Trời chưa sáng hẳn, tiếng sấm đã lăn qua dãy núi phía bắc.
Nó không nổ ngay trên đầu. Âm thanh đến từ rất xa, trầm và dài, như một tảng đá lớn đang lăn trong lòng mây. Sau mỗi tiếng, mái đất của bãi Đá Mở rắc xuống vài hạt bụi nhỏ. Những người vừa thức giấc đều ngẩng nhìn, nhưng không ai vội. Mùa này giông thường tụ trên đèo rồi tan trước khi chạm tới đồng.
Tánh ngồi bên bậc cửa, nhìn Thanh bọc lá cờ cũ trong hai lớp vải dầu. Cổ chân nó vẫn quấn dải vải từ hôm trước. Cái sưng đã bớt, nhưng mỗi khi tưởng không ai nhìn, nó lại xoa nhanh một cái.
“Kỷ buộc chặt quá thì cờ ngạt thở.”
Thanh không ngẩng lên. “Cờ không thở.”
“Nhỡ nó cũ quá, bên trong còn hơi của người trước thì sao?”
“Vậy càng không để hơi ẩm vào.”
Tánh ngẫm một lát, thấy câu ấy có lý nên thôi cãi. Nó chìa tay.
“Địa mang cho.”
“Không.”
“Địa chỉ mang, không cướp.”
Hùng từ trong gian thẻ bước ra, trên tay cầm ba thẻ tuần đường đã chép lại. Chàng nhìn dải vải ở chân Tánh rồi nhìn bàn tay nó đang chờ.
“Mày mang gậy của mày trước.”
“Gậy nhẹ.”
“Thế càng hợp chân đau.”
Tánh phụng phịu. “Hai người nhớ chuyện hôm qua lâu thật.”
Thanh thắt nút cuối cùng, đặt cuộn cờ vào giỏ mây có nắp. “Nếu mày nhớ được lâu bằng bọn tao thì bọn tao khỏi phải nhớ thay.”
Nó định đáp, nhưng Khê từ ngoài bãi đi vào. Người lính trẻ đeo khiên thật của mình, dây vai đã được rút ngắn cho vừa. Khê đặt một túi lương khô cạnh giỏ cờ rồi nhìn Tánh.
“Công Tự đi được không?”
Tánh nghe cách gọi mới, lưng lập tức thẳng hơn. “Đi được.”
“Nếu không đi được thì nói. Đường sang xóm Nham toàn đá tai mèo. Ta không cõng đâu.”
“Địa cũng không cần Can cõng.”
Khê nhếch miệng. “Tốt.”
Tánh đợi Khê quay đi mới ghé Hùng thì thầm: “Can Khê hết giận rồi phải không?”
“Can không biết.”
“Lại không biết.”
“Nhưng Khê gọi mày là Công Tự.”
Tánh nhìn theo Khê. Khóe miệng nó nhích lên, song nó lập tức ép xuống, cố làm vẻ như chẳng có gì đáng mừng.
Kỳ cho Khê dẫn đường. Ông phải ở lại cùng Trụ và Dực để lập lại số lính thật, soát kho gỗ và đưa bốn người trở về trạm bắc. Vịnh, Bách, Du và Khuyết cũng ở lại bãi với hòm đá, cùng người coi lương và hai người gánh. Trước khi đoàn rời bãi, Kỳ đứng dưới mái đất, hai mắt thâm quầng vì một đêm không ngủ.
“Ba họ không ở chung một chỗ,” ông nói. “Nham ở sườn đá phía đông. Vi ở bến nước dưới thung. Cốc giữ kho giống bên kia doi đất. Họ đã cãi nhau về lá cờ từ trước khi ta tới đây.”
Thanh hỏi: “Họ có biết cờ còn ở trạm?”
“Có người nghe đồn cờ còn đâu đó, có người bảo cờ ấy là đồ giả. Mỗi lần có ai nhắc tới, cả ba nhà kéo tới, cuộc hỏi biến thành cuộc kể công.”
“Trưởng đồn tin nhà nào?” Hùng hỏi.
Kỳ nhìn cuộn cờ trong giỏ. “Ta tin lá cờ từng giữ một con đường. Còn đường của ai thì ta không biết.”
Tánh chợt hỏi: “Không có tên thì người ta gọi nó thế nào?”
“Nhà Nham gọi cờ Đá. Nhà Vi gọi cờ Nước. Nhà Cốc gọi cờ Giống.”
“Ba cái tên cho một lá cờ?”
Kỳ cười khô. “Vì thế mới không ai chịu để tên nhà khác viết lên trước.”
Ngoài dãy núi, sấm lại vang. Lần này ngắn hơn và gần hơn.
Thanh nhấc giỏ cờ. “Đoàn sẽ không hỏi ai là chủ trước.”
“Vậy hỏi gì?”
“Hỏi mỗi nhà đã giữ được điều gì.”
Kỳ nhìn nàng một lúc rồi gật. “Nếu họ chịu trả lời.”
• • •
Xóm Nham bám vào sườn đá như một dãy tổ chim.
Những mái nhà thấp nép dưới các mỏm đá nhô ra. Tường ghép bằng phiến xám, không trát đất. Trước mỗi cửa đều có một máng đá hứng nước mưa và một búa nêm treo trên cột. Người trong xóm ít nói. Tiếng đục đá thay lời chào, gõ đều từ nhà này sang nhà khác.
Khê dẫn đoàn tới một sân rộng. Giữa sân dựng một cột đá cao ngang hai người, đầu cột có ba rãnh cong ôm một khoảng lõm hình giọt nước. Dấu ấy giống dấu giữa lá cờ, nhưng nét thô hơn và quay lệch về bên trái.
