới bến kéo về phía còn lại. Hai luồng gặp nhau ngay giữa doi, nhấc chiếc thuyền lên rồi đặt xuống lệch hẳn.
Tánh đã đứng dậy. Hùng giữ vai nó.
“Can, thuyền trôi!”
“Can thấy.”
“Buông Địa ra.”
“Mày bước một bước bằng chân nào?”
Tánh nhìn xuống. Bàn chân đau của nó đã đặt trên mép đất đang lở. Nó lùi lại, tức đến đỏ mặt.
Ngoài sông, một người Cốc ôm cột buồm ngắn. Người lái thuyền dùng cán chèo đẩy một chiếc chum đang lăn về phía anh ta. Dây buộc các chum siết lại thành một mớ, kéo cả ba chiếc nghiêng theo cùng một hướng.
Vi Tỉnh chạy xuống bến.
“Thuyền người còn dây không?”
Một người chèo đáp: “Còn!”
“Tháo mũi. Chèo vòng từ phía dưới, đừng đuổi thẳng theo nó.”
Nàng vừa nói vừa giật dải vải trắng trên cây sào, buộc vào đầu mái chèo để người trên chiếc thuyền trôi nhìn thấy. Nham Dự đã dẫn người tới mép doi. Ông cắm búa nêm vào một phiến đá, thử xem đá có chịu nổi sức kéo của dây.
Cốc Kiển đứng giữa hai phía, mắt dán vào những chum giống.
“Giống chịu úng ở hàng giữa,” ông nói. “Ba chum có nút xanh. Đừng lấy nhầm chum kê.”
“Trước hết kéo người,” Thanh đáp.
“Ta chưa bảo bỏ người.”
“Vậy gọi tên người trên thuyền.”
Cốc Kiển há miệng. Mưa tạt vào mặt khiến ông chớp mắt liên tục.
“Người lái là Chài. Người giữ chum là Sàng.”
Thanh quay sang Vi Tỉnh. “Hai người. Chài ở lái, Sàng ở giữa.”
Vi Tỉnh nhắc lại đủ lớn để thuyền dưới bến nghe thấy. Hai người chèo lập tức đổi chỗ. Một người nhìn mũi thuyền giống, người kia chỉ nhìn nơi Chài và Sàng đang bám.
Lá cờ cũ vẫn nằm trong giỏ dưới mái kho. Trên sân, hai dải màu còn lại bị mưa quật dính vào cây sào. Không ai có thời gian nhìn chúng nữa. Người Nham giữ dây ở đá, người Vi xuống nước, người Cốc gọi vị trí của những chum. Việc vừa tìm lại trong chuyện cũ giờ bị buộc phải đúng trước mắt.
Chiếc thuyền giống va vào một thân cây chìm.
Mạn thuyền bật lên. Sàng ngã giữa đống chum. Chài quăng mái chèo cho anh ta, nhưng một sợi dây đã quấn ngang người Sàng. Hai chiếc chum lớn trượt tới, ép chân anh ta vào ván.
“Sàng!” Cốc Kiển gọi.
“Tôi còn đây!”
Chài bò từ đuôi lên. Anh chưa chạm được dây thì một đợt nước mới đập vào mạn. Thuyền trôi khỏi thân cây, nhanh hơn trước.
Hùng nhìn dải dây Nham Dự vừa neo. Đầu còn lại có thể quăng tới chiếc thuyền nếu nó qua đủ gần. Chàng lấy một cây sào dài đặt trên vai, bước xuống bậc bến thấp nhất.
Thanh theo tới.
“Bậu định làm gì?”
“Giữ mũi thuyền. Vi Tỉnh chỉ cần thêm một nhịp để vòng xuống.”
“Đất dưới chân bậu đang rời.”
Hùng dùng đầu sào thăm. Bậc đất không sụp. Chàng đi thêm nửa bước, rồi nhìn thấy một chiếc hòm mây buộc sau ghế lái. Nắp hòm đã bung một góc, bên trong lộ ra cuộn vải có các nút đánh dấu.
Cốc Kiển cũng nhìn thấy.
“Sổ mùa,” ông nói. “Chài, giữ hòm!”
Chài ngoái lại. Cán chèo trong tay anh lệch đi, thuyền xoay thêm.
“Đừng quay đầu!” Vi Tỉnh quát từ chiếc thuyền dưới bến. “Nhìn nước!”
Cốc Kiển cắn chặt răng, không gọi nữa.
Hùng biết cuộn sổ ấy. Lúc ngồi trong kho hồi chiều, Cốc Kiển đã trải nó ra cho Thanh xem một phần: số hạt lấy từ mỗi nhà, mùa nào gieo ở bãi thấp, mùa nào chuyển lên gò, chum nào giữ giống chịu ngập lâu hơn những chum khác. Đó là sổ dùng trong mùa, ghi trên vải để người coi kho mở ngay bên chum. Những thẻ lưu lâu nằm ở kho phía trên, nhưng không có đủ những lần đổi hạt và thử đất gần đây.
Nếu cuộn vải mất, người ta vẫn còn giống. Họ sẽ không biết chắc ba chum này đã đi qua những mùa nào.
