Tiếng kim loại chỉ vang một lần, khô và ngắn, rồi bị lớp thóc lấp mất.
Dực giữ miệng giỏ trước khi Tánh kịp thò tay vào. Tánh đã tự lùi lại, nhưng mắt nó không rời chỗ hạt vừa chuyển động.
“Trong đó không chỉ có một vật,” nó nói.
“Mày nghe được mấy?” Hùng hỏi.
Tánh nghiêng đầu, nhìn chiếc giỏ như thể âm thanh có thể còn nằm nguyên dưới lớp thóc.
“Ba. Có một vật nặng hơn.”
Dực quay sang bà Vối. “Giỏ này của xóm nào?”
Bà Vối chống cuốc, nhìn dấu tam giác dưới đáy.
“Xóm Bờ Rạ.”
“Ai mang tới?”
“Ta.”
“Già Thị biết trong đó có gì không?”
“Biết có giống. Ta tự xúc nó vào giỏ.” Bà nhìn chỗ thóc vừa động, cổ họng khẽ chuyển. “Còn thứ vừa kêu... ta không biết nó nằm trong giỏ này.”
Quản kho Vựa đứng trong cửa kho, hai mắt thâm vì thức trắng. Ông không chen lời, nhưng bàn tay đặt trên then cửa đã siết lại. Ba mươi chín viên sỏi từ đêm trước vẫn nằm trên tấm chiếu giữa sân; giờ chiếc giỏ có tiếng kim loại được đặt ngay bên cạnh, như thể con số thiếu vừa mọc thêm một hình dạng khác.
Thanh trải một tấm vải sạch xuống đất.
“Không thò tay vào. Đổ từng lớp.”
Dực hỏi: “Nếu là mũi nhọn?”
“Vì thế càng không thò tay.”
Tánh ngồi xổm ở mép vải. Nó muốn giữ giỏ, nhưng cổ chân còn buộc vải và lời “đừng chạm” ban nãy vẫn mới. Nó quay sang Hùng.
“Can, Địa giữ miệng giỏ được không?”
“Mày giữ đáy. Để cai đội nghiêng.”
Tánh nghe theo. Dực nâng miệng giỏ, còn nó giữ đáy bằng hai bàn tay lớn. Thóc chảy ra thành một dòng mảnh. Mỗi khi hạt phủ đầy một khoảng, Thanh dùng thanh gỗ dàn mỏng. Bà Vối đứng đối diện, mắt không chớp. Những người của chín xóm chen quanh nhưng không ai vượt qua ranh Dực đã vạch.
Đến lớp thóc thứ ba, một vật xanh xám lăn ra.
Dực dùng hai thanh tre gắp lên.
Đó là một mũi tên đồng dài bằng ngón tay, nhưng đầu đã mòn tù. Phần chuôi có ba khấc. Một sợi dây gai cũ xuyên qua lỗ nhỏ gần gốc, trên dây buộc ba nút cách đều nhau.
Vật thứ hai và thứ ba xuất hiện sau đó. Một chiếc chỉ có hai khấc; chiếc còn lại nhỏ hơn, đầu dẹt như đã bị nện nhiều lần. Cả ba đều dính đất nâu trong những rãnh nhỏ, dù chúng vừa nằm giữa thóc khô.
Dực nhìn bà Vối.
“Già Thị gọi đây là giống?”
Bà Vối không đáp ngay. Gương mặt bà vẫn cứng, nhưng ngón tay giữ cán cuốc đã đổi chỗ hai lần.
“Ta gọi đó là răng đồng.”
“Răng đồng dùng để làm gì?”
“Đo đất.”
Vựa bật cười, tiếng cười khàn vì thiếu ngủ.
“Mũi tên đo đất. Già Thị còn định bảo cán cung dùng gánh nước không?”
Bà Vối quay sang ông.
“Nếu cán cung gánh được nước thì ta vẫn dùng. Người đói không vứt thứ còn có ích chỉ vì người chết từng gọi nó bằng tên khác.”
Tánh nhìn mũi tên có ba khấc, rồi nhìn Dực.
“Ngoài ruộng hôm qua cũng có một chiếc ba khấc.”
Không khí quanh tấm vải lập tức nặng xuống.
Hùng thấy Dực vừa nhấc hai thanh tre định gắp vật, liền nói:
“Cùng số khấc chưa phải cùng việc.”
“Nhưng cùng nằm trong đất của một làng,” Dực đáp. Anh ta quay sang Lẫy. “Hôm qua ngoài ruộng, Thiết bảo người làng chỉ khắc hai.”
“Làng tự khắc thì chỉ khắc hai,” Lẫy nói, mắt không rời chiếc ba khấc trên vải. “Chiếc này của người trước để lại. Làng giữ mà dùng, không khắc thêm.”
Thanh lấy một thanh thẻ mới.