Tánh vừa thấy đã định chạy tới. Nó đặt chân xuống, đau nhói, liền nhớ lời dặn và quay lại hỏi:
“Địa lại gần được không?”
Thanh nhìn nền sân. “Được. Đừng sờ.”
Nó đi chậm tới cột, hai tay chắp sau lưng để khỏi vô thức chạm vào.
Một ông lão từ trong nhà bước ra. Ông gầy nhưng vai rộng, tóc bạc cắt ngang gáy. Trên áo có bụi đá trắng đến tận khuỷu tay. Khê cúi chào.
“Già Tự Nham Dự, đoàn từ thành trung tâm tới hỏi lá cờ ở trạm bắc.”
Nham Dự nhìn Hùng, nhìn Thanh, rồi dừng ở chiếc giỏ mây.
“Các người đã mang cờ Đá về?”
Thanh đáp: “Đoàn mang một lá cờ chưa rõ tên.”
Mặt ông lão sầm xuống. “Dấu trên cờ khắc ở sân nhà Nham. Còn chưa rõ gì?”
“Cột này có từ bao giờ?”
“Từ trước đời Quân ta.”
“Ai khắc?”
“Người nhà Nham.”
“Tên người ấy?”
Ông lão khựng lại. “Không ai còn nhớ.”
Thanh gật, không dồn thêm. “Đoàn xin nghe điều nhà Nham còn nhớ.”
Nham Dự nhìn nàng, vẻ bực vẫn còn nhưng có phần dịu đi vì nàng không bảo ông sai. Ông dẫn họ vào nhà lớn nhất xóm. Trên vách treo những đoạn dây nâu se bằng sợi vỏ cây, bên dưới là các nêm đá xếp theo cỡ. Một phụ nữ trẻ mang nước ra, đặt bát trước khách rồi lặng lẽ lui về sau.
Ông lão lấy từ xà mái xuống một ống gỗ. Trong ống có một dải vải nâu chỉ dài bằng bàn tay, một đầu cháy sém.
“Mép cờ của nhà Nham,” ông nói. “Ngày liên minh tan, người giữ cờ cuối cùng xé dải này mang về.”
Tánh nhìn ngay sang Thanh. Nàng mở giỏ, trải lá cờ cũ trên tấm chiếu sạch. Ở mép dưới chỉ còn một dải vải phai màu; hai chỗ khác là đường chỉ đã bị cắt.
Nham Dự đặt dải nâu gần một khoảng trống. Màu và độ rộng có vẻ hợp, nhưng đầu dải đã mục, không thể ghép sát.
“Khớp rồi,” Tánh buột miệng.
Thanh hỏi: “Khớp điều gì?”
Nó cúi gần hơn nhưng vẫn không chạm. “Rộng bằng nhau.”
“Còn đường chỉ?”
Tánh nhìn hai bên. Dải nâu có lỗ kim dày, mép cờ có lỗ thưa hơn.
“Không khớp.”
Nham Dự cau mày. “Vải đã được khâu lại nhiều lần.”
“Có thể,” Thanh nói. “Đoàn sẽ ghi cả phần khớp và phần chưa khớp.”
Ông lão chống hai tay lên đầu gối. “Nhà Nham không cần người thành trung tâm tới cân từng lỗ kim. Khi lính từ đèo tràn xuống, chính người Nham đốt lửa trên cột đá. Cờ dựng ở đây, các xóm dưới nhìn khói mà đóng cửa đường.”
Hùng hỏi: “Lính nào?”
“Người từ phía bắc.”
“Bao nhiêu đời trước?”
“Lâu rồi.”
“Họ đi qua đèo nào?”
“Đèo sau lưng xóm.”
Khê nhìn Hùng. Trạm bắc họ vừa xem nằm ở con đường khác, thấp hơn và gần bến nước.
Hùng hỏi tiếp: “Nếu cờ dựng ở sân này, vì sao về sau lại ở trạm thấp?”
Nham Dự đập bàn tay xuống chiếu. Bát nước rung lên.
“Vì nhà Vi lấy đi.”
Người phụ nữ trẻ phía sau khẽ siết vai, như đã nghe câu ấy quá nhiều lần. Thanh quay sang nàng.
“Công Thị có nghe chuyện khác không?”
Nham Dự chặn lời: “Ấu ấy chỉ lo việc trong nhà, biết gì chuyện cờ?”
Người phụ nữ cúi mặt. Nhưng khi Thanh vẫn nhìn chờ, nàng nói rất nhỏ:
“Già Thị từng kể cờ không dựng trong sân. Nó dựng ngoài khe Ba Gió, nơi nhìn xuống được cả đường đá lẫn bến.”
Nham Dự quay phắt lại. “Ngần!”
Nàng giật mình nhưng không rút lời. “Già Thị đã kể vậy.”
“Già Thị ấy là người Vi gả sang.”
“Già Thị sống ở nhà Nham hơn năm mươi mùa.”
Câu đáp run, song không yếu. Căn nhà im đến mức nghe rõ giọt nước từ máng ngoài sân rơi xuống chum.
Nham Dự nhìn nàng, cơn giận trào lên rồi mắc lại ở cổ. Ông quay sang khách.
“Các người thấy chưa? Nhà Vi đem lời vào tận mái này.”
Ngần cắn môi. Mắt nàng đỏ nhưng vẫn nhìn thẳng lưng ông.
Thanh không vội bênh ai. Nàng hỏi: “Già Thị ấy còn kể gì về khe Ba Gió?”
“Khi thấy dải nâu, người trên đá đốt lửa. Thấy dải trắng, người dưới bến kéo thuyền. Còn dải... dải thứ ba thì mang giống khỏi kho.”
Tánh thì thầm: “Ba dải cho ba việc.”