Hùng nâng đầu sào. Từ chỗ đứng, chàng có thể móc vào quai hòm. Chỉ cần kéo nó khỏi ghế trước khi thuyền trôi xa thêm.
Thanh nhìn theo đầu sào, rồi nhìn Sàng.
“Bậu.”
“Qua thấy người ấy.”
“Sợi dây đang ép chân.”
“Nếu giữ mũi thuyền, họ cứu được cả hai.”
Đầu sào chạm quai hòm. Hùng xoay cổ tay, móc được. Cùng lúc, Sàng gào lên. Một chiếc chum đã đè ngang đầu gối anh, còn Chài phải chọn giữa giữ lái và nhấc chum.
Thanh đặt tay lên thân sào.
“Đưa qua.”
Hùng giữ chặt. “Hòm sắp rơi.”
“Sàng cũng vậy. Qua dùng sào đẩy chum ra để Chài tháo dây.”
“Chỉ cần một nhịp nữa—”
Một tiếng răng rắc vang ngay dưới bàn chân chàng. Bậc đất nứt thành một đường mảnh.
Thanh không kéo sào khỏi tay Hùng. Nàng nhìn thẳng chàng, chờ chàng tự quyết.
Hùng đã từng nhìn những bó thẻ quân đầy tên người không đứng trong hàng. Chàng cũng vừa nghe ba gia đình cãi nhau vì không còn bản ghi chung đủ tin. Cuộn vải kia có thể ngăn một người đời sau gọi nhầm giống quý là thóc thường, hoặc chia phần hạt cuối cùng cho sai mái nhà.
Nhưng Sàng đang bị giữ trên thuyền. Anh ta còn có thể nhớ những việc chính tay mình đã làm.
Hùng nhấc đầu sào khỏi quai hòm.
“Đẩy ở đâu?”
Thanh chỉ chiếc chum gần chân Sàng. “Bên miệng. Đừng đẩy đáy; nó sẽ lăn vào người ấy.”
Hai người cùng ghì sào. Đầu gỗ tì vào vành chum. Hùng dồn sức, Thanh giữ hướng. Chiếc chum nhích đi bằng một bề ngang bàn tay.
“Chài!” nàng gọi. “Tháo dây dưới chân Sàng!”
Chài quỳ xuống. Một tay anh giữ ghế lái, tay kia lần nút. Nước đã tràn tới mắt cá. Sợi dây ướt siết đến mức móng tay không móc vào được.
Khê từ trên bờ quăng con dao nhỏ.
Chài chụp trượt. Dao rơi vào lòng thuyền, va vào một chiếc chum. Anh bò theo, nhặt lên rồi cắt đúng sợi đang ghì chân Sàng. Những sợi khác vẫn giữ ba chum với nhau.
Sàng rút được chân. Anh không đứng nổi. Chài kéo anh về phía đuôi.
Đúng lúc ấy, bậc đất dưới Hùng sụp.
Thanh giữ thân sào. Hùng bước hụt, nước bùn tràn qua mắt cá. Khê nhào tới nắm lưng áo chàng. Cả ba cùng lùi. Đầu sào rời chiếc chum và bật lên, hất nước vào mặt họ.
Ngoài sông, chiếc hòm mây lăn khỏi ghế lái. Nắp bật mở. Cuộn sổ vải tuột một nửa khỏi hòm rồi mắc vào nan. Cả hòm lẫn sổ rơi qua mạn, chìm trong dòng đỏ.
Hùng đứng sững một nhịp.
Thanh siết tay chàng. “Nhìn người.”
Chiếc thuyền chở người của Vi Tỉnh đã vòng xuống phía dưới. Nó không thể áp sát thuyền giống vì nước xiết giữa hai thân thuyền sẽ kẹp bất cứ ai rơi vào. Vi Tỉnh đứng ở mũi, tay cầm sợi dây trắng buộc nút lớn.
“Chài! Quăng Sàng xuống khi ta gọi. Đừng để người ấy tự nhảy.”
Chài nhìn khoảng nước đang mở ra.
“Sàng không bơi được!”
“Ta biết. Có người đón.”
Vi Tỉnh quay lại. Hai người chèo đã đặt mái dọc mạn, chuẩn bị đón sức nặng. Một người Nham trên bờ kéo dây neo qua phiến đá, để thuyền của nàng không bị trôi theo thuyền giống.
“Bây giờ!”
Chài đỡ Sàng qua mạn. Sàng rơi xuống nước không kịp kêu. Vi Tỉnh nằm hẳn xuống sàn thuyền, túm vai áo anh. Một người chèo giữ lưng nàng. Người còn lại kéo dây trắng ngang ngực Sàng.
Họ nhấc anh lên, đầu tiên là mặt, rồi tới hai vai. Nước chảy khỏi tóc anh thành dòng.
Chài vẫn ở trên thuyền giống.
“Mày!” Vi Tỉnh gọi. “Nhảy!”
Chài nhìn về hàng chum giữa. “Còn giống!”
“Nhảy!”