“Vậy ghi rằng chúng có điểm giống. Chưa ghi rằng chúng cùng nguồn.”
Tánh nhìn nàng, rồi tự sửa lời mình:
“Địa chỉ thấy chúng giống nhau. Chưa biết có cùng việc không.”
Thanh gật đầu. “Đúng.”
Bà Vối thở ra rất nhẹ. Nhưng trước khi bà nói thêm, tiếng vó ngựa đã dội từ đường trạm tới.
• • •
Giám Binh Trụ đến cùng sáu ngọ binh và một người giữ hòm lệnh.
Ông khoảng ngoài bốn mươi, vai trái thấp hơn vai phải vì một vết thương cũ. Một đường bạc chạy qua tóc mai khiến gương mặt vốn vuông càng thêm khắc nghiệt. Ông xuống ngựa không cần người đỡ, nhưng khi chân chạm đất, đầu gối trái khựng trong một nhịp rất ngắn.
Vựa bước ra đón.
“Giám Binh tới nhanh.”
“Quản kho gửi tin có kẻ giấu thẻ và e có tụ chúng.” Trụ nhìn những người đứng ngoài ranh trạm. “Ta còn tới chậm.”
Dực đưa ông xem ba dấu niêm trên cửa gian chép, bản đối chiếu không tên và chiếc giỏ vừa đổ. Trụ không đọc hết. Khi thấy ba mũi tên đồng nằm trên vải, ông quỳ xuống bằng chân lành.
Ông không chạm vào đầu mũi tên. Ông nhìn phần chuôi, các khấc và lỗ buộc dây. Sắc mặt ông thay đổi rất ít, nhưng ngón tay đang chống trên đầu gối bỗng bấu mạnh vào vải quần.
“Còn bao nhiêu giỏ chưa mở?”
“Mười bảy,” Dực đáp.
“Mở hết.”
Bà Vối bước lên, đứng chặn nửa thân trước những chiếc giỏ còn lại. “Giỏ là của các xóm.”
Trụ ngẩng nhìn bà. “Nếu trong giống có vũ khí, nó không còn là việc riêng của xóm.”
“Nếu trong đó là đồ gieo hạt?”
“Mũi tên không thành cuốc chỉ vì Già Thị buộc dây vào nó.”
Bà Vối bật hơi qua kẽ răng, định đáp, nhưng Lẫy đã giữ khuỷu tay bà. Ông nói nhỏ đủ để bà nghe:
“Để họ mở trước nhiều mắt. Làng không giấu thì đừng tự làm mình giống người đang giấu.”
Bà Vối nhìn những ngọn đèn có chụp vẫn đặt ngoài ranh từ đêm qua. Cuối cùng, bà gật.
Thanh xin mỗi giỏ được đổ trên một tấm vải riêng, ghi dấu đáy, tên xóm và số vật tìm thấy. Trụ nhìn nàng.
“Điển Tri Sứ sợ ta trộn vật của các giỏ?”
“Ta sợ đến chiều mọi người chỉ còn nhớ mình đã thấy rất nhiều mũi tên mà không nhớ chúng nằm ở đâu.”
“Nếu cả mười tám giỏ đều có, cách ghi khác gì?”
“Nếu không phải giỏ nào cũng có, cách ghi sẽ cho biết chúng ta đang nhìn một kho vũ khí hay nhiều đồ dùng rời.”
Trụ giữ ánh mắt trên mặt nàng một lúc rồi ra hiệu làm theo.
Việc mở giỏ kéo dài đến khi nắng chạm mép mái kho. Trong mười tám giỏ, bảy giỏ có vật đồng. Không giỏ nào có quá ba chiếc. Tất cả những chiếc nằm cùng thóc đều được buộc dây; đầu mòn, cạnh cùn và có đất nén trong khấc. Năm giỏ còn cất một thanh gỗ mảnh, trên thân có những vạch ngang trùng khoảng cách giữa các nút dây.
Tánh nhận việc đếm. Mỗi lần tìm được một vật, nó đặt một viên sỏi cạnh dấu của giỏ. Trụ quan sát nó làm, rồi hỏi:
“Công Tự thuộc xóm nào?”
Tánh nhìn Hùng trước khi đáp.
“Tôi không thuộc xóm này. Tôi đi cùng đoàn.”
“Vậy đừng nghiêng số về phía họ.”
Tánh đỏ mặt. “Sỏi không biết nghiêng.”
Trụ chỉ một viên bị đặt gần tấm vải hơn những viên khác. “Tay người đặt thì biết.”
Tánh nhìn viên sỏi. Nó đã vô thức đặt vật tìm trong giỏ của bà Vối cách những vật khác một khoảng nhỏ, như muốn giữ chúng riêng khỏi chữ vũ khí. Nó lặng lẽ chuyển viên sỏi về đúng hàng.
“Tôi sửa.”
Trụ không khen cũng không mắng. “Biết sửa còn có ích hơn cãi mình không sai.”