Nham Dự nghe thấy. Ông đứng bật dậy.
“Đó là chuyện người Vi tự thêm để chia cờ của nhà Nham!”
Cùng lúc ấy, ngoài sân vang lên một giọng phụ nữ:
“Nếu nhà Nham giữ được cả cờ, sao chỉ còn một mảnh cháy?”
Một người đàn bà khoảng bốn mươi tuổi bước qua cửa. Áo nàng màu tro nhạt, gấu áo còn ướt. Sau lưng là hai người chèo thuyền cầm mái dầm ngắn. Nàng nhìn Nham Dự không cúi đầu.
Khê thở khẽ. “Công Thị Vi Tỉnh.”
Nham Dự cười nhạt. “Tai nhà Vi dài tới tận sườn đá.”
“Không dài bằng tiếng Già Tự đập chiếu.” Vi Tỉnh đáp. “Dưới bến cũng nghe.”
Sấm đột ngột nổ trên đỉnh đèo.
Không còn là tiếng lăn xa. Cả căn nhà chớp trắng trong một nhịp, rồi tiếng nổ giáng xuống làm mấy chiếc nêm trên vách va vào nhau lanh canh. Tánh giật mình, bàn tay chụp lấy mép chiếu. Nham Dự và Vi Tỉnh vẫn nhìn nhau, như tiếng sấm chỉ nói hộ điều họ đang giữ trong ngực.
• • •
Vi Tỉnh không chịu kể chuyện dưới mái nhà Nham.
“Ở đây lời nào cũng dội vào đá rồi quay về thành lời của họ,” nàng nói.
Nham Dự đáp ngay: “Còn dưới bến, lời trôi mất trước khi ai bắt được.”
Hùng đứng giữa hai người. Chàng không giơ thẻ công vụ, cũng không bảo họ im.
“Đoàn sẽ xuống bến Vi, rồi sang kho Cốc. Nếu hai nhà muốn nghe điều nhà kia nói, xin cùng đi. Nếu không, đoàn sẽ chép riêng.”
“Chép riêng rồi ghép theo ý các người?” Nham Dự hỏi.
“Đoàn sẽ để ba lời cạnh nhau.”
“Ba lời trái nhau thì ích gì?”
“Ít nhất không biến một lời thành cả sự thật.”
Ông lão nhìn Hùng. Chàng còn trẻ đến mức nếu không có thẻ Khảo Tri Sứ, hẳn chẳng ai trong xóm chịu để chàng phân lời của ba dòng họ. Nhưng ánh mắt chàng không né sự giận dữ của ông, cũng không tỏ vẻ đã nắm câu trả lời.
Nham Dự quấn dải vải nâu vào ống gỗ. “Ta đi. Để xem nhà Vi còn bịa được gì trước mặt ta.”
Ngần bước ra như muốn theo, rồi dừng ở cửa. Nham Dự không nhìn nàng. Thanh đi ngang, khẽ nói:
“Điều Già Thị kể sẽ được ghi lại đúng như vậy.”
Ngần gật. Nước mắt chưa rơi, nhưng vẻ căng ở khóe miệng dịu đi.
Đường xuống bến dốc và trơn. Mây đen kéo tới nhanh hơn họ nghĩ. Gió luồn qua khe đá, lật mặt lá cây thành một màu trắng bạc. Tánh chống gậy, cố giữ bước đều. Đi được nửa đường, nó hụt chân trên một rễ cây. Khê đưa tay giữ khuỷu tay nó.
Tánh đứng lại. “Tôi tự đi được.”
Khê buông ngay. “Ta biết.”
“Vậy sao còn đỡ?”
“Vì mày sắp ngã.”
Tánh nhớ lời Trụ hôm trước, không cãi nữa. Nó lí nhí: “Cảm ơn.”
Khê giả như không nghe, nhưng đi chậm lại một chút.
Bến Vi nằm ở nơi hai nhánh nước gặp nhau. Nhà dựng trên cọc thấp, sàn cao hơn mặt đất một cánh tay. Dưới mỗi mái đều buộc thuyền. Trên những sợi dây phơi có các dải vải trắng dài, đầu dải thắt thành những nút khác nhau.
Vi Tỉnh dẫn họ vào một nhà chứa lưới. Nàng lấy từ rương gỗ ra một con thoi cũ. Quanh con thoi quấn một mảnh vải trắng đã ố vàng.
“Nhà Vi không giữ mảnh cờ,” nàng nói. “Chúng tôi giữ cách dệt.”
Thanh đưa mảnh vải lên ánh cửa. Sợi ngang se đôi, sợi dọc se đơn. Lá cờ cũ cũng dùng kiểu dệt ấy ở dải còn lại, nhưng thân cờ thô hơn.
“Dải trắng dùng làm gì?” Thanh hỏi.
“Gọi thuyền.”
Nham Dự hừ một tiếng. “Ban ngày vẫy vải nào chẳng gọi được thuyền.”
Vi Tỉnh quay sang. “Trong mưa lớn, dải nâu của Già Tự lẫn với vách đá. Trên nước chỉ thấy trắng.”
“Không có lửa nhà Nham, thuyền của Công Thị biết chạy về đâu?”
“Không có thuyền nhà Vi, người trên đá ôm lửa mà chết khô.”
Tánh nhìn bên này rồi bên kia. Nó ghé Thanh:
“Họ cãi như hai người đều muốn mình cứu hết.”
Thanh nói nhỏ: “Vì nếu nhận mình cần người kia, họ phải nhận chuyện cũ không thuộc riêng nhà mình.”
Vi Tỉnh nghe được. Mắt nàng chợt tối lại.
“Công Thị nói dễ. Nhà Vi đã mất ba bến vì người Nham chặn đường đá, vậy mà mỗi lần giỗ chung, họ vẫn bảo chúng tôi chỉ chở đồ.”