Anh không nghe. Anh nhấc một chum có nút xanh, cố đẩy nó tới mũi thuyền, nơi có thể quăng sang phía Vi. Chiếc chum quá nặng. Nắp đã lỏng. Nếu quăng, nó sẽ vỡ; nếu giữ, chính anh có thể không sang được.
Cốc Kiển thấy rõ hơn ai hết. Ông đưa hai tay lên miệng.
“Chài! Bỏ chum!”
Chài ngẩng lên.
“Già Tự bảo ba chum ấy—”
“Ta bảo mày bỏ!”
Chài buông. Chiếc chum lăn ngược về giữa thuyền.
Một con sóng đánh ngang. Thuyền nghiêng, rồi lật.
Chài rơi xuống phía gần bờ. Khê quăng dây đầu tiên. Nó rơi sau lưng anh. Vi Tỉnh bảo hai người chèo hạ mái thật thấp, lấy mặt chèo chắn dòng. Chài bám được một cán, nhưng bàn tay tuột ra vì bùn.
Nham Dự giật lại sợi dây Khê vừa quăng hụt, thắt một nút lớn ở đầu. Dây neo thuyền Vi vẫn căng qua phiến đá.
“Giữ!” ông quát người phía sau.
Ông quăng lần nữa. Chài chụp được nút. Ba người Nham cùng kéo, không giật mạnh. Mỗi lần Chài nổi lên, họ thu một đoạn; mỗi lần nước đè xuống, họ giữ nguyên. Khi chân anh chạm bậc đá thấp, Hùng và Khê cùng lao tới nắm hai cánh tay.
Chài bò lên bờ, ho đến mức không nói được. Sàng trên thuyền Vi cũng còn thở. Một bên chân anh đã sưng nhưng không có chỗ gãy lộ ra.
Cốc Kiển ngồi thụp xuống. Ông không tới hỏi ba chum ngay.
• • •
Chiếc thuyền úp bụng trôi tới khúc cong dưới doi.
Nó mắc lại giữa hai cọc đá vốn dùng giữ lưới. Đáy thuyền hướng lên trời, hai mạn chìm quá nửa. Những chum giống va dưới nước, từng tiếng cụt vang qua thân gỗ. Một chiếc nổi lên vì bên trong còn khoảng khí; hai chiếc khác vỡ, hạt thóc trôi ra thành vệt vàng nhạt rồi mất trong dòng đục.
“Đừng ai xuống đó,” Vi Tỉnh nói.
Khê đứng bên Tánh, giữ đầu dây đã quấn quanh cánh tay. Nó nhìn chiếc thuyền không chớp.
“Địa thấy túi nút xanh.”
Cốc Kiển ngẩng lên. “Túi nào?”
“Lúc Ấu buộc dây, một người đặt túi nhỏ dưới ghế lái. Ba nút xanh ở miệng. Nó không nằm cùng chum.”
“Là túi hạt gốc.” Giọng Cốc Kiển khàn hẳn. “Mận buộc để giữ riêng.”
“Túi đang mắc ở sườn thuyền,” Tánh nói. “Phía này.”
Mọi người nhìn theo tay nó. Trong một thoáng nước hạ, có một mẩu vải xanh hiện ra dưới mép mạn úp. Rồi dòng nước phủ lên.
Cốc Kiển đã đứng dậy. Vi Tỉnh chặn ông.
“Không. Già Tự xuống sẽ bị hút dưới thuyền.”
“Ta không thể đứng nhìn túi ấy đi.”
“Ta cũng không bảo Già Tự đứng nhìn.”
Nàng gọi người mang một cây sào có móc gỗ. Móc chạm nước nhưng chưa tới mạn. Nham Dự tìm một thân tre dài hơn, song nó quá nhẹ, bị dòng đẩy lệch.
Tánh nhấc đầu dây khỏi tay Khê.
“Địa với tới.”
“Chân mày—”
“Địa không xuống nước.” Nó chỉ phiến đá nhô trên bờ. “Buộc dây qua bụng Địa. Can Khê giữ từ trên. Địa nằm xuống, dùng sào ngắn.”
Thanh bước tới. “Phiến đá cũng đang ướt.”
“Địa đã nhìn rồi. Nó nằm sâu, không phải bậc đất mới lở.”
“Nếu trượt?”
“Địa báo. Can Khê kéo. Can giữ dây thứ hai.”
Nó nói từng việc một, không chen lời thách hay lời hứa mình làm được hết. Khê nhìn Hùng. Hùng soát phiến đá, phần rễ bám sau nó và lối kéo lên. Chàng bảo Nham Dự đặt nêm ở chỗ dây có thể cọ vào cạnh sắc.
Thanh quỳ xuống ngang Tánh.
“Chạm túi thì làm gì?”
“Giữ quai, không giật.”
“Nếu mắc?”
“Bỏ sào, kéo Địa lên. Đợi nước hạ.”
“Nếu nước dâng trước khi mày chạm được?”
“Cũng kéo.”
Nó đáp câu cuối chậm hơn, nhưng vẫn đáp.