Tánh cúi xuống đếm tiếp. Hai tai nó đỏ, nhưng lần này không bặm môi.
Khi giỏ cuối cùng được soát xong, Trụ đứng dậy.
“Mười lăm mũi tên trong bảy giỏ giống. Một chiếc có thể là vật cũ rơi lẫn; mười lăm chiếc nằm theo cùng một cách thì không phải tình cờ.”
Bà Vối nói: “Ta chưa từng bảo chúng rơi vào đó.”
“Vậy Già Thị nhận làng chủ ý cất?”
“Ta nhận làng giữ răng đồng với giống.”
“Cũng là chủ ý.”
“Chủ ý gieo.”
Trụ quay sang Dực.
“Giữ người của chín xóm trong ranh. Không ai về làng cho tới khi xét kho trạm và kho thóc của xóm. Nếu trong kho có vũ khí được sắp sẵn để tụ chúng, ta sẽ lập án phản loạn cho cả chín xóm.”
Những người ngoài cổng đồng loạt xôn xao. Một Công Thị trẻ ôm chiếc giỏ rỗng vào ngực. Một người Quân kéo Ấu đứng sau lưng mình. Bà Vối đập cán cuốc xuống đất.
“Giám Binh định gọi chín xóm là giặc chỉ vì thứ họ dùng để gieo?”
Trụ nhìn người Quân đang che cho Ấu. Ánh mắt ông dừng ở động tác ấy lâu hơn một nhịp.
“Ta chưa gọi họ là giặc. Ta đang ngăn một việc có thể khiến người khác gọi họ như vậy trước khi trời tối.”
“Khác gì nhau nếu giáo đã chặn cổng?”
“Khác ở chỗ ta còn đang hỏi.”
Giọng Trụ vẫn cứng, nhưng câu cuối không có vẻ đe dọa. Nó giống một lời ông tự buộc mình phải giữ.
• • •
Kho thóc chung của xóm Bờ Rạ nằm trên một gò thấp, cách ruộng cháy chừng nửa canh đi bộ.
Đoàn đi thành hai hàng. Dực dẫn bốn lính; Trụ đi giữa với Hùng và Thanh, bốn ngọ binh dắt ngựa theo sau. Người các xóm được phép cử mỗi xóm một người theo, không mang cuốc hay dao. Vựa ở lại giữ kho. Tạc vẫn dưới sự trông coi của trạm, còn Nghi đi cùng vì dấu tam giác dưới giỏ do nàng khắc.
Hai ngọ binh còn lại và người giữ hòm lệnh ở lại trạm cùng Vựa, vừa giữ kho vừa trông Tạc. Khuyết cùng người coi lương và hai người gánh cũng ở lại với hòm đá.
Tánh khăng khăng tự đi. Bách nhìn cổ chân nó rồi buộc lại dải vải.
“Đi chậm.”
“Địa biết.”
“Ta không phải Can của mày.”
Tánh khựng lại. “Tôi biết.”
Bách nhướng mày. “Biết mà còn dùng sai?”
“Tại Thiết nói giống Can.”
Hùng đi trước nghe thấy, quay lại.
“Can nói thế nào?”
“Hay bắt Địa đi chậm.”
“Vậy nghe cả hai.”
Tánh thở dài rõ to, nhưng bước chân thật sự ngắn lại. Bách nhìn Hùng, khóe miệng hơi động.
Đường lên gò chạy giữa những ruộng đã gặt. Gió mang mùi bùn và rơm ẩm. Từ xa, kho thóc trông như một căn nhà thấp bị đất phủ lên mái. Bốn cột gỗ kê sàn cao khỏi mặt gò. Vách đan tre được trát đất trộn trấu. Phần mái không lợp lá như nhà ở mà xếp những tấm phên cong, phủ rơm, rồi nện lên một lớp đất sét dày gần gang tay. Cỏ thấp mọc lưa thưa trên đó, rễ giữ mặt đất khỏi nứt.
Trụ dừng dưới chân gò.
“Đất trên mái?”
Lẫy đáp: “Chống lửa bay từ đồng, giữ mưa không tạt vào giống.”
“Mái nặng thế này, cột mục thì cả kho sập.”
“Mỗi đầu mùa đều thay cột yếu.”
“Ai thay?”
“Các xóm cùng thay. Kho giữ giống chung.”
Thanh đi vòng quanh chân cột. Trên mỗi cột có những vạch sửa khác nhau. Có vạch sâu đã sẫm, vạch mới còn lộ màu gỗ. Phần đất mái cũng chia thành những ô vá, mỗi ô pha một màu trấu. Căn bồ không phải vật của một đời; nó là nhiều mùa sửa chồng lên nhau.
Tánh ngửa cổ nhìn lớp đất ở trên đầu.
“Đất ở dưới chân mới chắc. Đưa lên mái làm gì cho nặng?”