Nham Dự chống gậy đứng lên. “Quân của ta chết trên cột lửa!”
“Quân của Ấu chết dưới nước!”
“Già Tự, Công Thị,” Hùng gọi.
Không ai dừng.
“Nếu chỉ muốn kể người nhà mình chết thế nào,” chàng nói lớn hơn, “đoàn sẽ nghe. Nhưng nếu dùng người chết để bắt người sống im, đoàn xin đi.”
Câu nói làm cả hai quay lại.
Giọng Hùng không cao, song mặt chàng đã đỏ. Thanh nhận ra chàng đang giận thật, không phải dựng vẻ nghiêm của người mang chức. Nham Dự nheo mắt.
“Công Tự biết gì về người chết của chúng ta?”
“Không biết. Vì thế Ấu mới tới nghe.” Hùng siết tay rồi thả ra. “Nhưng Ấu vừa nhìn một trạm không người vì tên người chết bị giữ sai chỗ. Ấu không muốn ở đây lại thấy tên họ bị dùng làm giáo chĩa vào nhau.”
Vi Tỉnh nhìn chàng một lúc. Nàng ngồi xuống trước.
“Quân của ta không chết dưới nước,” nàng nói. Giọng nhỏ đi. “Đó là lời nhà ta vẫn kể. Sự thật là không ai tìm được xác.”
Nham Dự khẽ động mí mắt.
“Công Thị vừa bảo—”
“Ta đã nói như lời được truyền. Không phải điều mắt ta thấy.”
Nàng quay con thoi trong tay. “Bài gọi thuyền có ba câu. Nhà Vi chỉ hát hai.”
Thanh hỏi: “Câu thứ ba đâu?”
“Nhà Cốc giữ.”
Nham Dự bật cười, nhưng tiếng cười không còn chắc. “Lại chia thêm một phần cho họ.”
Vi Tỉnh đáp: “Già Tự không tin thì sang kho mà nghe.”
Nàng cất giọng, chậm và thấp:
“Đá nổi lửa, nước mở đường.
Vải trắng hạ, tay chèo nhường...”
Nàng dừng.
Tánh chờ một lúc rồi hỏi: “Rồi sao nữa?”
“Rồi hết.”
“Bài ba câu mà hết ở câu hai?”
Vi Tỉnh nhìn nó. “Vì câu cuối không còn thuộc nhà Vi.”
“Nhưng nếu hát để cùng làm việc, sao mỗi nhà giữ một câu?”
Không ai trả lời được ngay.
Một bé gái từ ngoài chạy vào, tóc bị gió thổi rối tung.
“Cơ! Nước ở doi Cốc lên nhanh. Người kho đang kéo thuyền giống.”
Vi Tỉnh đứng bật dậy. “Mới đầu giờ nước còn thấp.”
“Trên núi mưa rồi. Dòng đỏ xuống.”
Một tia chớp xé ngang cửa. Tiếng nổ theo sát đến mức sàn nhà rung lên. Ngoài bến, những dải vải trắng bị gió kéo căng, cùng chỉ về phía kho Cốc.
• • •
Họ tới doi đất khi mưa bắt đầu quất nghiêng.
Kho Cốc không phải một nhà mà là sáu gian mái cao nối thành hình cánh cung. Giữa sân có những giàn gỗ kê chum giống khỏi mặt đất. Người chạy qua chạy lại, kẻ buộc nắp chum, người lót ván ra bến, người kéo hai chiếc thuyền đáy rộng vào sát bờ.
Một ông lão thấp, lưng hơi còng đứng giữa sân quát lệnh. Ông đeo bên hông một bó dây đủ màu, mỗi sợi thắt một kiểu nút.
Khê gọi: “Già Tự Cốc Kiển!”
Ông lão quay lại. Nước mưa chảy từ trán xuống cằm.
“Ai tới hỏi chuyện thì đợi. Ai có tay thì khiêng chum.”
Tánh bỏ gậy dựa vào cột.
Thanh nắm vai nó. “Chân.”
“Địa khiêng bằng vai.”
“Chân mày vẫn ở dưới vai.”
“Vậy Địa buộc dây.”
Cốc Kiển nhìn nó từ đầu xuống chân. “Biết nút giữ chum không, Ấu?”
Mắt Tánh lóe lên vì cách gọi. Nó hít một hơi, như nuốt lời phản bác xuống.
“Ấu không biết. Già Tự chỉ thì Ấu làm.”
Thanh buông vai nó. Một nét hài lòng thoáng qua mặt nàng.
Cốc Kiển ném cho Tánh một sợi dây. “Xỏ dưới đáy, bắt chéo hai lần, nút quay khỏi miệng chum. Làm sai, giống xuống nước thì chính mày lặn mò.”
“Ấu biết lặn.”
“Nước lũ không hỏi.”
Tánh ngồi xuống làm theo. Khê giữ chum cho nó luồn dây. Lần đầu nút trượt. Nó cau mặt tháo ra, không giấu bằng cách siết thêm như trước. Lần thứ hai, Cốc Kiển đá nhẹ vào đáy chum; dây không tuột.
“Được. Làm tiếp.”
Hùng và Thanh cũng nhập vào hàng chuyền chum. Nham Dự đứng dưới mái một nhịp, có vẻ không muốn làm theo lệnh nhà Cốc. Rồi một tiếng sét nổ phía sau kho. Ông giật lấy tấm ván trên tay người trẻ, kê vào bậc đất lún.
Vi Tỉnh chạy thẳng ra bến, bảo người nhà mình xoay mũi thuyền ngược dòng để đón dòng xiết.
Không ai còn hỏi lá cờ thuộc về ai.