Khê buộc dây qua ngực Tánh, dùng nút Cốc Kiển vừa dạy. Cốc Kiển thử nút bằng cả hai tay. Lần đầu ông lắc đầu; Khê tháo ra buộc lại. Ông thử lần hai rồi gật.
Tánh nằm sấp trên phiến đá. Chân đau duỗi thẳng về phía bờ, không tì vào đâu. Khê giữ dây sau lưng nó. Hùng cầm đầu dây còn lại, đứng cùng hai người Nham. Thanh giữ cây sào đến khi Tánh đưa tay nhận.
Nó hạ móc gỗ xuống.
Dòng nước đẩy sào qua khỏi túi. Nó rút lại, chờ đợt nước hạ rồi hạ lần nữa. Móc luồn dưới một sợi dây xanh, nhưng khi nhấc lên, cả chiếc thuyền kêu răng rắc.
“Dừng,” Hùng nói.
Tánh giữ nguyên tay. “Địa chưa kéo.”
Một chiếc chum vỡ bên trong đã móc vào túi. Muốn kéo túi lên, nó phải tháo sợi dây đang giữ chum. Tánh nhìn nút dưới mặt nước đục, chỉ thấy được khi dòng hạ.
“Địa cần con dao.”
“Không,” Thanh nói ngay.
“Dao buộc vào sào. Tay Địa không xuống nước.”
Khê đưa dao cho Vi Tỉnh. Nàng dùng dây nhỏ buộc cán dao vào một cây sào ngắn thứ hai, lưỡi hướng ra ngoài rồi thử trên một đoạn dây thừa. Tánh đưa cây sào có móc gỗ cho Thanh rồi nhận cây sào buộc dao. Nó đợi nước hạ, đưa lưỡi tới sợi đang giữ chum.
Lần đầu cắt hụt.
Lần thứ hai, lưỡi chỉ cào qua vải.
Vai Tánh bắt đầu run. Nó muốn với thêm. Sợi dây qua ngực căng lên, nhắc nó khoảng được phép đi. Nó dừng lại, hít một hơi, rồi gọi:
“Can Khê, cho Địa lùi nửa bàn tay.”
Khê kéo dây về. Tánh đổi góc sào.
Một nhát ngắn. Sợi dây dưới nước đứt. Chiếc chum rơi sâu hơn, kéo theo một vệt bọt. Túi xanh nổi lên sát mạn úp.
“Bây giờ,” Vi Tỉnh nói.
Tánh đưa cây sào buộc dao về phía bờ. Thanh trao lại cây sào có móc gỗ; nó luồn móc vào quai túi. Móc vào được. Nó không tự nhấc cả sức nặng ấy. Nó giữ quai không trôi và gọi lớn:
“Can, kéo dây của Địa!”
Hùng cùng người Nham kéo. Khê lùi từng bước. Tánh trượt trên mặt đá về phía bờ, hai tay vẫn giữ sào. Túi xanh đi theo, quệt qua cạnh mạn rồi bật khỏi nước.
Nó rơi vào lòng Thanh.
Tánh được kéo lên sau. Vừa đứng chạm chân đau, nó khuỵu xuống. Khê đỡ khuỷu tay nó; lần này nó không gạt ra.
Cốc Kiển quỳ trước chiếc túi. Ba nút ở miệng vẫn còn. Vải đã ngấm nước, nặng và lạnh. Ông đưa tay định mở rồi dừng lại.
“Mận phải xem.”
Người trong kho gọi Cốc Mận. Nàng chạy tới từ bờ gò, mái tóc tết đã xổ, dưới cánh tay còn ôm một giỏ mầm lúa. Nàng hơn hai mươi tuổi, đôi bàn tay nhuộm màu đất non tới tận kẽ móng.
Vừa nhìn túi, nàng hỏi: “Nằm dưới nước bao lâu?”
“Chưa hết một khắc,” Thanh đáp.
“Nước đục hay nước từ nhánh bến?”
“Cả hai luồng,” Vi Tỉnh nói.
Mận đặt giỏ mầm xuống, mở nút ngoài cùng. Bên trong còn một lớp vải khác. Nàng hé mép vừa đủ để nhìn hạt, không đổ ra sân đang mưa.
“Chưa biết cứu được bao nhiêu.”
Cốc Kiển nói: “Túi gốc còn là được.”
“Quân nhìn nước trong đó.” Mận nghiêng miệng túi. Một dòng đỏ nhạt chảy ra. “Hạt đã uống nước. Cứ buộc kín qua đêm, chúng sẽ nóng và hỏng.”
Ông im. Mận nhìn sang những chum trôi dưới sông, rồi khép túi lại bằng một nút lỏng.
“Đưa lên mái cao. Chúng ta phải mở, phân và hong ngay.”
Tánh đang ngồi trên đá nghe đến chữ “ngay”, chống tay định đứng. Mận thấy chân nó.
“Công Tự đã kéo túi lên. Việc tiếp theo để người còn đứng được làm.”
“Tôi buộc dây được.”
“Lát nữa cần buộc. Bây giờ ngồi.”