Bà Vối nói: “Vì hạt giống không sống được nếu mái nhẹ bị gió giật.”
“Nếu mái nặng làm gãy cột?”
“Thì phải biết chia sức xuống bốn góc.”
Tánh nhìn các xà chéo. Nó đặt một tay lên cột, cảm độ rung khi gió lùa qua mái. “Có sáu chỗ chịu, không phải bốn.”
Lẫy liếc nó. “Công Tự nhìn được đấy.”
Tánh cố giữ mặt bình thản, nhưng khóe miệng đã nhấc lên.
Trụ không để câu chuyện đi xa.
“Mở kho.”
Bà Vối lấy từ áo một chiếc chìa gỗ. Trước khi tra vào then, bà quay sang mọi người.
“Bồ này có giống của chín xóm. Ai bước vào phải phủi đất chân, không mang lửa, không khạc xuống sàn.”
Một lính của Trụ cười khẽ. Bà Vối nhìn thẳng anh ta.
“Nếu Công Tự ấy thấy lệ giữ giống buồn cười, mời ở ngoài.”
Trụ quay đầu. Người lính lập tức cúi mặt, tháo giày cỏ và phủi sạch bùn.
Trong kho tối, mùi thóc khô và đất nguội quyện vào nhau. Ánh sáng lọt qua những lỗ nhỏ trên vách thành các sợi trắng mảnh. Bảy chiếc bồ đan lớn đặt trên sàn, đáy kê bằng vòng đá. Trên xà ngang treo dây gieo, giỏ nhỏ, gáo gỗ và những ống tre bịt sáp.
Trụ chỉ dây gieo có buộc vật đồng.
“Lấy xuống.”
Lẫy tháo dây. Đầu dây buộc một mũi tên đã mòn, gần giống ba chiếc trong giỏ. Ông đặt nó lên sàn, rồi lấy một ống tre đựng các thanh gỗ khắc vạch.
“Đây là cách chúng tôi đo.”
“Làm ngay.”
“Trong kho không có đất.”
“Ngoài kia có cả gò.”
Lẫy nhìn bà Vối. Bà gật.
Họ vừa quay ra thì Tánh đứng lại dưới góc mái phía bắc.
“Có tiếng hạt rơi.”
Dực hỏi: “Trong bồ nào?”
“Trên đầu.”
Mọi người cùng ngẩng lên. Phía dưới lớp đất mái chỉ có những phên cong và rơm nện. Không bồ nào được đặt ở đó.
Trụ ra hiệu cho lính trèo xà. Tánh giơ tay.
“Để tôi.”
“Chân Công Tự đang đau.”
“Tôi khỏe hơn.”
“Khỏe không làm mái nhẹ đi.”
Tánh nhìn Hùng, nhưng lần này không xin bằng lời.
Hùng lắc đầu. “Mày ở dưới. Nếu có vật nặng rơi, Can cần mày giữ thang.”
Tánh miễn cưỡng ôm chân thang. Người lính trèo tới phên thứ ba thì lớp rơm kêu rào rạo. Một ít thóc lọt qua khe, rơi lên vai Tánh.
Nó ngửi hạt rồi nói: “Thóc cũ.”
Người lính gỡ hai chốt tre. Sau phên là một hốc dài chạy theo sống mái. Trong hốc có một bó vải dầu, một túi thóc nhỏ đã bị chuột cắn và ba đoạn thân tên mục. Bó vải nặng được chuyền xuống bằng dây.
Khi mở ra, cả gian kho im phắc.
Hai mươi bốn mũi tên đồng nằm xếp cùng chiều. Mười một chiếc còn nhọn. Sáu chiếc có ngạnh. Không chiếc nào buộc dây đo đất.
Trụ nhìn bà Vối.
“Già Thị còn gọi chúng là răng đồng?”
Bà Vối nhìn bó mũi tên, mặt xám đi. “Ta không biết chúng ở đó.”
“Mái được các xóm cùng sửa.”
“Ta biết.”
“Chìa do Già Thị giữ.”
“Ta biết.”
“Vậy có điều gì trong kho này mà Già Thị biết?”
Câu hỏi bật ra sắc hơn cần thiết. Bà Vối lùi nửa bước. Lẫy đứng ngang với bà, nhưng bà gạt tay ông.
“Ta biết hạt nào chịu úng, hạt nào chịu hạn. Biết mái nứt ở đâu, cột nào phải thay. Biết mùa đói vẫn phải giữ một phần giống không được nấu. Còn vật người chết giấu trên đầu ta từ khi nào, ta không biết.”
Giọng bà không cao. Chính sự mệt mỏi trong đó khiến Trụ không hỏi tiếp ngay.
Nghi quỳ xuống cạnh bó vải dầu.
“Vải này không phải của kho.”
Trụ hỏi: “Công Thị nhận ra?”