Mưa dày lên rất nhanh. Nước từ sườn núi đổ xuống thành những đường đỏ quạch, tràn qua sân kho. Một chiếc chum tuột khỏi tay người khiêng, lăn về mép doi. Tánh chồm tới, nhưng cổ chân đau khiến nó khựng lại. Khê lao ngang, dùng khiên chặn chiếc chum. Cả hai ngã ngồi trong bùn.
Tánh ôm chân, mặt trắng đi.
Khê quát: “Đã đau còn nhảy!”
“Giống sắp rơi!”
“Có ta đứng đó!”
“Địa không thấy.”
“Không thấy thì gọi!”
Tánh mở miệng định cãi, nhưng nhìn chiếc chum đang được hai người khác nhấc lên, nó im. Sự bất lực làm mắt nó đỏ hơn cả cơn đau.
Hùng cúi xuống. “Đứng được không?”
“Được.”
“Nói thật.”
Tánh nghiến răng. “Không chắc.”
Hùng đưa vai. Nó do dự rồi vịn vào. Khi đứng lên, nó không nhìn Khê.
“Địa xin lỗi.”
Khê đang phủi bùn khỏi khiên, đáp cộc lốc: “Giữ lời xin lỗi tới lúc biết gọi người.”
Câu ấy làm Tánh đau hơn. Nhưng lần này nó không bỏ đi. Nó nhặt sợi dây, ngồi hẳn xuống cạnh những chum còn lại và tiếp tục buộc nút.
Ở đầu sân, Cốc Kiển đã thấy chiếc giỏ mây Thanh đặt dưới mái.
“Các người mang cờ tới?”
“Phải,” nàng đáp. “Nhưng cứu kho trước.”
Ông lão nhìn nàng như vừa nghe một câu đúng ý. “Nếu kho còn, ta kể. Nếu kho mất, chuyện cờ cũng vứt xuống sông.”
Một luồng sáng trắng giáng xuống sau gian thứ sáu.
Tiếng nổ không còn từ trời vọng tới. Nó bật ngay giữa sân, sắc và khô đến mức mọi người cúi rạp theo bản năng. Một cây gỗ già ở bờ doi vỡ toác. Lửa xanh lóe trên thân, chuyển đỏ chỉ trong một hơi thở rồi bén vào mái gian kho cuối cùng.
“Cháy!”
Tiếng kêu xé qua mưa.
Lạ thay, mưa lớn không dập được lửa ngay. Mái kho lợp bằng cỏ dầu đã hong nhiều mùa, bên dưới là lớp vỏ trấu khô giữ ấm cho chum. Ngọn lửa chạy dọc mép mái, sáng rực giữa trời tối.
Cốc Kiển đứng sững đúng một nhịp.
Rồi ông giật bó dây ba màu khỏi hông, buộc lên đầu cây sào cạnh sân.
Nâu ở trên.
Trắng ở giữa.
Một dải xanh sẫm ở dưới.
“Nham chặt mái!” ông quát. “Vi mở nước! Cốc chuyển giống!”
Nham Dự không hỏi vì sao ông sai mình. Ông giật chiếc búa nêm từ tay một người, dẫn ba người trèo lên mặt sau mái. Vi Tỉnh cùng dân bến lăn máng gỗ nối từ bờ sông vào sân, xếp người thành hàng chuyền nước. Người Cốc chuyển các chum từ gian cháy sang hai kho đầu.
Ba nhóm tách ra theo tiếng gọi. Người Nham nhận ra dải nâu quen mắt, người Vi nhìn dải trắng, người Cốc hướng về dải xanh; nhưng chính tiếng quát của Cốc Kiển mới chỉ cho họ phải chạy về đâu. Những việc từng bị giữ riêng bỗng khớp lại giữa cơn cháy.
Hùng nhìn cây sào ba màu. Chàng chợt hiểu trước khi kịp gọi tên điều mình hiểu.
“Bậu!”
Nàng đã nhìn thấy.
Dưới mái gian đầu, lá cờ cũ vẫn nằm trong giỏ. Trên sân, một lá cờ khác vừa được tạo ra bằng ba dải dây dùng hằng ngày. Không ai đứng nhận nó là của riêng mình. Mỗi nhóm chỉ nhận ra màu đã được nhà mình gìn giữ; muốn cứu kho, họ vẫn phải nghe tên nhau được gọi và làm phần việc bên cạnh đang cần.
Một tiếng răng rắc vang trên mái cháy.
Nham Dự quát người dưới tránh ra. Thanh xô hai Ấu khỏi hiên. Một thanh xà cháy rơi xuống chắn lối giữa gian năm và gian sáu, nơi còn ba chum giống chưa chuyển.
Cốc Kiển lao tới. Hùng giữ ông lại.
“Mái sắp sập.”
“Ba chum ấy là giống chịu úng. Mất nó, mùa sau vùng trũng chỉ còn cỏ!”
Tánh nghe thấy. Nó chống tay định đứng.
Thanh quay phắt lại. “Mày ngồi!”
“Địa nhấc được xà.”
“Chân mày không giữ nổi người.”
“Nhưng tay Địa giữ được!”
Trong giọng nó có cả tức giận lẫn van xin. Nó không muốn ngồi nhìn người khác làm điều sức mình có thể làm. Thanh nhìn ngọn lửa đang bò xuống thanh xà, rồi nhìn Hùng.
Hùng quỳ trước Tánh. “Mày có làm đúng theo nhịp không?”
“Có.”
“Không chạy trước?”
“Không.”
“Đau thì nói?”
Tánh nuốt khan. “Có.”
Hùng quay sang Khê và hai người Nham. “Kê khiên dưới xà. Tánh chỉ nâng khi mọi người đã vào chỗ. Không ai chui qua trước lệnh.”