Khê bật cười rất khẽ. Tánh trừng anh một cái nhưng ngồi yên.
Ở khúc cong, chiếc thuyền úp bụng rời khỏi hai cọc đá. Nó trôi tiếp trong bóng tối vừa xuống, mang theo những chum còn mắc bên dưới. Không ai đuổi nữa. Họ đã kéo được hai người và một túi hạt. Những thứ mất đi không vì thế mà nhẹ hơn.
• • •
Mưa giảm khi họ khiêng túi giống vào gian kho đầu.
Cốc Mận cho trải vải sạch lên ba giàn tre thấp. Nàng đổ hạt từ túi ra từng phần nhỏ. Có hạt còn vàng sáng; có hạt đã sẫm vì bùn lọt qua lớp buộc. Nàng không bảo hạt sẫm là hỏng. Nàng cũng không trộn chúng trở lại.
“Giàn này hạt ngoài túi. Giàn giữa hạt còn khô trong nếp gấp. Giàn cuối hạt đã chìm hẳn,” nàng nói. “Để sáng xem hạt nào còn căng, hạt nào mềm ruột.”
Cốc Kiển định giúp, nhưng nàng giao ông giữ lửa than ở khoảng cách vừa đủ làm không khí ấm, không hơ trực tiếp vào hạt.
“Ta biết hong giống,” ông nói.
“Quân biết. Quân vừa dạy Ấu phải xem lại điều mình tưởng đã biết.”
Ông nhìn nàng, rồi đi nhóm bếp.
Sàng nằm trên đệm cạnh cửa, chân được nẹp bằng hai thanh tre. Chài ngồi bên cạnh, hai bàn tay bọc vải vì bị dây cứa. Cả hai vẫn hỏi thuyền đã trôi tới đâu, như thể biết chỗ nó chìm sẽ bớt được phần lỗi của mình.
Vi Tỉnh nói: “Nước còn lớn. Sáng mới tìm.”
“Có thể không còn thuyền,” Chài đáp.
“Có thể.”
Nàng không hứa thay dòng sông.
Hùng ngồi ở đầu gian, trước mặt là chiếc giỏ mây đựng lá cờ và bó thẻ chép phiến đá. Cả hai đều khô. Chàng đã cầm chúng khỏi bờ trước khi nước lên, không phải chọn cứu chúng trong lúc có người đang chìm.
Bên cạnh là bó thẻ của Thanh ghi ba lời kể. Nó cũng ở trên bờ từ đầu.
Thiếu đi cuộn sổ mùa của nhà Cốc.
Hùng nhìn chỗ trống trên tấm vải. Chàng còn nhớ nét buộc ở mép cuộn sổ, ba nút chỉ các mùa nước lớn. Nếu lúc nãy móc hòm nhanh hơn một chút, có lẽ chàng đã giữ được nó mà vẫn kịp đưa sào cho Thanh. Ý nghĩ ấy đi vòng nhiều lần, mỗi lần lại tìm một cách đặt tay khác.
Thanh đặt một bát nước ấm xuống cạnh chàng.
“Bậu đang đếm lại?”
“Qua biết chiếc hòm nằm ở đâu.”
“Qua cũng thấy.”
“Qua bỏ móc khỏi quai.”
“Sàng đã thoát.”
“Qua không hỏi có nên cứu Sàng không.”
Thanh ngồi xuống. Họ nghe Cốc Mận gọi người đổi vải trên giàn hạt. Một vài hạt rơi lộp bộp vào khay gỗ. Ngoài trời, nước vẫn đập vào cọc nhà từng đợt.
Hùng nói: “Qua hỏi có cách nào giữ cả hai.”
“Có thể có. Lúc ấy chúng ta không tìm kịp.”
“Cuộn sổ ghi ai đã góp hạt gốc. Không có nó, đến lúc chia giống, người ta sẽ phải tin lời người đứng gần kho nhất.”
“Vậy ngày mai nghe từng người, ghi lại phần họ còn nhớ.”
“Trí nhớ khác nhau.”
“Phải.”
“Họ sẽ cãi.”
“Có thể.”
“Và có người sẽ nhận phần không phải của mình.”
Thanh nhìn chàng. “Cho nên chúng ta phải tìm dấu khác ngoài lời kể. Nhưng nếu Sàng ở dưới thuyền lúc sổ được kéo lên, bậu sẽ hỏi người chết điều gì?”
Hùng cúi xuống bát nước. Mặt nước rung vì bàn tay chàng vừa chạm mép bát. Chàng không đáp ngay.
“Qua không muốn quên cuộn sổ chỉ vì đã chọn đúng người,” cuối cùng chàng nói.
“Đừng quên.” Giọng Thanh dịu đi. “Mất nó là một cái giá thật.”
Nàng không lấy đi sự tiếc của chàng. Hai người ngồi cạnh nhau cho tới khi bát nước không còn bốc hơi.
Một người nhà Cốc mang vào chiếc hòm mây đã vớt ở khúc cạn. Nắp hòm mất, quai đứt. Trong lòng hòm là cuộn vải sổ mùa mắc dưới nan.
Hùng đứng bật dậy.
