🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục Khai Thác AI
🔎 Tìm kiếm ⬇️ Tải app Android
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google

Ch.24: Cuộc diễn tập thành thật

~32 phút đọc · 6317 từ · · ⚠️ Báo cáo

Sáng hôm sau, tiếng tù và từ bãi Đá Mở vọng tới trước khi đoàn nhìn thấy cờ.
Âm thanh dội qua những vách đá đã bị đục thành từng bậc, lúc gần lúc xa, khiến Tánh ngẩng đầu hết phía này sang phía khác. Nó đi được mười bước lại quên cổ chân đau, bước thứ mười một mới khập khiễng bù.
Hùng nhìn xuống chân nó.
“Mày đi kiểu ấy tới trưa thì chân lành hóa chân què.”
“Địa đang đi đều.”
“Đều bên dài bên ngắn à?”
Tánh định cãi, nhưng Thanh đã kéo dải vải buộc trên vai xuống, chỉ vào một tảng đá phẳng.
“Ngồi.”
Nó nhìn nàng, rồi nhìn con đường phía trước như sợ cuộc luyện quân sẽ diễn xong trong lúc mình dừng lại.
“Kỷ, tù và gọi rồi.”
“Tù và gọi lính, không gọi cái chân sưng của mày.”
Tánh ngồi xuống. Miệng nó còn phụng phịu, nhưng khi Thanh quỳ trước mặt tháo nút vải, nó lập tức thôi động đậy. Vết sưng đã bớt đỏ. Nàng ấn quanh mắt cá, hỏi đau ở đâu; nó chỉ đúng chỗ, lần này không giấu.
Hùng ngồi xổm bên cạnh.
“Hôm qua ai nói đứng thì không tính là đi?”
Tánh cúi nhìn đầu gối. “Địa không biết đứng lâu cũng làm chân đau.”
“Biết rồi thì sao?”
“Thì lần sau Địa sẽ đứng ít hơn.”
Thanh buộc lại dải vải, chặt hơn một chút. “Còn hôm nay?”
Nó thử đặt chân xuống, dè dặt như sợ nàng đổi ý không cho đi. “Hôm nay Địa nghe Kỷ.”
Hùng hỏi: “Không nghe Can?”
“Can hỏi nhiều quá.”
Thanh bật cười. Tánh cũng cười theo, nhưng vừa thấy Hùng nhướng mày, nó vội chống tay đứng lên và bước thật chậm. Phía trước, Trụ không quay lại thúc. Ông chỉ cho ngựa đi ngắn bước hơn, đủ để đoàn không bị bỏ xa. Du và Khuyết khiêng hòm đá theo sau cùng Vịnh và Bách; người coi lương và hai người gánh khép cuối hàng.
Con đường mở ra sau một mỏm đá xám.
Bãi Đá Mở nằm trong lòng một dãy đồi thấp, ba phía là vách đá bị tách thành những mặt dựng. Phía đông có một mái dài lợp đất, tựa lưng vào vách, bên dưới chia thành kho binh khí, chỗ nghỉ và gian nấu. Phía tây là hai ụ đất nối nhau bằng hàng cọc thấp. Giữa bãi, những phiến đá trắng được đặt thành sáu hàng thẳng đến mức nhìn từ xa giống răng của một chiếc lược lớn.
Quân đã đứng kín sáu hàng.
Áo giáp da cùng màu, mũ đồng cùng kiểu, giáo có lưỡi mở ngang như vai rìu. Những chiếc khiên gỗ dựng sát chân. Sau đội hình là ba lá cờ nâu sẫm, giữa cờ thêu dấu cánh chim cách điệu bằng chỉ vàng.
Tánh huýt khẽ.
Trụ nghe thấy. “Công Tự thấy thế nào?”
“Đông.”
“Chỉ vậy?”
Nó nheo mắt. “Và sạch.”
Một người lính gần nhất khẽ quay mặt. Trụ nhìn Tánh lâu hơn một nhịp.
“Lính sạch thì không tốt?”
“Tốt. Nhưng giày của họ sạch hơn giày Kỷ.”
Thanh cúi nhìn đôi giày còn bám đất sét từ gò kho. Nàng không cười.
Dực đi phía sau Trụ, bàn tay giữ dây cương siết chặt. Từ lúc rời trạm, anh ta nói chưa tới năm câu. Khi cổng bãi mở, vẻ căng ở quai hàm anh ta càng rõ.
Một người đàn ông mặc áo đỏ son bước ra đón. Ông có thân hình dày, râu cắt ngắn, khoảng hơn năm mươi tuổi. Hai lông chim trên búi tóc đã bạc ở gốc. Ông cúi chào Trụ vừa đủ lễ rồi nhìn Hùng và Thanh.
“Bãi đã sẵn sàng. Giám Binh không báo đoàn Khảo Tri Sứ và Điển Tri Sứ cùng tới.”
“Nếu báo đủ, trưởng đồn Kỳ còn thứ gì để cho chúng ta xem?” Trụ hỏi.
Kỳ cười, nhưng nếp ở hai bên miệng không giãn. “Lính của Châu lúc nào cũng có thứ để xem.”
Hùng cúi người. “Đoàn xin đứng ngoài hàng, không cản cuộc luyện.”
“Khảo Tri Sứ quá lời. Người từ thành trung tâm tới xem, lính dưới bãi càng phải luyện cho ra lính.”
Thanh nghe chữ “ra lính” mà không nghe thấy chữ “thật”. Nàng quay sang Dực. Anh ta tránh mắt nàng, giả vờ chỉnh dây đeo dao.
• • •
Cuộc luyện bắt đầu bằng nhịp trống chậm.