“Kho dùng vải tẩm sáp vàng. Vải này tẩm dầu cây, có tro vỏ trấu.”
Thanh nhìn mép bó. Lớp dầu ngoài đã khô nứt. Những đường gấp dính chặt vào nhau, chỉ chỗ chuột cắn mới lộ màu vải bên trong.
“Nó không được mở gần đây,” nàng nói.
Trụ đáp: “Không mở không có nghĩa không chờ ngày mở.”
Hùng nhìn lớp mái.
“Muốn đặt bó vào, phải tháo phên nào?”
Người lính trên xà chỉ phên thứ ba. Mép phên bị lớp đất mái ép xuống. Hai chốt tre nằm phía trong, nhưng quanh chốt có một vành rơm sẫm màu.
Thanh bảo mọi người chưa chạm thêm. Nàng ra ngoài, trèo lên sườn mái bằng một thang khác. Từ phía trên, chỗ tương ứng là một ô đất vá đã mọc cỏ liền rễ. Rễ cỏ đan qua hai lớp: lớp trên màu nâu nhạt, lớp dưới gần đen vì lẫn tro.
Bách cắt một khối đất nhỏ ở mép ô vá. Ông nhìn rễ, bóp thử rồi ngửi.
“Lớp dưới đã lâu. Rễ già chết rồi có rễ mới xuyên qua. Không phải một hai mùa.”
Trụ hỏi: “Bao lâu?”
“Tôi chữa người, không đếm tuổi đất.”
“Ước.”
“Ít nhất trước lần mái được vá gần nhất.”
Lẫy nói: “Lần ấy khi tôi còn là Ấu.”
Trụ quay sang ông. “Ai sửa?”
“Quân tôi và những người đã mất. Tôi chỉ nhớ mình được sai lên mái giẫm đất.”
“Quân của Thiết còn sống?”
“Mất sau mùa sốt lớn.”
Trụ nhìn bó mũi tên. Cơn giận trong mắt ông chưa giảm, nhưng nó đã mất chỗ đứng chắc chắn nhất. Một kho vũ khí dùng cho cuộc nổi dậy sắp tới không thường được chôn dưới lớp mái đã liền rễ qua nhiều mùa.
Ông vẫn ra lệnh niêm bó vải.
“Cũ không làm chúng bớt nhọn.”
Bà Vối đáp: “Nhưng cũ khiến tội không thể tùy tiện đặt lên người đang sống.”
• • •
Cuộc thử được làm ở chân gò, trên ba khoảnh đất khác nhau.
Khoảnh thứ nhất khô và tơi. Khoảnh thứ hai còn ẩm sau khi mở mạch nước. Khoảnh thứ ba nặng sét, mặt đất đóng váng. Lẫy mang ba dây gieo, mỗi dây buộc một răng đồng khác nhau. Bà Vối mang ba nắm thóc giống, hạt có màu và độ dài khác nhau.
Trụ đứng khoanh tay.
“Nếu chỉ cần đo sâu, dùng que gỗ.”
Lẫy đưa ông một thanh gỗ cũ. Đầu thanh đã mòn lệch.
“Gỗ gặp đất cứng thì gãy, gặp đất ướt thì trương. Đồng giữ được mốc.”
“Vì sao phải là mũi tên?”
“Vì người trước để lại. Chúng tôi không có lò đúc đồng.”
“Vậy người trước là lính?”
“Tôi không biết.”
“Thiết giữ vật của họ mà không biết họ là ai?”
Lẫy nhìn ba khoảnh đất. “Tôi giữ cách dùng còn cứu được hạt. Tên người chết không làm hạt mọc.”
Trụ hơi nhếch môi, không rõ giận hay chua chát.
Thanh chia cuộc thử thành hai lượt. Lượt đầu, Lẫy được tự chọn dây cho từng đất. Lượt sau, dây bị đổi chỗ, Tánh và hai người lính sẽ dùng mà không được biết Lẫy chọn gì. Mỗi lỗ gieo được đào lên ngay sau đó để đo độ sâu bằng thanh khắc riêng.
Tánh cầm dây ba khấc, hào hứng như được phát vũ khí.
Hùng nói: “Mày đang gieo, không đánh nhau.”
“Địa biết.”
“Can thấy mặt mày không biết.”
Tánh cố thu nụ cười. “Địa chỉ muốn xem nó cắm sâu tới đâu.”
“Đó mới là điều phải xem.”
Lượt đầu diễn ra trơn tru. Ở đất tơi, mũi hai khấc chìm tới nút thứ nhất rồi dừng khi dây được kéo ngang. Ở đất ẩm, mũi ba khấc nặng hơn tạo lỗ sâu hơn một đốt ngón tay. Ở đất sét, mũi đầu dẹt không cắm mà nện vỡ lớp váng thành một hõm nông. Hạt được thả qua ống tre, rơi đúng đáy lỗ rồi được phủ bằng lớp đất mỏng.