Thanh vẫn giữ vai Tánh. “Nếu chân trượt?”
“Địa quỳ xuống, không cố đứng.”
Nàng buông tay. “Nhớ lời.”
Họ áp ba tấm khiên vào dưới thanh xà. Tánh chống vai ở giữa, đầu gối chân đau đặt hẳn xuống đất, chân kia trụ sau. Khói làm mắt nó chảy nước.
Khê đếm: “Một. Hai. Ba!”
Tánh dồn sức.
Thanh xà nhấc khỏi nền một khoảng vừa đủ. Hai người Cốc bò qua, lăn chum ra. Chum thứ nhất. Chum thứ hai. Khi chum cuối mắc ở bậc cửa, lửa rơi thành từng mẩu quanh vai Tánh.
“Ra chưa?” nó gằn giọng.
“Chưa!”
Vai nó run. Cổ chân dù không trụ vẫn co giật vì đau. Nó nhớ lời đã hứa, hét lên:
“Địa sắp không giữ được!”
“Lùi!” Hùng quát.
Người cuối cùng kéo được chum qua. Khê đập vai Tánh. Nó lập tức thả sức, quỳ sụp và lăn sang bên. Thanh túm cổ áo kéo nó khỏi mép lửa. Thanh xà rơi xuống, tóe một quầng tàn đỏ.
Tánh nằm ngửa trong mưa, ho đến không thở nổi. Thanh quỳ cạnh, một tay giữ mặt nó quay sang bên.
“Mày có bỏng không?”
“Không.”
“Chân?”
“Đau.”
“Vai?”
“Cũng đau.” Nó hé mắt nhìn nàng. “Nhưng Địa đã nói trước.”
Thanh vừa giận vừa muốn khóc. Nàng ấn trán nó xuống bùn mát.
“Ừ. Lần này mày đã nói.”
Ở phía sau, Nham Dự chặt đứt đoạn mái đang cháy. Cả mảng cỏ dầu đổ xuống khoảng sân trống. Vi Tỉnh cho chuyển máng nước, dội thẳng vào phần còn bén. Người Cốc phủ đất ướt lên lớp trấu.
Ngọn lửa bùng lên lần cuối, cao hơn đầu người, rồi tắt gấp như lúc nó sinh ra.
Mưa vẫn trút. Khói trắng cuộn dưới mái. Từ khi sét đánh tới khi gian kho được cứu, chưa hết một khắc.
Cây sào giữa sân vẫn mang ba dải màu.
• • •
Họ ngồi trong gian kho thứ nhất khi trời về chiều.
Tánh được đặt trên một tấm đệm vỏ cây, chân kê cao. Vai nó đỏ một mảng nhưng không phồng rộp. Khê ngồi gần cửa, giả vờ lau khiên. Mỗi lần Tánh cựa mạnh, Khê lại nhìn sang.
Ba chum giống chịu úng nằm cạnh nhau ở giữa gian. Bên ngoài, phần mái cháy đã được phủ tạm bằng những tấm phên ướt.
Cốc Kiển đã gỡ bó dây ba màu khỏi cây sào, đặt trước lá cờ cũ.
Nham Dự nhìn rất lâu rồi hỏi: “Vì sao bậu còn giữ cách buộc ấy?”
“Vì Quân ta buộc. Quân bảo khi cháy kho, đừng gọi tên người, gọi việc.”
“Bậu chưa từng nói với qua.”
“Bậu có từng hỏi không?”
Nham Dự im.
Vi Tỉnh chạm vào dải trắng. “Nhà Vi vẫn dùng trắng để gọi thuyền. Nhưng ta không biết nâu là chặt mái.”
Cốc Kiển đáp: “Nhà Cốc cũng không biết bài của các người còn hai câu.”
Thanh trải thẻ, đặt ba lời kể cạnh nhau. “Xin Già Tự kể phần nhà Cốc.”
Ông lão nhìn ba chum giống vừa được cứu.
“Chuyện nhà ta nói rằng cờ được dựng khi nước lớn và lính lạ cùng tới. Người trên đá giữ lửa báo, người dưới bến mở đường nước, người kho chuyển giống và người già. Không nhà nào đủ tay làm cả ba. Sau lần ấy, liên minh giữ đường thêm nhiều đời. Rồi kẻ thù không còn tới, lũ lớn cũng thưa dần. Người ta bắt đầu hỏi nhà nào đã làm nhiều nhất.”
Hùng nói: “Khi không còn việc chung, lá cờ thành phần thưởng.”
“Phần thưởng thì chỉ một nhà được giữ,” Cốc Kiển đáp. “Thế là cờ bị xé.”
Nham Dự lấy ống gỗ ra. Bàn tay ông đặt trên nắp nhưng chưa mở.
“Nhà Nham kể người Vi lấy cờ.”
Vi Tỉnh nói: “Nhà Vi kể người Nham giật dải nâu trước.”
Cốc Kiển cười mệt. “Nhà Cốc kể hai nhà đánh nhau làm cờ rơi xuống nước, chúng ta vớt được nút buộc.”
Tánh đang nhắm mắt bỗng lên tiếng: “Vậy có khi cả ba nhà đều kể phần mình nhìn thấy.”
Nham Dự nhìn nó. “Cũng có khi cả ba nhà đều bớt phần mình làm sai.”
“Cũng đúng.” Tánh mở mắt. “Hôm qua Ấu xin lỗi mà vẫn muốn giữ phần lỗi của Can Khê.”
Khê ngẩng lên. “Sao lại kéo ta vào?”
“Vì dễ hiểu.”