Sáu hàng giáo cùng nâng, cùng hạ. Khi tiếng trống thứ ba dứt, hàng đầu mở khiên, hai hàng giữa bước qua khe, hàng sau nghiêng giáo phủ lên vai người trước. Đội hình chuyển đẹp như những tấm phên lồng vào nhau. Không có mũi giáo nào va. Không có người nào bước nhầm phiến đá trắng.
Tánh quên cả chân đau. Nó nhón lên nhìn.
“Can, họ biết trước phải đặt chân ở đâu.”
“Luyện nhiều thì biết.”
“Nhưng người đánh họ có đứng trên đá trắng không?”
Hùng chưa trả lời. Trụ đã nghe thấy.
“Không.”
Tánh nhìn ông. “Vậy sao không bỏ đá?”
Kỳ lên tiếng trước. “Đá giữ cự ly. Học đúng chỗ rồi mới bỏ.”
“Hôm nay họ chưa học xong à?”
Một vài người đứng gần bật cười rồi lập tức im. Kỳ nhìn Tánh từ đầu xuống chân.
“Ấu Tự nhà ai mà miệng nhanh hơn trống?”
Mặt Tánh đổi ngay. Nó đứng thẳng, quên cả Thanh vừa dặn không dồn sức lên chân đau.
“Tôi không phải Ấu Tự.”
“Vậy Công Tự bao nhiêu tuổi?”
“Đủ để không cần người khác đo bằng mắt.”
Giọng nó còn non, càng cố làm cứng càng lộ bị chạm tự ái. Hùng đặt tay lên vai nó.
“Tánh.”
Nó mím miệng. Một lát sau mới lùi nửa bước.
Kỳ quay đi, có lẽ cho rằng chuyện đã hết. Nhưng Thanh thấy bàn tay Tánh nắm lại. Nàng khẽ chạm mu bàn tay nó.
“Kỷ nghe.”
Tánh không nhìn nàng. “Người ấy gọi Địa là Ấu.”
“Người ấy không biết mày.”
“Không biết thì phải hỏi.”
“Đúng.” Thanh giữ giọng đủ nhỏ. “Nhưng mày muốn người khác hỏi trước khi gọi, thì mày cũng phải hỏi trước khi làm.”
Tánh quay sang. “Địa có làm gì đâu.”
“Kỷ đang nói trước để lát nữa mày nhớ.”
Nó nhăn mặt như bị nàng nhìn thấu một việc chính nó còn chưa nghĩ ra.
Nhịp trống đổi nhanh. Từ sau ụ đất, mười hai người mang khiên sơn đen lao ra, giả làm quân đánh bãi. Họ hò lớn, ném những bó lau bọc vải về phía hàng giáo. Đội phòng thủ khép lại, lùi ba bước, rồi mở một khe đúng lúc toán đánh giả tới gần. Hai cánh quân quặt vào, vây gọn mười hai người giữa sáu hàng.
Tiếng reo nổi lên dưới mái dài.
Kỳ liếc Trụ. “Thế khóa cửa. Kẻ địch vào được mà không ra được.”
Trụ không reo. Ông nhìn những phiến đá trắng dưới chân quân.
“Đổi phía.”
Kỳ khựng rất nhẹ. “Giám Binh muốn xem lại?”
“Cho lính phòng thủ từ ụ đất. Lính đánh từ mái kho.”
“Mặt bãi phía ấy hẹp.”
“Kẻ địch có hỏi bãi rộng trước khi đánh không?”
Kỳ im một nhịp rồi quay sang người đánh trống. “Đổi phía.”
Lệnh truyền xuống. Sáu hàng bắt đầu di chuyển, nhưng vẻ trơn tru mất ngay. Người hàng đầu nhấc nhầm khiên của hàng sau. Hai người đứng cạnh nhau cùng bước về một lối hẹp rồi va vai. Một Công Tự trẻ đánh rơi bao tay; người bên cạnh cúi nhặt giúp khiến khoảng trống mở ra giữa hàng.
Tánh nhìn chăm chú.
“Can, họ không biết đồ của mình.”
“Im xem.”
“Can cũng thấy mà.”
Hùng thấy. Chàng còn thấy một người mặc giáp quá rộng, dây sườn đã buộc thêm hai nút vẫn xệ xuống hông. Bên dưới lớp giáp, cánh tay người ấy có vết chai của đòn gánh, không phải vết cọ của khiên. Một người khác đứng hàng giáo nhưng cứ đưa tay sờ chiếc móc bên thắt lưng, nơi có lẽ thường treo chìa khóa hơn là dao.
Thanh đếm những người đổi tay khi cầm khiên. Quá nửa hàng thứ sáu cầm sai phía.
Dực nhìn xuống đất.
Cuộc luyện tiếp tục. Trống thúc dồn hơn, như thể âm thanh lớn có thể kéo những bước chân rời rạc trở lại một nhịp. Toán quân đánh giả từ mái chạy ra. Họ phải vòng qua bếp đất, né hai cột chống và một máng nước trước khi vào bãi. Hàng phòng thủ cố khép cửa vây, nhưng khoảng hẹp làm cánh trái chậm hơn.
Một người lính trẻ ở hàng ngoài nhìn Tánh, có lẽ vẫn nhớ chuyện Ấu Tự. Anh ta vừa chạy vừa nói vọng:
“Công Tự hỏi nhiều, có dám vào cướp cờ không?”
Tánh ngẩng phắt lên.
Hùng chỉ kịp nói: “Mày đứng—”
Nhưng tiếng trống nuốt mất chữ cuối.
• • •
Tánh lao đi.
Nó không chạy vào giữa hai hàng giáo. Nó men theo chân vách, nơi bóng mái đổ xuống một dải đất tối. Chỗ ấy không có phiến đá trắng, không có người chặn, chỉ có những sọt cát và chum nước chữa lửa. Nó đặt một tay lên nắp chum, nhảy qua máng, lách sau lưng ba người giữ cờ.