Trụ xem từng động tác, sắc mặt không đổi.
“Một đồ dùng có thể từng là vũ khí.”
Bà Vối nói: “Làng chưa từng chối.”
“Và đồ dùng có thể trở lại thành vũ khí.”
“Cuốc cũng vậy.”
“Cuốc không bay qua hàng giáo.”
“Đói thì bay được.”
Dực khẽ hắng giọng. Bà Vối quay đi, nhưng không rút lời.
Đến lượt đổi dây, Tánh nhận nhầm mũi đầu dẹt cho đất ẩm. Nó nện mạnh, bùn bắn lên tận ngực. Một người lính cười. Tánh đỏ mặt, định nện thêm để tỏ mình làm được.
Thanh gọi:
“Mày đang thử đồ gieo hay thử sức?”
Tánh dừng tay.
“Thử đồ gieo.”
“Vậy khi nó không hợp đất?”
Nó nhìn đầu đồng dẹt dính bùn, rồi nhìn ba dây còn lại.
“Đổi.”
“Tại sao?”
“Vì nện nữa chỉ làm lỗ rộng, không làm đúng sâu.”
Thanh gật. Tánh đưa dây cho người ghi, nhận mũi ba khấc. Lần này nó thả vật bằng chính sức nặng của đồng, không ép tay. Đầu mũi chìm tới nút thứ hai rồi dừng. Khi đào lên, đáy lỗ chỉ lệch khỏi mốc của Lẫy một bề móng tay.
Tánh nhìn Hùng.
“Địa không dùng sức.”
“Can thấy.”
Nó chờ, nhưng Hùng đang quan sát Trụ nên không nói thêm. Tánh quay sang Thanh.
“Kỷ cũng thấy?”
“Kỷ thấy mày suýt làm hỏng một lỗ trước khi chịu đổi.”
“Nhưng lỗ sau đúng.”
“Vậy nhớ cả hai.”
Tánh thở ra, không biết nên vui hay phụng phịu. Cuối cùng nó tự ghi một vạch lệch bên cạnh vạch đúng, không xóa cái sai.
Bách rửa các răng đồng trong một bát nước. Đất nâu cũ vẫn bám sâu trong khấc, khác màu với bùn mới. Ở phần đầu mòn có những vệt xước chạy dọc, không có vết va ngang thường thấy khi mũi tên đập vào đá hoặc xương. Du, vốn là lính, quen nhìn binh khí, xem kỹ rồi nói:
“Những chiếc trong giỏ đã được dùng cắm và kéo thẳng nhiều lần. Không thấy dấu mài lại thành lưỡi.”
Trụ hỏi: “Còn bó trên mái?”
“Có vết va, có chiếc từng được mài. Chúng là vũ khí.”
Hai câu trả lời đứng cạnh nhau, không câu nào xóa câu kia.
Thanh ghi riêng: mười lăm vật trong giống có dấu dùng vào việc gieo; hai mươi bốn vật trên mái là vũ khí cũ, lúc giấu chưa rõ, chỉ biết có trước lớp vá mái gần nhất. Nàng không nối hai nhóm chỉ vì chúng cùng là đồng và cùng có hình mũi tên.
Trụ đọc lại bản ghi.
“Điển Tri Sứ rất thích chia riêng.”
“Vì người ta thường gây tội bằng cách buộc những việc khác nhau vào cùng một sợi dây.”
“Cũng có kẻ thoát tội nhờ cắt một việc thành quá nhiều mảnh.”
Thanh nhìn ông. “Vậy phải giữ cả đường nối lẫn chỗ chưa nối.”
Trụ không đáp. Ông nhìn những lỗ gieo thẳng hàng, rồi nhìn lớp đất nặng trên mái kho. Một vật từng dùng để xuyên người đang đo độ sâu cho hạt; một lớp đất vốn thuộc dưới chân lại được đưa lên cao để giữ mái khỏi cháy. Ông không thích những thứ đổi việc, có lẽ vì chúng khiến ranh giới ông dựa vào trở nên khó giữ.
• • •
Buổi chiều, Trụ cho người về trạm gọi Vựa lên, rồi họp bà Vối, Lẫy, Dực, Vựa, Nghi, Hùng và Thanh dưới mái hiên kho thóc. Tánh bị bắt ngồi ngoài vì cổ chân sưng, nhưng nó kéo ghế sát cửa đến mức chỉ còn nửa người ở ngoài.
Trụ nhìn thấy, không đuổi.
“Ta không bắt chín xóm. Bó tên trên mái là vật cũ; răng đồng trong giống đã được đem ra thử. Chưa có dấu họ đang sắp sẵn để tụ chúng.”
Một hơi thở dài chạy qua đám người đứng ngoài sân.
Bà Vối vẫn không thả lỏng vai. “Còn bó mũi tên?”