Vi Tỉnh bật cười trước. Tiếng cười mỏng và mệt, nhưng làm không khí trong kho bớt nặng. Ngay cả Nham Dự cũng thở ra qua mũi.
Thanh hỏi Cốc Kiển: “Câu thứ ba của bài gọi thuyền là gì?”
Ông lão nhắm mắt, gõ hai ngón tay lên đầu gối theo một nhịp cũ.
Vi Tỉnh hát lại:
“Đá nổi lửa, nước mở đường.
Vải trắng hạ, tay chèo nhường...”
Cốc Kiển nối, giọng khàn:
“Nút xanh siết, hạt theo người.”
Không ai nói trong một lúc.
Ba câu không kể ai chiến thắng. Chúng chỉ bảo mỗi người phải làm gì khi tai họa đến.
Nham Dự chậm rãi mở ống gỗ. Ông lấy dải nâu ra, đặt cạnh bó dây và lá cờ.
“Đường kim không khớp,” ông nói với Thanh. “Công Thị đã thấy đúng.”
“Điều đó không có nghĩa dải này không thuộc một đời khác của cờ.”
“Nhưng cũng không tỏ được nó thuộc lá cờ này.”
“Phải.”
Ông lão vuốt phần cháy sém. “Ta ghét chữ ‘chưa biết’ của các người.”
Hùng ngồi đối diện. “Ấu cũng vậy.”
Nham Dự ngẩng lên, có lẽ không ngờ chàng thừa nhận.
Hùng nói tiếp: “Nhưng nếu lấp chỗ chưa biết bằng điều mình muốn tin, lần sau chúng ta sẽ đi sai đường mà tưởng đang đi đúng.”
Vi Tỉnh nhìn ba dải màu. “Vậy các người sẽ ghi cờ thuộc ai?”
Thanh đáp: “Những gì còn lại cho thấy lá cờ rất có thể từng thuộc về một liên minh gồm ít nhất ba nhóm cùng giữ đường, cứu người và giữ giống. Tên liên minh chưa rõ. Ba dòng họ hiện nay giữ ba phần truyền khác nhau; chưa phần nào đủ để nhận cờ làm của riêng.”
“Cờ vẫn ở bãi?” Nham Dự hỏi.
“Cờ tạm theo đoàn trong giỏ mây để đối chiếu, không cất kín trong hòm cũ nữa. Mỗi nhà được giữ một bản chép hình cờ, lời kể của mình và lời kể của hai nhà còn lại.”
Cốc Kiển cười. “Để lớp trẻ nhà chúng ta biết người bên cạnh nói mình sai thế nào?”
“Để chúng biết câu chuyện chưa bao giờ chỉ có một miệng.”
Vi Tỉnh nhìn nàng thật lâu. “Nếu chúng tôi lại cãi?”
“Thì cãi trước cả ba bản.” Thanh gom thẻ lại. “Ít nhất không ai được xóa mất người kia.”
Ngoài kho, sấm đã đi xa. Cơn mưa đột ngột dịu xuống, chỉ còn nước từ mái nhỏ thành dòng.
• • •
Khi ánh chiều lộ ra sau mây, Hùng lấy bó thẻ chép phiến đá ở Cương Châu khỏi túi kín.
Trên các thẻ là phần đường sông uốn gãy, hai vòng tròn không trọn và bảy dấu Khoa Đẩu rời. Khuyết từng nhìn phiến đá ấy rồi nhớ một lối gỗ ướt, có người mang thứ gì đó đi qua và nước dưới chân họ đổi chiều; Thanh đã ghi mảnh nhớ đó riêng, chưa coi là lời giải.
Thanh đặt bó thẻ cạnh dấu giữa cờ.
Tánh chống khuỷu tay ngồi dậy. “Giống nhau.”
Rồi nó tự sửa: “Gần giống.”
Hùng mỉm cười. “Khác ở đâu?”
“Trên thẻ có đường sông uốn và hai vòng tròn không trọn. Trên cờ, ba nét cong ôm một khoảng trống. Hai vòng tròn không có trên cờ.”
Khê nhìn qua vai nó. “Có thể người thêu đã bỏ hai vòng tròn.”
Thanh gật. “Có thể. Cũng có thể nét uốn ấy chỉ tình cờ giống nhau.”
Cốc Kiển hỏi: “Các người tìm dấu này từ đâu?”
“Một phiến đá ở Châu trước,” Hùng nói. “Nhưng đoàn chưa biết đường khắc ấy chỉ một lối nước thật hay một việc khác.”
Nham Dự chỉ về phía sườn đá. “Nhà ta khắc dấu ấy lên cột để gọi ba lối quanh doi.”
Vi Tỉnh lắc đầu. “Nhà Vi nói đó là ba dòng nước ôm bãi cạn.”
Cốc Kiển nói: “Nhà Cốc bảo là ba tay giữ một hạt.”
Tánh thở dài. “Lại ba lời. Nhưng lần này đều có ba thứ giữ một thứ ở giữa.”
Thanh gật. “Đó là phần chung duy nhất chúng ta có thể ghi chắc.”
“Vậy đã chắc được manh mối Châu trước chưa?”
Nàng nhìn nó, rồi nhìn mọi người quanh gian kho. “Chưa. Chúng ta chỉ biết ở đây dấu trên cờ gắn với việc nhiều phần cùng giữ một điều chung. Không thể lấy nghĩa ấy ép lên đường khắc của phiến đá nơi khác.”
Hùng chưa cất túi. Chàng rút thêm tấm bản dập cán muỗng ở Phong Thành, trải cạnh tấm thẻ Thanh đã vạch ở miệng hốc ngoài ruộng cháy. Trên vải, hàng nét xiên còn rõ, lặp ba lần. Trên thẻ, nét xiên cũng lặp, nhưng thẻ ấy nàng vạch theo lời Vịnh và Du chứ không tận mắt đếm.