Người lính vừa thách nó há miệng.
Tánh chộp cán lá cờ ngoài cùng.
“Tôi cướp rồi.”
Nó cười, không phải cười chế giễu mà là nụ cười sáng bừng của một đứa trẻ cuối cùng cũng được nhận vào trò chơi. Chính nụ cười ấy khiến người giữ cờ chậm mất một nhịp.
Rồi mọi thứ vỡ ra.
Người giữ cờ thứ hai buông cán để giữ Tánh. Lá cờ ngã ngang, quét vào mũ của một người hàng sau. Anh ta tưởng có lệnh hạ cờ, lập tức quỳ xuống. Hai người bên cạnh làm theo. Hàng giáo đang lùi va vào ba người quỳ. Một chiếc khiên rơi, rồi chiếc thứ hai. Toán đánh giả thấy khe hở, không biết nên tiếp tục theo bài hay dừng lại.
Trống vẫn đánh.
“Dừng!” Trụ quát.
Người đánh trống nghe tiếng quát nhưng vẫn nhìn Kỳ, hai tay không dám tự ý cắt nhịp đã nhận. Kỳ giật lấy dùi, nện ba tiếng chặn trống.
Sự im lặng đến quá nhanh. Trong khoảng im ấy, tiếng một chiếc mũ đồng lăn trên đá nghe rõ đến nhức tai.
Tánh vẫn ôm cờ. Nụ cười đã biến mất.
Một người giữ cờ túm cổ áo nó. “Mày làm cái gì vậy?”
Tánh giật vai. Người kia không buông. Nó chỉ cần xoay cổ tay là có thể quật người ấy xuống, nhưng Hùng đã chạy tới.
“Thả ra.”
Giọng chàng không lớn. Chính vì không lớn nên người giữ cờ nhìn lên. Hùng đứng chắn giữa anh ta và Tánh, một tay giữ cán cờ để nó khỏi đổ tiếp.
“Thằng ấy phá cuộc luyện!”
“Công Tự vừa thách thằng ấy vào cướp.”
Người lính trẻ ở ngoài hàng tái mặt. “Tôi chỉ nói đùa.”
Tánh quay phắt sang. “Công Tự bảo tôi có dám không.”
“Ai biết mày làm thật?”
“Nếu không muốn thật thì sao nói?”
Sự tổn thương trong giọng nó bật ra trước cơn giận. Nó buông cán cờ như vừa nhận ra mình đang cầm một thứ không ai muốn trao. Lá cờ nghiêng xuống. Hùng đỡ lấy rồi đặt ngay ngắn trên giá.
Cơn đau ở cổ chân lúc ấy mới dội trở lại. Tánh lùi nửa bước, bàn chân chạm đất không vững. Nó lập tức dồn sức sang chân kia, cố đứng thẳng như chưa có gì xảy ra, nhưng Thanh đã nhìn thấy.
Thanh tới sau. Nàng không hỏi Tánh có đau không trước. Nàng nhìn người giữ cờ.
“Công Tự buông cổ áo ra.”
Người ấy đã buông, nhưng bàn tay vẫn giơ lơ lửng. Thanh quay sang Tánh.
“Kỷ đã nói gì?”
Mặt nó đỏ đến tận tai. “Phải hỏi trước khi làm.”
“Mày hỏi chưa?”
“Chưa.”
“Vì sao?”
Tánh nhìn người lính đã thách mình, mắt vừa giận vừa ngượng. “Địa tưởng lời thách là cho phép.”
Hùng nói: “Mày sai ở chỗ chưa hỏi người cầm lệnh. Người kia sai ở chỗ đem việc lính ra chọc mày. Hai cái sai không xóa nhau.”
Tánh cắn môi. “Địa làm hỏng hết rồi à?”
Hùng nhìn quanh bãi. Sáu hàng quân đã tan thành từng cụm. Một người đang luống cuống buộc lại giáp. Hai người khác không tìm được vị trí cũ nếu thiếu phiến đá dưới chân.
“Không,” chàng nói chậm. “Mày chỉ chạm vào chỗ vốn đã không đứng vững.”
Kỳ nghe thấy. Mặt ông cứng lại.
“Khảo Tri Sứ định lấy lỗi của một đứa trẻ để xét lính của ta?”
Tánh ngẩng lên ngay khi nghe “đứa trẻ”, nhưng Thanh siết nhẹ cổ tay nó. Lần này nó không cãi.
Trụ bước vào giữa hai bên.
“Xếp hàng lại. Không dùng đá đánh dấu.”
Kỳ nhìn ông. “Lính vừa bị phá nhịp.”
“Ngoài biên, kẻ địch sẽ xin phép trước khi phá nhịp sao?”
“Giám Binh—”
“Xếp hàng.”
Lệnh lần này không còn chỗ lùi.
• • •
Những phiến đá trắng được lính khuân ra mép bãi.
Không còn dấu dưới chân, sáu hàng mất gần một khắc mới dựng lại. Khi Kỳ gọi đổi đội hình, ba người chạy nhầm hướng. Một người không biết nút dây khiên nằm ở đâu. Người từng đeo chìa khóa lộ hẳn một chùm thẻ gỗ kho dưới áo khi cúi nhặt giáo.
Trụ gọi anh ta ra.
“Tên?”
“Bẩm Giám Binh, bề tôi là Lộc.”
“Thuộc đội nào?”
Lộc nhìn Kỳ. “Đội... đội giữ phía đông.”
“Đội trưởng?”
Anh ta im.
Trụ rút một thẻ gỗ khỏi chùm bên hông anh ta. Trên thẻ khắc dấu kho muối.