“Niêm tại trạm, có dấu của làng, trạm và Giám Binh. Không đưa về kho lớn.”
Vựa nhíu mày. “Kho có hòm giữ đồng.”
“Kho cũng đang bị xét số giống.”
Vựa im.
Trụ nói tiếp: “Mười lăm răng đồng được trả lại cho các xóm sau khi ghi đủ dấu. Mỗi mùa dùng phải có người trạm nhìn và ghi số.”
Bà Vối bật cười khô. “Từ nay gieo hạt cũng phải có lính nhìn?”
“Từ nay giữ mũi tên trong giống phải có người khác biết.”
“Làng đã gọi người tới làm chứng.”
“Sau khi bị phát hiện.”
Hai người nhìn nhau. Trụ không hoàn toàn sai; bà Vối cũng không hoàn toàn chịu khuất. Hùng thấy họ đang đứng trước một lối hẹp: nếu Trụ ép quá, làng sẽ giấu sâu hơn; nếu bà Vối coi mọi lần soát là đè nén, những vật thật sự nguy hiểm sẽ có chỗ nấp dưới chính lệ giữ giống.
Chàng nói:
“Không cần lính đứng ở từng khoảnh. Có thể để ba người cùng giữ số: một của xóm, một của trạm, một người gieo. Khi lấy răng đồng, buộc một nút vào dây đếm riêng trước mặt nhau. Khi trả, tháo nút ấy. Dây đo đất không ai được sửa.”
Dực gật. “Trạm làm được.”
Bà Vối hỏi: “Nếu người trạm không tới đúng mùa?”
“Xóm ghi người vắng mặt và vẫn gieo,” Thanh nói. “Lệ làm chứng không được biến thành quyền giữ mùa.”
Trụ nhìn nàng. “Điển Tri Sứ đặt điều buộc cho cả hai phía.”
“Nếu chỉ buộc một phía, đó không phải cách giữ việc chung.”
Trụ chống tay đứng lên. Đầu gối trái khiến ông chậm hơn một nhịp. Tánh ở cửa nhìn thấy nhưng không cười. Nó hỏi:
“Giám Binh bị tên bắn à?”
Mọi người quay sang. Hùng định nhắc, nhưng Trụ đã đáp:
“Không. Bị cột nhà đè.”
Tánh ngạc nhiên. “Trong trận đánh?”
“Trong một kho lương.”
Trụ nhìn lớp đất trên mái, giọng thấp đi.
“Khi ta còn là Công Tự, một toán người giấu lao dưới thóc. Can ta dẫn lính vào xét. Họ đốt kho để mở đường chạy.” Ông ngừng lại, các ngón tay ép xuống đầu gối cũ. “Khói hạ sát mặt đất. Mái sập trước khi Can ta ra tới cửa. Ta nghe Can gọi một lần... rồi không còn nghe nữa. Cột đè chân ta ở đó.”
Không ai nói. Sự cứng rắn của ông từ sáng tới giờ bỗng có một căn nhà cháy phía sau nó.
Tánh hỏi: “Vậy Giám Binh ghét kho thóc?”
“Ta ghét việc người sống dùng hạt giống che thứ g-iết người.”
Bà Vối nhìn ông, nét giận trên mặt dịu đi một phần rất nhỏ.
“Ta từng thấy lính dùng chữ phản loạn để lấy nốt giỏ giống cuối cùng của một xóm,” bà nói. Giọng bà chậm lại, như phải bước qua một quãng rất cũ. “Quân của ta ôm giỏ giống không buông. Họ đánh gãy tay Quân, vậy mà đêm ấy Quân vẫn lấy tay lành vét từng hạt rơi ngoài sân. Từ đó Quân không cầm nổi cuốc bằng tay trái. Ta cũng ghét người sống dùng việc giữ đất để che cái đói họ gây ra.”
Trụ và bà Vối đứng dưới cùng một mái. Không ai xin lỗi, cũng không ai đổi hẳn ý. Nhưng khi nhìn nhau lần nữa, họ không còn chỉ thấy một người giấu vũ khí và một kẻ muốn bắt làng.
Tánh cúi nhìn đoạn dây trên cổ tay. Nó nói rất nhỏ với Hùng:
“Can, hai người đều đau như vậy... thì nghe ai?”
Hùng kéo nút dây trên cổ tay nó về đúng chỗ. “Nghe điều họ đã thấy. Rồi xem việc trước mắt giống đến đâu.”
“Nếu vẫn không biết?”
“Thì đừng vội bắt người khác trả giá cho nỗi sợ của mình.”
Tánh gật. Lần này nó không hỏi thêm.
• • •
Trước khi rời gò, mọi người cùng vá lại phần mái đã mở.
Lẫy đặt phên cong vào chỗ cũ. Dực buộc chốt tre. Người của xóm trải rơm, còn lính của Trụ chuyền đất lên. Không ai giao việc cho Tánh, nhưng nó tự đứng ở chân thang, nhận từng giỏ đất rồi đưa lên bằng một tay.