“Cũng chưa nói được là khớp,” chàng bảo Thanh. “Phải có người quay lại hốc mà đếm.”
Thanh buộc tấm thẻ ấy bằng một nút lỏng, để riêng.
Tánh nằm xuống lại. “Đi cả ngày, suýt cháy kho, chân Địa đau hơn mà vẫn chưa chắc được.”
Hùng hỏi: “Mày tiếc à?”
“Có một chút.”
“Còn được gì?”
Nó nhìn Nham Dự, Vi Tỉnh và Cốc Kiển. Ba người vẫn ngồi quanh cùng một lá cờ. Nham Dự đôi lần đưa tay về phía dải nâu rồi lại rút về; Vi Tỉnh thấy vậy nhưng không còn lên tiếng giành phần hơn.
“Biết cờ không thuộc một người.”
Hùng buộc lại bó thẻ. “Chúng ta biết thêm cách người xưa từng cùng làm một việc. Còn nghĩa của phiến đá, vẫn phải tìm tiếp.”
Tánh gật, vẻ không thỏa mãn vẫn còn nhưng không còn bực bội. “Vậy ghi là chưa khớp.”
“Ghi là có nét uốn na ná, nhưng nó dính tới phiến đá Châu trước thế nào thì chưa thể nhận,” Thanh nói.
“Dài vậy?”
“Sự thật thường dài hơn điều người ta muốn nhớ.”
Khê cười. “Công Tự mà chép chắc chỉ viết ‘gần giống’.”
Tánh trừng Khê. “Ít ra Địa viết thật.”
“Thế cũng hơn thẻ lính ở bãi.”
Cả hai cùng im khi nhận ra câu đùa chạm vào việc hôm trước. Rồi Khê gõ nhẹ cán dao lên khiên.
“Ngày mai ta đưa bản số lính thật sang trạm nam.”
Tánh nhìn Khê. “Can đi à?”
“Ta là lính thật mà.”
Trong giọng Khê có chút kiêu hãnh, nhưng cũng có nỗi lo. Sáu mươi bảy người không thể phủ hết những khoảng trống đã lộ ra. Tánh định nói một câu trêu, cuối cùng chỉ bảo:
“Can đừng để trống đường dưới mái.”
Khê nhếch miệng. “Mày lo chân mình trước.”
Ngoài bến, bỗng có tiếng người gọi dồn.
Vi Tỉnh đứng lên, bước ra cửa. Dòng nước qua doi đã đổi màu, đỏ sẫm và cuộn mạnh. Một chiếc thuyền lớn được kéo khỏi bờ kho, trên thuyền xếp những chum giống vừa cứu. Người nhà Cốc đang buộc chúng thành từng cụm.
Cốc Kiển đi ra theo. “Ai cho hạ thuyền?”
Một Công Tự trẻ chạy tới, thở không ra hơi. “Bờ sau kho nứt rồi. Nếu nước lên thêm, ba gian đầu sẽ ngập. Bọn tôi đang chuyển giống sang gò Vi.”
Vi Tỉnh nhìn dòng nước. “Bây giờ qua sông nguy lắm.”
“Để lại cũng mất.”
Hùng bước xuống sân. “Có bao nhiêu thuyền?”
“Hai. Một chiếc chở người, một chiếc chở giống.”
Thanh nhìn cách họ buộc chum. Những nút mới siết vội, người buộc không phải Cốc Kiển. Một số dây đã ngấm nước.
“Khoan hạ,” nàng nói. “Soát lại từng nút.”
Công Tự trẻ lắc đầu. “Nước đang ăn chân kho!”
Như để xác nhận, một mảng đất ở cuối doi sụp xuống. Tiếng nước nuốt đất nghe ục một cái, không lớn, nhưng tất cả đều tái mặt.
Cốc Kiển chộp lấy bó dây, buộc lại lên cây sào. “Chuyển những chum quý nhất trước. Người Vi cầm lái. Nhà Cốc buộc. Không ai tự đổi việc.”
Ba nhóm lại lao vào nhau dưới cây sào ba màu.
Tánh chống tay muốn đứng. Thanh chỉ nhìn một cái, nó tự ngồi xuống.
“Địa buộc ở đây,” nó nói. “Đem dây tới.”
Khê ném cho nó cuộn dây khô. Lần này Tánh không chờ ai nhắc. Nó bắt đầu soát từng nút, miệng gọi lớn chiếc nào lỏng để người khác mang lại.
Ánh chiều tắt rất nhanh sau mây. Trên sông, hai chiếc thuyền dập dềnh như hai mảnh lá. Những chum giống xếp nặng dần ở chiếc đi sau.
Thanh đứng ở mép nước, bàn tay nắm bó thẻ ghi ba lời kể. Lá cờ không tên vẫn ở sau lưng nàng. Nó đã giúp họ hiểu một liên minh cũ từng làm việc ra sao. Nhưng trước mặt, một liên minh vừa được gọi dậy phải vượt qua dòng nước thật.
Tiếng sấm cuối ngày nổ ở thượng nguồn.
Người lái thuyền giống quay lại hét: “Dây bến không giữ nổi!”
Sợi dây căng thẳng thành một đường mảnh.
Rồi nó bật đứt.
Chiếc thuyền chở giống bị dòng nước giật khỏi bờ, xoay ngang giữa hai luồng chảy. Trên thuyền, những chum vừa buộc nghiêng cùng một phía. Người bến gào nhau thả mái. Người trên bờ chạy dọc doi. Tánh quên đau, chống tay bật dậy.
Hùng chụp lấy vai nó.
Ngoài dòng đỏ, chiếc thuyền bị cuốn về khúc sông tối.