“Lính phía đông mở kho muối bằng thứ này?”
Lộc nuốt khan. “Bề tôi coi kho.”
“Hôm nay mới làm lính?”
“Bẩm... dạ.”
Một tiếng rì rầm chạy qua đội hình. Kỳ bước tới.
“Kho thuộc đồn. Người kho cũng là người của đồn. Khi nguy cấp, họ phải cầm giáo.”
Trụ hỏi: “Họ đã được luyện chưa?”
“Hôm nay đang luyện.”
“Hôm nay họ đang diễn.”
Câu nói rơi xuống bãi như một phiến đá bị thả khỏi tay.
Kỳ không đáp ngay. Ông nhìn sáu hàng người, rồi nhìn mái dài tựa vách. Dưới mái, những nồi nước còn bốc hơi. Áo thường của vài người bị nhét vội dưới ghế. Một đôi quang gánh chưa kịp giấu hết, đầu đòn còn thò ra sau kho khiên.
Trụ quay sang Dực.
“Cai đội biết?”
Dực ngẩng lên. Sắc mặt anh ta xám đi.
“Bề tôi biết bãi thường ghép người khi có cuộc xét.”
“Biết từ bao giờ?”
“Hai mùa.”
Trụ bước tới một bước. Chân trái khiến vai ông lệch, nhưng ánh mắt không lệch.
“Hai mùa mà không báo?”
Dực nhìn thẳng ông lần đầu từ sáng. “Bề tôi đã gửi ba thẻ lên đồn qua người chuyển thẻ của bãi. Cả ba lần đều có dấu nhận đã chuyển.”
Kỳ nói: “Dấu ấy chỉ nhận là thẻ đã vào bãi.”
Ánh mắt Dực đổi hẳn. “Trưởng đồn giữ chúng lại?”
“Nếu báo trạm bỏ, ai giữ tên người của nó trên thẻ?”
Trụ nhìn Kỳ. “Trưởng đồn vừa nói gì?”
Kỳ biết mình đã đi quá một bước. Ông khép miệng, nhưng không thể kéo câu nói trở lại.
Trụ quay sang Dực. “Ba lần không thấy hồi thẻ mà cai đội vẫn im suốt hai mùa?”
Dực cúi đầu. “Bề tôi đã tin dấu nhận. Sau lần thứ ba, bề tôi đáng lẽ phải tìm cách báo thẳng. Bề tôi đã không làm.”
Trụ nhìn anh ta thêm một lúc. “Việc của cai đội chưa xong ở đây.”
Thanh hỏi: “Trên thẻ của bãi Đá Mở có người của trạm phía bắc?”
Không ai trả lời.
Nàng không hỏi lại. “Cho ta xem thẻ phát thóc, thẻ lĩnh giáp và thẻ đổi gác.”
Kỳ cười ngắn, khô. “Điển Tri Sứ tới xem luyện lính, không phải xét kho.”
“Lính ăn thóc, mặc giáp và đổi gác. Muốn biết hàng lính có thật hay không, phải xem cả ba.”
“Thẻ kho là việc của Châu.”
Hùng tháo thẻ công vụ ra, nhưng chưa đưa lên cao. “Đoàn được giao dò cách các Bộ làm việc. Bộ Chiến không chỉ là hàng giáo lúc có trống.”
Kỳ nhìn thẻ, rồi nhìn Hùng. “Công Tự còn trẻ. Có những việc giữ được người không thể viết cho đẹp.”
Hùng hạ thẻ xuống. “Vậy càng nên nói bằng lời thật.”
Giọng chàng không thách thức. Sự bình tĩnh ấy làm Kỳ khó nổi giận hơn cả một lời ép.
Cuối cùng, ông quay về phía mái dài.
“Mở gian thẻ.”
• • •
Gian thẻ nằm sâu nhất dưới mái đất.
Ánh sáng chỉ vào được qua hai khe hẹp sát trần. Bên trong mát hơn ngoài bãi, mùi thẻ tre, mồ hôi cũ và khói bếp quện vào nhau. Ba giá gỗ kê cách vách đá một gang tay để tránh ẩm. Trên giá là những bó thẻ buộc theo mùa, mỗi bó có một miếng đất nung ghi dấu đội.
Ở đây, quân số trông còn đông hơn ngoài bãi.
Tên người chen kín thẻ. Đội phía đông sáu mươi. Đội bắc bốn mươi tám. Đội giữ bến ba mươi hai. Cộng với người kho, người ngựa và đội truyền tin, bãi Đá Mở phải có gần hai trăm người.
Ngoài sân chưa tới một nửa.
Thanh đặt ba bó thẻ cạnh nhau. Nàng không đếm tên trước. Nàng tìm dấu tay nhận thóc.
“Tên này ba tháng không đổi dấu.”
Kỳ nói: “Người ta có thể dùng cùng một dấu.”
“Nhưng vết mẻ trên con dấu cũng không đổi, trong khi thẻ ghi đã chuyển người từ trạm bắc về đội đông.”
Nàng lấy thêm một thẻ. “Tên này lĩnh giáp nhưng không có số giáp. Tên này đổi gác vào ngày trạm phía bắc đã bỏ. Tên này nhận thóc hai lần trong cùng một tuần.”
Mỗi câu của nàng đều nhẹ. Càng nhẹ, căn phòng càng chật.
Tánh đứng sát cửa, không dám bước vào vì Thanh chưa gọi. Nó nhìn những bó thẻ như nhìn một đội quân bằng gỗ.
Hùng hỏi Kỳ: “Bao nhiêu người thật sự còn cầm được giáo?”
“Nếu gọi cả dân đinh—”
“Không gọi cả dân đinh. Người đã được luyện.”