Người ấy lắc đầu trước khi chàng hỏi. “Chúng tôi nhặt ở bờ sau.”
Thanh trải một tấm vải khô. Hùng đặt cuộn sổ lên bằng hai tay. Những nút đánh dấu ở mép vẫn còn; phần chữ bên trong đã nhòe thành những vệt xám. Có chỗ màu viết tan vào nước bùn, thấm qua ba lớp vải. Hùng thử mở một góc. Hai hàng Khoa Đẩu vốn tách nhau giờ dính thành một đám nét.
“Có phơi lại được không?” Chài hỏi từ đệm.
“Phơi được vải,” Thanh đáp. “Chữ đã tan.”
Hùng mở thêm một đoạn. Mực đã tan vào nước bùn từ mép này sang mép kia. Không một tên nhà, số chum hay mùa gieo nào còn đủ nét để đọc. Chàng nhìn từng vệt xám, nhưng không thể nhận ra một chữ chắc chắn.
Chàng định chép ngay những gì mình đoán được. Thanh đưa một thẻ tre mới.
“Ghi rằng cuộn vải được vớt lên, nhưng toàn bộ chữ không còn đọc được,” nàng nói. “Đừng đoán thay những dòng đã mất.”
Hùng nhìn nàng. Chính chàng đã bảo Kỳ rằng bản ghi đẹp có thể che mái thủng. Bây giờ những vệt mực tan trên cuộn vải làm chàng muốn viết cho chúng một nghĩa, chỉ để mất mát nhỏ đi.
Chàng đặt thẻ xuống.
“Vậy qua ghi đúng rằng không còn đọc được chữ nào.”
Họ hong cuộn vải cách than một khoảng. Sổ không biến mất khỏi gian kho. Nó nằm trước mắt mọi người tới khuya, từng lớp vải khô dần.
• • •
Sáng hôm sau, nước rút khỏi sân kho nhưng để lại một lớp bùn mới.
Ở những chỗ nền thấp, bùn dày đến mắt cá. Ở chân gò Vi, nó chỉ phủ một lớp mỏng và mịn. Cốc Mận mang một khay hạt ra ánh sáng. Nàng không bắt đầu bằng cách đếm.
Nàng lấy năm hạt từ mỗi giàn, cắt một hạt ra xem ruột. Giàn hạt ngoài có hai hạt đã mềm. Giàn giữa còn chắc. Giàn hạt chìm hẳn có mùi chua rất nhẹ ở một góc, nhưng những hạt phía trên vẫn nguyên.
“Chưa gieo ngay cả túi,” nàng nói. “Thử từng phần. Hạt đã uống nước phải xuống đất sớm; phần khô giữ lại.”
Cốc Kiển chống tay lên giàn. “Sổ mùa ghi chúng chịu ngâm bao lâu.”
“Dòng ấy mất rồi.”
“Ta nhớ là hai ngày.”
“Cơ từng nói là ba ngày.”
Ông quay sang nàng. “Cơ mày đã mất mười mùa.”
“Cơ để lại hạt, không để lại một con số Ấu được phép nói chắc khi không chắc.”
Cốc Kiển ngậm lời. Mận đặt hai hạt đã cắt cạnh nhau cho ông xem. Ruột một hạt còn trắng và chặt; hạt kia đã xám ở đầu mầm.
“Cùng ở một túi mà khác nhau. Đừng lấy trí nhớ hai hay ba ngày bắt tất cả phải chịu như nhau.”
Hùng và Thanh cùng nhìn xuống.
“Có cách nào biết hạt nào sẽ mọc?” Hùng hỏi.
“Có cách thử. Chưa có cách nhìn một lần mà biết hết.” Mận chỉ mấy khay gỗ. “Một ít gieo vào bùn vừa lắng. Một ít gieo trên đất cao còn ẩm. Phần cuối đặt trên vải ướt để xem mầm có chịu bật không. Ba ngày nữa mới biết nên đưa phần còn lại đi đâu.”
“Ba ngày,” Tánh lặp lại từ chỗ ngồi dưới mái. “Tôi tưởng kéo túi lên là xong.”
“Kéo lên cho chúng ta còn quyền thử,” Mận đáp. “Không ai kéo được cả mùa sau lên cùng.”
Tánh không cãi. Nó đang tháo những đoạn dây đã sờn, buộc lại thành vòng cho Mận đánh dấu các khay. Cổ chân được kê trên một viên gạch phẳng. Nó định giấu mỗi lần chân đau, nhưng Khê ngồi gần đó cứ nhìn. Cuối cùng nó tự kéo viên gạch lại cho vừa.
Thanh thấy, không nói gì.
Họ xuống luống giống cũ của nhà Cốc khi nắng vừa rọi qua vách mây.
Luống nằm sau hai gian kho đầu, ở một dải đất cao hơn sân một bậc. Cơn lũ đã phủ bùn lên gần nửa hàng. Những cây lúa non chỉ còn lộ ngọn. Mận bước xuống trước, xắn đất quanh gốc một cây bằng đầu ngón tay. Rễ nó còn bám chắc dưới lớp bùn mới.