Hùng nhìn cổ chân nó.
“Mày đang đi chậm kiểu gì vậy?”
“Địa không đi. Địa đứng.”
“Đứng mà chuyển cả gò đất lên mái?”
“Can chỉ dặn đi chậm.”
Hùng bật cười. “Lần sau Can sẽ dặn kỹ hơn.”
Thanh đang trộn đất với trấu ở bên cạnh. Nàng nói:
“Kỷ nghe thấy rồi. Lần sau Kỷ sẽ dặn thay Can.”
Tánh lập tức bớt một nửa đất trong giỏ. “Địa thấy từng này vừa.”
Vịnh đứng phía sau khịt mũi. “Mày chỉ sợ Kỷ.”
“Địa biết nghe người nói đúng.”
“Vậy Can nói sai?” Hùng hỏi.
Tánh nghẹn một nhịp, rồi đưa giỏ đất cho người trên thang. “Địa đang bận.”
Tiếng cười lan dưới chân gò, nhẹ nhưng không vô tâm. Sau một ngày người ta suýt gọi nhau là giặc, tiếng cười ấy không xóa được nỗi sợ; nó chỉ cho mọi người một khoảng thở để cùng dựng lại mái.
Lớp đất mới được nện lên ô vá. Trụ tự bước lên thang soát, chân trái cứng nhưng vững. Bà Vối đứng dưới chỉ chỗ cần thêm trấu. Hai người vẫn cãi nhau về độ dày, song mỗi lần một người nói, người kia đều nhìn vào đúng chỗ được chỉ.
Khi mặt trời gần khuất, mái kho lại kín. Đất ở trên cao mang một công việc khác đất dưới ruộng: không ôm hạt để nảy mầm, mà chịu nắng, mưa và tàn lửa thay cho hạt đang ngủ bên dưới. Nó bảo vệ bằng sức nặng; nếu nặng quá, nó có thể làm gãy cột. Muốn mái giữ được lâu, không lớp nào được đặt lên mà quên những thứ đang gánh nó.
Thanh ghi cách dựng mái thành một bó riêng: phên cong chia sức, rơm ngăn nứt, đất sét chặn lửa, rễ cỏ giữ mặt mái. Nàng không ghi bó mũi tên vào cùng bó ấy.
Tánh hỏi: “Đều nằm trên mái, sao Kỷ không buộc chung?”
“Một thứ là cách người sống dựng chỗ che. Một thứ là vật người trước giấu trong chỗ che ấy.”
“Nhưng mái đã giữ cả hai.”
“Đúng. Vì chỗ che không tự biết nó đang bảo vệ điều gì. Người dùng nó phải biết.”
Tánh nhìn mái kho, rồi ngoái về phía trạm, nơi bó mũi tên vừa được đưa về niêm giữ.
“Địa nhớ.”
Giám Binh Trụ chuẩn bị lên ngựa. Hùng tới gần.
“Ngày mai Giám Binh trở về đồn?”
“Không. Ta còn một cuộc luyện lính ở bãi Đá Mở.”
“Đoàn có thể tới xem không?”
Trụ nhìn chàng. “Khảo Tri Sứ vừa mất một ngày để tỏ rõ dân không giấu lính trong kho thóc, giờ lại muốn xem lính thật?”
“Muốn hiểu vì sao một mũi tên khiến Giám Binh lập tức nghĩ tới phản loạn, ta phải biết lính của Châu đang được sắp đặt thế nào.”
Trụ nắm bờm ngựa, co chân lành lấy đà.
“Được. Ngày mai đoàn sẽ thấy lính của Châu không cần giấu dưới thóc.”
Ông nói với vẻ chắc chắn đến mức Dực hơi quay mặt đi. Cử động ấy rất nhỏ, nhưng Thanh nhìn thấy.
Ở cuối đoàn ngọ binh, một người lính trẻ ghé tai người bên cạnh:
“Phải báo bãi tập đổi đội hình.”
Người kia đáp nhỏ hơn:
“Không kịp thì kéo người kho vào mặc giáp.”
Tánh đang cúi buộc lại dây cổ chân nên không nghe. Hùng và Thanh cũng đã quay về phía mái kho. Chỉ Dực đứng gần hai con ngựa nhất. Quai hàm anh ta siết lại, nhưng anh ta không gọi Trụ.
Trên mái, lớp đất mới còn in dấu bàn chân của lính và dân lẫn vào nhau. Dưới mái, thóc giống nằm yên trong những bồ đã đóng. Không còn mũi tên nào trong giỏ thứ chín, nhưng câu hỏi về những người từng giấu bó vũ khí trên đầu cả làng vẫn chưa có tên. Đường sang bãi Đá Mở bắt đầu từ sáng hôm sau.