Kỳ chống hai tay lên bàn. “Bảy mươi ba.”
Dực nói: “Sáng nay sáu người đang tuần đường.”
“Vậy sáu mươi bảy ở bãi,” Thanh kết lại.
Con số ấy khớp gần như đúng với những gương mặt có vết chai cầm khiên mà nàng đã đếm.
Trụ hỏi: “Số còn lại đi đâu?”
Kỳ không trả lời.
Trụ đập bàn. Những bó thẻ rung lên.
“Đi đâu?”
Tánh giật mình ngoài cửa. Hùng thấy, nhưng không rời mắt khỏi Kỳ.
Kỳ nhìn bàn tay Trụ đang đặt trên bó thẻ. Khi cất tiếng, ông không còn giữ cách thưa gửi ban đầu.
“Mười chín người chết trong mùa sốt. Mười một người bị lũ cuốn khi giữ bờ. Hai mươi bảy người bỏ về làng sau khi nhà họ thiếu người làm ruộng. Trạm bắc trên thẻ có mười bốn người; mái sập, tường nứt, ta rút những người còn ở đó về. Số còn lại tàn tật, mất tích hoặc đã quá tuổi.”
“Vì sao tên vẫn còn?”
“Xóa tên thì thóc bị cắt.”
“Người chết không ăn thóc.”
“Cơ và Ấu của họ ăn.”
Giọng Kỳ vỡ ra ở chữ cuối. Ông quay mặt đi, nhưng đã muộn.
Không ai trong gian thẻ nói ngay.
Kỳ kéo một bó thẻ ở ngăn thấp nhất, tháo dây. Bên trong không phải thẻ lĩnh của quân mà là những mảnh gỗ nhỏ ghi tên người nhận: Cơ Nhài, hai Ấu; Cơ Mến, một Ấu; Quân Bấc, già yếu; Thị Then, tay trái tật. Bên cạnh mỗi tên là lượng thóc ít hơn phần ăn của lính, nhưng đều đặn.
“Nếu ta báo đủ người chết và người bỏ, bãi chỉ còn số thóc cho bảy mươi ba lính. Những mái nhà kia mất luôn phần của người từng giữ bãi.” Kỳ nói chậm, như từng chữ cọ qua cổ họng. “Ta giữ tên họ để giữ thóc cho người sống.”
Trụ nhìn những mảnh gỗ. Cơn giận trên mặt ông không mất, nhưng không còn đi thẳng được nữa.
“Trưởng đồn lấy quyền nào?”
“Quyền của kẻ phải nhìn Cơ bế Ấu tới hỏi: tên Quân của Ấu còn trên bia, sao phần thóc của Cơ Ấu lại mất?”
“Và quyền để biên rỗng?”
“Nếu ta xóa hết, người còn sống cũng bỏ bãi. Họ không đứng giáo khi biết chết xong nhà mình bị xóa cùng.”
Hùng nghe trong lời Kỳ có sự thật, nhưng cũng có một chỗ bị che. Chàng chỉ vào thẻ lĩnh giáp.
“Thóc cho người nhà người chết không cần biến người kho thành lính trong ngày xét. Hai việc ấy khác nhau.”
Kỳ im.
“Trưởng đồn giữ thóc vì người sống,” Hùng nói tiếp, “nhưng hôm nay trưởng đồn dựng một đội lính không có thật để giữ chức hay để giữ phần thóc ấy?”
Kỳ ngẩng lên. Mắt ông đỏ, không rõ vì giận hay mất ngủ. “Nếu Giám Binh thấy bãi chỉ còn sáu mươi bảy người, Giám Binh sẽ thay ta, cắt kho và chia lính sang nơi khác. Khi ấy cả thóc lẫn bãi đều mất.”
“Trưởng đồn không biết ta sẽ làm gì,” Trụ nói.
“Ta biết những thẻ trình thường làm gì.”
Hai người nhìn nhau. Một người đã mất Can trong kho cháy vì tin rằng dưới thóc có thể giấu vũ khí. Một người đang giấu những cái tên dưới thẻ thóc vì sợ phía trên chỉ nhìn thấy con số. Cả hai đều có mái nhà sập trong trí nhớ, nhưng dựng lên hai cách giữ khác nhau.
Thanh khẽ đẩy bó thẻ tên gia đình sang một bên, tách khỏi thẻ quân.
“Phần thóc cho Cơ và Ấu của người chết phải được ghi thành phần nuôi hậu, không thể tiếp tục giả là phần ăn của người cầm giáo.”
Kỳ cười mệt mỏi. “Viết một tên khác thì thóc tự nhiều lên sao?”
“Không. Nhưng viết đúng tên cho biết chúng ta đang thiếu gì. Khai giả số lính khiến nơi khác tin biên đã có người giữ. Đến khi cần cứu, không ai biết phải gửi bao nhiêu.”
Dực đứng ở góc phòng lên tiếng: “Mùa trước trạm bắc xin gỗ chống mái. Trên thẻ, trạm có mười bốn lính nên kho trên nghĩ họ tự sửa được. Thật ra chỉ còn bốn.”
Kỳ quay sang anh ta. “Bốn người ấy vẫn sống vì ta rút họ về.”
“Nhưng nếu tường sập vào đêm có người vượt biên thì sao?”
“Không ai vượt qua đó hai mùa rồi.”
“Hay không còn ai ở đó để báo?”
Câu hỏi làm căn phòng lạnh hơn.
• • •
Họ đi tới trạm phía bắc trước khi mặt trời đứng bóng.
Không có cổng. Hai cột đá từng giữ cánh gỗ chỉ còn một. Mái trạm đổ xuống nửa gian, lớp đất phủ bên trên đã bị mưa xói thành rãnh. Cỏ mọc qua khe bàn gác. Một tổ chim nằm trong chiếc mũ đồng bỏ quên.