“Sổ ghi giống này chịu nước,” Cốc Kiển nói.
“Luống cho thấy nó đã chịu một đêm,” Mận đáp. “Đó là điều chúng ta biết hôm nay.”
Nàng vạch một cây ở mép ngoài. Gốc ấy mềm, lá đã nằm rạp. Cây bên trong cùng tuổi vẫn đứng, dù nước đi qua cao hơn.
“Vì sao?” Hùng hỏi.
“Chưa biết. Mép ngoài bị nước quật mạnh hơn. Cũng có thể đất dưới đó ít chặt. Phải đào hai gốc cạnh nhau mới nói thêm được.”
Nàng làm vậy. Đất ở mép ngoài toàn cát lẫn sỏi nhỏ; đất trong luống giữ một lớp bùn mịn quanh rễ. Hai cây không chỉ khác hạt.
Tánh chống gậy tới gần nhưng đứng ở chỗ Thanh chỉ. Nó nhìn bộ rễ trong tay Mận.
“Nếu lấy hạt của cây đứng vững mà gieo xuống cát, nó có đứng được không?”
“Có thể không.”
“Vậy giữ giống phải giữ cả đất?”
“Giữ cách nhìn đất,” Mận nói. “Đất ở nơi khác không thể mang cả bãi này đi.”
Hùng nhìn nàng. “Sổ mùa đã ghi những điều ấy?”
“Có điều ghi, có điều người giữ luống làm bằng tay rồi mới nhớ ra phải chép. Cơ tôi thường bẻ một cọng lau cắm cạnh cây đứng được sau nước. Đến mùa gặt mới xem bông của nó có hạt chắc không. Nhiều cây qua được lũ nhưng không nuôi nổi hạt.”
“Những cọng lau đâu?” Thanh hỏi.
“Lũ lấy một nửa. Nửa còn lại ở luống trên.”
Mận dẫn họ lên. Ở đó có những cọng lau cũ, đầu đã bạc. Một số đứng cạnh cây khỏe; một số cạnh cây đã rữa gốc. Dấu của người mẹ không tự đưa ra lời đáp. Nó chỉ giữ chỗ để lớp sau hỏi đúng cây.
Thanh lấy thẻ tre, ghi riêng từng luống: độ cao, lớp đất, chỗ có cọng lau, chỗ không còn. Hùng ghi lời Mận vào một bó khác. Chàng hỏi ông Cốc Kiển về mùa nước lớn cuối cùng, rồi hỏi Chài đã chuyển những chum nào lên thuyền. Khi hai người nhớ khác nhau, chàng đặt hai lời cạnh nhau, không chọn ngay.
Cốc Kiển nhìn hai bó thẻ.
“Các người định viết lại sổ mùa?”
“Viết lại phần có thể soát,” Hùng đáp. “Phần chưa soát được phải để trống.”
“Lão già này ghét chỗ trống.”
“Chỗ trống còn hơn chỗ ghi sai, Già Tự.”
Cốc Kiển bật cười, ngắn và mệt. Ông chỉ xuống khúc sông nơi chiếc thuyền đã mất.
“Nếu sổ còn, có lẽ ta không phải đào từng gốc.”
“Nếu chỉ nhìn sổ,” Mận nói, “Quân cũng không biết lớp bùn đêm qua nằm ở đâu.”
Ông không phản bác. Ông xuống luống, nhận chiếc bay gỗ từ tay nàng.
• • •
Đến trưa, họ đếm lại người và giống.
Chài còn sống, bàn tay cần nhiều ngày mới cầm chèo vững. Sàng không gãy chân nhưng phải nằm chờ vết sưng giảm. Hai chiếc thuyền còn một chiếc dùng được. Trong các chum đã đưa xuống bến, bốn chum được vớt nguyên, hai chum nứt có thể tách hạt để thử, ba chum theo dòng không thấy nữa. Túi hạt gốc còn, nhưng chưa ai được tính toàn bộ số hạt trong túi là giống sống.
Vi Tỉnh bắt người chép rõ từng con số. Cốc Kiển nhìn nàng.
“Nhà Vi cũng muốn coi sổ giống?”
“Ta muốn lần sau nghe nói mất ba chum thì biết là ba chum nào. Đêm qua nhà ta đã kéo người khỏi thuyền. Chúng ta có quyền biết họ đang cứu thứ gì.”
Nham Dự gật. “Người nhà Nham chặt mái cứu sáu gian. Nếu mùa tới cần đá kê kho, bảo trước.”
Cốc Kiển nhìn hai người. Một hôm trước, ông còn phải giật bó dây ba màu ra quát để họ làm cùng. Hôm nay họ tự nói phần việc tiếp theo, nhưng chưa ai thôi giữ phần của nhà mình.
Thanh trải lá cờ cũ ra trên tấm vải khô để soát xem mưa có lọt vào giỏ không. Nó vẫn nguyên. Nham Dự đặt dải nâu của nhà mình cách cờ một khoảng, không thử ép vào mép chưa khớp. Vi Tỉnh mang con thoi tới, đặt cạnh dải trắng. Cốc Kiển để nút dây ba màu ở phía còn lại.