Tánh bước vào đầu tiên rồi lập tức quay lại nhìn Hùng, nhớ lời Thanh.
“Địa vào được không?”
Hùng nhìn nền đá, mái nghiêng và những thanh gỗ mục. “Chỉ đứng chỗ Can chỉ.”
Tánh gật, lần này không chạy. Nó đặt từng bước vào đúng những phiến đá còn chắc.
Bên trong có mười bốn chỗ ngủ, nhưng chỉ bốn chiếu còn dấu người dùng gần đây. Bếp tro lạnh đã lâu. Trên vách, lịch đổi gác dừng ở mùa mưa trước. Một bình nước bịt lá chuối khô cong, bên trong chỉ còn bụi.
Trụ đứng giữa gian trạm, không nói gì.
Kỳ theo sau, giọng thấp xuống. “Ta định sửa khi có gỗ.”
“Trên thẻ đã ghi sửa xong,” Thanh nói.
“Nếu không ghi, kho không phát phần gỗ mùa sau.”
“Gỗ mùa trước đâu?”
Kỳ nhìn ra ngoài. Dưới chân đồi, mái dài của bãi Đá Mở chỉ còn là một vệt nâu.
“Dùng chống mái bếp và kho thóc.”
Trụ quay phắt lại. “Trưởng đồn lấy gỗ của trạm giữ biên sửa kho?”
“Nếu kho sập, lính ăn gì?”
“Nếu trạm sập, ai biết lúc nào cần lính?”
Kỳ cũng quay lại. Hai người đứng trong phần bóng còn sót của mái, giọng đều đã có lửa.
“Giám Binh muốn ta giữ cả hai bằng số gỗ đủ cho một. Ta chọn chỗ có người ngủ.”
“Trưởng đồn chọn chỗ người trên nhìn thấy.”
Kỳ tái mặt. “Giám Binh nghĩ ta dựng bãi cho đẹp để giữ ghế?”
“Trưởng đồn vừa kéo người kho mặc giáp.”
“Vì nếu bãi bị giải, sáu mươi bảy người kia bị chia lẻ. Một tuyến có ít người vẫn là tuyến. Sáu mươi bảy người ném vào sáu nơi chỉ là sáu đám chết chậm.”
Trụ tiến lên. Chân trái ông vấp một mảnh xà. Tánh theo phản xạ đưa tay đỡ, nhưng dừng lại giữa chừng vì sợ bị mắng. Trụ tự đứng vững rồi nhìn bàn tay đang giơ của nó.
“Sao không đỡ?”
“Tôi chưa hỏi.”
Một thoáng rất ngắn, sự giận dữ trên mặt Trụ rạn ra. “Lúc người sắp ngã thì đỡ trước.”
Tánh chớp mắt. “Vậy khi nào phải hỏi?”
Trụ nhìn Hùng như muốn giao câu hỏi khó ấy cho chàng.
Hùng đáp: “Khi việc của mày có thể kéo người khác vào chỗ nguy mà họ chưa biết.”
Tánh nhìn lá cờ không có ở đây, rồi nhìn mái trạm sập. “Còn đỡ người thì cái nguy đã tới rồi.”
“Đúng.”
Nó gật, nhưng vẻ mặt vẫn chưa nhẹ. “Địa làm mọi người ngã ngoài bãi.”
“Mày làm họ lộ ra rằng họ không biết đứng khi mất dấu chân,” Hùng nói. “Nhưng lần sau đừng dùng người khác để thử điều mày chưa hỏi.”
“Địa biết.” Nó ngập ngừng. “Người lính kia có ghét Địa không?”
“Có thể đang giận.”
“Vậy Địa xin lỗi thì Công Tự ấy hết giận không?”
“Không chắc.”
Tánh cau mày. “Xin lỗi mà không hết thì xin làm gì?”
Thanh bước tới, phủi mảnh đất mục trên vai nó. “Để nhận phần sai của mình, không phải để bắt người kia tha ngay.”
Tánh im lặng rất lâu. “Khó hơn cướp cờ.”
“Nhiều việc khó hơn cướp cờ,” nàng nói.
Ở phía trong trạm, Dực gọi. “Điển Tri Sứ, ở đây có hòm.”
• • •
Chiếc hòm nằm dưới phần giường đã gãy.
Nắp hòm không khóa, chỉ bị đất mái đè chặt. Tánh và hai người lính cùng nâng xà, nhưng lần này nó chờ Dực đếm đủ ba mới dùng sức. Nó chống vai dưới thanh gỗ, giữ chân đau lùi về sau để không phải dồn sức lên đó. Khi chiếc hòm được kéo ra, bụi bay mù căn trạm. Cổ chân vẫn nhói, nhưng nó không còn giả vờ rằng mình không đau.
Bên trong không có binh khí. Có bốn áo choàng mục, một cuộn dây cung, hai ống thẻ tuần đường và một lá cờ gấp vuông.
Kỳ nhìn lá cờ. “Không phải cờ của bãi.”
Trụ mở ra trên nền đá.
Vải đã phai gần hết màu. Ở giữa là một dấu gồm ba nét cong ôm lấy một khoảng trống hình giọt nước. Mép dưới cờ có ba dải vải khác màu, nhưng hai dải đã bị cắt mất, chỉ còn đường chỉ.
Thanh ngồi xuống. Nàng không chạm ngay. Ánh mắt nàng đi từ ba nét cong tới hai đường chỉ bị cắt ở mép cờ.
Hùng nhận ra vẻ mặt ấy. “Bậu thấy gì?”
“Ba nét giữa cờ không liền tay. Nét trái đã bạc hơn hai nét còn lại, như thể dấu được sửa qua nhiều lần.”
Tánh cúi sát hơn. “Vậy dấu này do ba người vẽ à?”
Thanh lắc đầu. “Chưa biết. Ba nét không đồng tuổi chưa chắc do ba người làm.”
“Nhưng có thể là manh mối?”
“Có thể.”
Nó nhìn nàng, chờ thêm. Thanh không nói chắc hơn điều nàng biết. Sau một lúc, Tánh tự lùi đầu lại.
“Địa nhớ: thấy ba nét thì ghi ba nét, chưa nói ba người.”
Thanh nhìn nó. Sự mệt mỏi trong mắt nàng dịu xuống.
“Mày nhớ thật.”
Tánh cố không cười lớn, nhưng khóe miệng cứ nhấc lên. “Kỷ tưởng Địa chỉ nhớ cướp cờ à?”
“Kỷ đang nghĩ mày nhớ những điều có lợi cho mày rất nhanh.”
“Điều này cũng có lợi.”
“Lợi gì?”
“Được Kỷ khen.”
Thanh bật cười, tiếng cười nhỏ nhưng ấm. Hùng nhìn hai người rồi quay đi, giấu nụ cười của mình bằng cách cúi xem ống thẻ.
Trong ống thứ nhất là các tuyến tuần cũ. Ống thứ hai có ba thẻ ghi tên ba dòng họ ở những vùng khác nhau, mỗi tên đi cùng một đoạn tả lá cờ: họ Nham giữ dải nâu, họ Vi giữ dải trắng, họ Cốc giữ nút buộc. Không thẻ nào nói ai là chủ của dấu giữa cờ.
Dực nói: “Ba họ ấy đều còn người ở quanh dãy phía bắc.”
Kỳ gật. “Và đều từng tranh nhau quyền giữ đường qua đèo.”
Hùng hỏi: “Vì sao cờ ở trạm này?”
“Không ai biết,” Kỳ đáp. Lần này ông không cố lấp chỗ trống bằng một câu chắc chắn. “Trạm có trước khi ta nhận bãi.”
Thanh cuộn cờ lại đúng theo nếp cũ. “Chúng ta sẽ hỏi cả ba họ.”
Trụ nhìn nàng. “Sau chuyện hôm nay, Điển Tri Sứ vẫn muốn đi theo một lá cờ không tên?”
“Chính vì chuyện hôm nay. Một cái tên sai có thể nuôi người sống, cũng có thể làm rỗng cả tuyến giữ biên. Một lá cờ bị ba nhà gọi bằng ba tên có lẽ cũng đang che một việc khác.”
Trụ không phản bác.
Ông quay sang Kỳ. “Chiều nay lập lại số lính thật. Tách phần nuôi Cơ, Ấu và người tàn tật khỏi thẻ lính, nhưng không cắt thóc của họ cho tới khi có lệnh thay thế.”
Kỳ nhìn ông, gần như không tin. “Giám Binh có quyền giữ phần ấy?”
“Không đủ.”
“Vậy Giám Binh vừa hứa điều không giữ được.”
“Ta hứa không cắt trước khi báo rõ. Ta không hứa người trên sẽ nghe.” Trụ dừng lại. “Còn trưởng đồn phải ghi rõ trạm nào bỏ, tường nào sập, bao nhiêu người thật sự cầm giáo. Nếu trưởng đồn tiếp tục dựng lính giả, chính ta sẽ trói trưởng đồn.”
Kỳ nhìn mái trạm thủng trên đầu. Một vệt nắng lọt qua, nằm giữa hai người.
“Nếu ghi thật mà họ chia bãi?”
Hùng nói: “Đoàn sẽ ghi cả lẽ vì sao sáu mươi bảy người cần đứng cùng nhau. Không giấu chỗ yếu, cũng không cắt mất điều trưởng đồn đang cố giữ.”
“Công Tự nghĩ một bản ghi giữ được mái sao?”
“Không. Nhưng bản ghi đúng cho biết mái đang cần bao nhiêu gỗ. Bản ghi đẹp chỉ khiến người ta tưởng nó chưa thủng.”
Kỳ nhìn chàng rất lâu rồi cúi xuống nhặt một mảnh ngói đất đã vỡ.
“Ta sẽ cho mở thẻ.”
• • •
Khi trở lại bãi Đá Mở, đội quân vẫn đứng chờ.
Không còn sáu hàng. Sáu mươi bảy người thật sự được tách sang một phía. Người kho, người bếp, dân phu và người giữ ngựa đứng phía còn lại, đã tháo giáp mượn. Gương mặt họ nhẹ hơn nhưng cũng xấu hổ hơn, như vừa bị lột một lớp che trước quá nhiều mắt.
Người lính trẻ từng thách Tánh đứng cuối hàng thật. Anh ta tránh nhìn nó.
Tánh kéo tay áo Hùng. “Can.”
“Gì?”
“Địa phải nói bây giờ à?”
“Mày muốn để mai?”
“Mai có khi Công Tự ấy giận hơn.”
“Có thể.”
Tánh thở ra, đi được hai bước lại quay về. “Can đi cùng.”
Hùng nhìn nó. “Mày xin lỗi hay Can xin?”
“Địa xin. Can chỉ đứng gần.”
Hùng đi cùng, nhưng dừng cách ba bước.
Tánh đứng trước người lính. Lúc ở giữa đội hình, nó nhanh như gió; lúc này hai bàn chân như bị đất giữ chặt.
“Công Tự.”
Người lính nhìn xuống. “Gọi ta?”
“Tôi xin lỗi vì đã chạy vào mà chưa hỏi người cầm lệnh.”
Anh ta im.