Tánh nhìn ba vật.
“Hôm qua Địa tưởng ghép đủ là biết cờ thuộc ai.”
“Giờ thì sao?” Hùng hỏi.
“Vẫn chưa biết.” Nó đưa tay chỉ ra sân. “Nhưng khi nước tới, họ biết phải làm gì mà không cần đợi biết tên cờ.”
Nham Dự nghe thấy. Ông muốn đáp điều gì, rồi chỉ lấy dải nâu đặt lại vào ống gỗ.
Cốc Mận từ luống trên trở về, mang theo một cây lúa non bọc trong đất ẩm. Nàng đặt nó giữa ba vật, hơi ngượng khi thấy mọi người nhìn.
“Cây ở chỗ bùn mới lắng,” nàng nói. “Tôi mang xuống so rễ, không định đặt vào chuyện cờ.”
“Cứ để một lát,” Thanh đáp.
Rễ cây giữ một nắm đất rất nhỏ. Đất ấy đã theo nước từ sườn cao xuống; nó không còn ở nơi bắt đầu. Cây cũng chưa chắc sống qua mùa. Nhưng giữa những dải vải cũ và những nút dây vừa dùng, nó là phần duy nhất còn lớn lên được.
Hùng mở thẻ cuối của bó ghi mới.
Chàng không viết rằng giống đã được cứu. Chàng ghi túi hạt đã được kéo khỏi nước, ba phần đang được thử trong bùn mới lắng, trên đất cao còn ẩm và trên vải ướt, còn chờ những ngày tới mới biết. Dưới đó, chàng ghi tên Cốc Mận, Cốc Kiển, Chài và những người đã giữ luống qua các mùa mà họ còn nhớ. Những tên không nhớ chắc được đặt ở một thẻ riêng.
Thanh xem rồi trả lại.
“Bậu bỏ trống số ngày hạt chịu ngâm.”
“Công Thị Mận nhắc lời Cơ mình là ba ngày; Già Tự Cốc Kiển nhớ hai.”
“Vậy giữ cả hai lời.”
“Qua đã ghi ở thẻ bên cạnh.”
Nàng gật. Không cần nhắc lại chuyện cuộn sổ vải. Nó đang được hong trên giàn cao, những vệt mực loang vẫn ở đó. Không nét nào đủ để đọc thành chữ; phần đã tan sẽ không trở về chỉ vì họ cần.
Chiều xuống, Khê chuẩn bị mang bản số lính thật tới trạm nam như đã nhận lệnh. Vi Tỉnh cho một người chèo chỉ lối tránh đoạn bờ mới lở. Nham Dự bảo chàng đừng đi qua bãi đất cao có tấm bia cũ.
“Đường ấy ngắn hơn,” Khê nói.
“Bia đứng trên nền nứt. Mưa đêm qua xói chân nó rồi.”
Hùng hỏi: “Bia ghi gì?”
“Chuyện một trận thắng từ lâu,” Nham Dự đáp như thể đó là lý do không cần đọc thêm. “Người ta dựng bia rồi gọi cả khoảng đất ấy là Bãi Thắng.”
“Có ai giữ đường quanh đó?”
“Trạm nam. Nhưng sổ Châu vẽ lối đi qua bãi vẫn còn nguyên.”
Khê nhìn con đường bùn ngoài cửa. “Trên sổ còn nguyên không có nghĩa dưới chân còn nguyên.”
Tánh ngẩng lên nghe anh nói. Khê thấy, nhếch miệng.
“Ta học ở bãi Đá Mở.”
Hùng không hỏi thêm về trận thắng khi trời đã muộn. Chàng chỉ ghi tên bãi và lời dặn về nền đất nứt lên một thẻ. Một tấm bia đứng được nhiều đời có thể giữ một cái tên; con đường dưới chân nó vẫn phải được nhìn lại sau mỗi mùa nước.
Khê lên đường trước khi nắng tắt. Tánh ngồi dưới mái, gọi với:
“Can nhìn chỗ đặt chân!”
“Lo chân mày đi!” Khê đáp từ ngoài sân.
Nó định cãi nhưng giữ lại. Trên giàn phía sau, Cốc Mận đang thay lớp vải dưới hạt. Tánh quay vào giúp buộc những nút đánh dấu phần hạt đã chìm và phần còn khô. Lần này nó hỏi trước khi thắt.
Đêm ấy, nước vẫn đi qua doi đất, mang theo bùn từ nơi không ai trong kho nhìn thấy. Trong ba khay thử, vài hạt đã nứt rất nhẹ ở đầu mầm. Chưa thể gọi đó là một mùa lúa được giữ lại. Cốc Mận đặt thêm vải ẩm dưới khay rồi thức canh đến khi ngọn đèn xuống thấp.
Ngoài cửa, cuộn sổ mùa khô dần trên giàn tre.
Dưới luống cao, rễ lúa non giữ lớp bùn mới vừa đủ để sáng mai người ta còn biết nước đã đi qua đâu.

💬 Bình luận (0)