Tánh nuốt khan, nói tiếp: “Nhưng Công Tự cũng không nên thách nếu không muốn tôi làm.”
Hùng khẽ nhắm mắt. Người lính sững ra, rồi bật một tiếng cười không vui cũng không hẳn giận.
“Mày xin lỗi kiểu còn giữ nửa cây giáo à?”
Tánh nhìn Hùng. Chàng không cứu.
Nó quay lại. “Tôi xin lỗi phần của tôi. Phần của Công Tự... Công Tự tự giữ.”
Người lính nhìn gương mặt đỏ bừng của nó. Một lúc sau, anh ta thở mạnh qua mũi.
“Ta là Khê.”
“Tôi là Tánh.”
“Ta biết rồi. Cả bãi biết rồi.”
Tánh càng đỏ mặt. Khê cúi nhặt lá cờ đã được dựng lại.
“Lần sau muốn cướp, đợi chân lành.”
“Lần sau Công Tự đừng để trống đường dưới mái.”
Khê trừng nó. Tánh tưởng mình lại nói sai, nhưng khóe miệng người lính giật lên.
“Biến đi trước khi ta đổi ý.”
Tánh chạy hai bước, nhớ chân đau liền chuyển thành đi nhanh. Khi về tới chỗ Hùng, nó thì thầm:
“Công Tự ấy còn giận không?”
“Còn.”
“Nhưng có ghét Địa không?”
“Can không biết.”
“Sao Can cái gì cũng bảo phải xem mà lại không biết?”
Hùng đặt tay lên đầu nó, xoay mặt nó về phía Khê. Người lính đang dựng cờ, nhưng đã buộc lại dây ở lối dưới mái, không để trống như trước.
“Không biết thì nhìn việc người ta làm tiếp.”
Tánh nhìn một lúc rồi gật.
Buổi luyện chiều không có người xem ngồi dưới mái, không có đá trắng và không có quân ghép. Kỳ cho sáu mươi bảy người chia thành bốn đội nhỏ. Ông đặt chum nước, quang gánh và những tấm khiên hỏng vào lối đi, giữ nguyên mọi vật cản của bãi. Đội hình xấu hơn buổi sáng. Tiếng chân không đều. Có người ngã. Có người quát nhầm.
Nhưng khi một lá cờ bất ngờ đổi hướng, không ai quỳ chỉ vì người bên cạnh quỳ. Khi đường dưới mái bị chặn, Khê dẫn đội vòng qua máng nước. Lộc coi kho không mặc giáp nữa; anh ta đứng bên ngoài ghi số khiên thật sự được phát.
Trụ quan sát tới hết.
“Cuộc luyện này trông tệ hơn,” ông nói.
Kỳ đáp: “Nhưng ngày mai ta biết phải sửa gì.”
Dưới mái dài, người bếp bắt đầu chia thức ăn. Sáu mươi bảy bát cho quân, những bát khác cho người làm việc trong bãi. Không ai phải mặc giáp mới được ăn. Trên giá thẻ, tên người chết vẫn còn, nhưng được buộc thành một bó riêng chờ ghi lại phần nuôi người thân.
Mái đất trên đầu giữ tiếng bát chạm nhau, tiếng cãi về thế giáo, tiếng một người kho đòi lại chìa khóa và tiếng Tánh khoe với Thanh rằng nó đã xin lỗi mà không bị đánh. Những âm thanh ấy không đẹp như nhịp trống buổi sáng. Chúng chồng chéo, vụn và thật.
Thanh đứng ở mép mái, nhìn ra trạm phía bắc chỉ còn một cột cổng.
“Dưới một mái có thể giữ cả nếp sống lẫn điều người ta muốn giấu,” nàng nói.
Hùng đứng cạnh nàng, nhìn theo cột cổng ấy.
Tánh chen giữa hai người, trên tay ôm cuộn cờ cũ đã được bọc lại.
“Vậy ngày mai đi hỏi ba họ?”
Thanh đỡ lấy cuộn cờ trước khi nó làm rơi. “Ngày mai.”
“Địa được cầm không?”
“Sau chuyện sáng nay mà còn hỏi?”
Nó lập tức rút tay. “Địa chỉ hỏi thôi.”
Hùng cười. “Biết hỏi là khá hơn rồi.”
Tánh nhìn cuộn cờ trong tay Thanh, rồi nhìn lá cờ quân ngoài bãi. “Nếu ba họ đều bảo cờ là của mình thì nghe ai?”
Thanh đáp: “Không nghe cái tên họ tự nhận trước. Xem mỗi nhà giữ được phần nào, phần nào khớp, phần nào không.”
“Nếu ghép lại vẫn thiếu?”
“Thì ghi rằng còn thiếu.”
Tánh có vẻ không thích một câu trả lời không trọn, nhưng lần này nó không đòi nàng lấp chỗ trống.
Ngoài bãi, Kỳ ra lệnh dựng lại hàng gác đêm bằng đúng số người có mặt. Sáu mươi bảy cái tên thật không che được cả tuyến như gần hai trăm cái tên trên thẻ. Vì thế những khoảng trống hiện ra rõ ràng: trạm bắc không người, lối đèo chỉ có một tổ tuần, bến đá bỏ trống mỗi khi đội đông đổi gác.
Những khoảng trống ấy đáng sợ. Nhưng chỉ khi được nhìn thấy, chúng mới có thể gọi người và gỗ tới đúng chỗ.
Đêm xuống, tiếng trống từ bãi Đá Mở vang lại. Nhịp không đều bằng buổi sáng. Sau mỗi lần lệch, người đánh trống dừng, nghe tiếng chân thật rồi mới đánh tiếp.
Trong gian thẻ, ba tên họ nằm cạnh lá cờ không tên.

💬 Bình luận (0)