Bước sang tiết giữa thu, bầu không khí quanh sườn đồi làm cho cuộc sống ở xưởng Tây Sơn trở nên dễ chịu hơn hẳn tháng trước. Cái oi nồng hầm hập còn sót lại từ cuối mùa hạ nay đã rút đi gần hết, nhường chỗ cho làn gió heo may khô ráo và mát dịu thổi đều qua những rặng trúc xanh.
Vào mỗi buổi sáng sớm, Nam đã có thể ung dung ngồi uống trà ngoài hiên nhà chính tới tận quá giờ Thìn mà chẳng cần phải nhấc ghế mây lùi dần vào trong theo vệt mát của mái ngói âm dương, còn khi màn đêm buông xuống thì các dãy phòng nghỉ đã phải khép bớt những cánh cửa sổ quay về hướng bắc để cản gió lạnh. Ngoài khoảng sân gạch rộng, Shiroma cũng chủ động thu dọn mấy mẹt dược liệu đem phơi nắng vào trong nhà sớm hơn thường lệ nửa canh giờ bởi sương chiều giờ đây xuống rất nhanh. Dưới tán cây hòe sát vách nhà kho, Chocobo vẫn giữ thói quen nằm duỗi chân nghỉ ngơi, nhưng nó đã không còn phải há mỏ thở phì phò vì nóng bức vào những buổi trưa nắng gắt nữa. Ngay cả A Thạch mỗi bận dắt ngựa chạy việc lặt vặt quanh nội ngoại thành Thanh Hà cũng thôi không còn phải đeo theo hai bầu nước lớn bên hông yên, đổi lại cậu nhóc hay xuýt xoa kêu lạnh đầu ngón tay mỗi khi phải cầm dây cương cưỡi Đại Hoàng đi ra khỏi cổng lúc sương sớm còn dày.
Trong mắt một người ưa thanh nhàn như Nam, tiết trời giữa thu êm ả nhường này chính là khoảng thời gian lý tưởng bậc nhất trong năm để nằm dài ngoài hiên tận hưởng cuộc đời.
Nghĩ là làm, vừa mới điểm tâm sáng xong, hắn đã kéo ngay chiếc ghế mây dài ra đặt ở đúng khoảng hiên có vệt nắng vàng ấm áp vừa đủ chiếu ngang qua bắp chân. Song tấm lưng của hắn mới chỉ vừa kịp ngả xuống mặt ghế chưa đầy nửa khắc thì Mina đã từ dưới nhà bếp bước lên, nhẹ nhàng đặt một chiếc rổ tre lớn đựng đầy rau cải xanh còn nguyên gốc rễ lên ngay bệ cửa sổ sát bên cạnh hắn.
Nam liếc mắt nhìn qua cái rổ rau xanh mướt một cái, sau đó lẳng lặng quay mặt nhìn lên vòm lá cây hòe, giả vờ như mình chưa từng nhìn thấy bất cứ thứ gì xuất hiện trên bệ cửa.
Mina đứng phủi nhẹ tạp dề bên ngưỡng cửa, nhìn bộ dạng đánh trống lảng ấy của hắn rồi lên tiếng:
“Chẳng phải vừa nãy chính miệng anh vừa khen tiết trời sáng nay đẹp lắm sao? Trời đẹp thế này thì bê rổ rau ra ngồi nhặt ngoài hiên cho thoáng mắt cũng tiện quá còn gì.”
Nam vẫn nằm nguyên trên ghế mây, điềm nhiên đáp lại:
“Tôi đang nằm hưởng thụ cái đẹp của đất trời ngoài hiên đây mà.”
“Nếu anh chỉ định nằm không ở đấy thì nhường bớt chỗ nắng ấm này cho tôi đi, tôi còn phải ngồi nhặt hết rổ rau này để kịp nấu bữa trưa cho cả nhà.”
Nghe câu nói hợp tình hợp lý ấy, Nam đành phải co hai chân lại rồi dịch người sang một bên, chừa ra đúng một nửa chiều dài của chiếc ghế mây với ý mời cô ngồi xuống chung.
Có điều Mina chỉ liếc nhìn khoảng trống hẹp trên ghế mây một cái chứ không ngồi vào. Cô thong thả quay vào hành lang bếp kéo một chiếc ghế đẩu gỗ thấp ra ngoài hiên, tự mình chọn một góc râm mát hơn cách ghế của Nam hai bước chân rồi mới kéo rổ rau lại gần và bắt đầu thoăn thoắt tước bỏ từng bẹ lá úa.
Nam nằm nghiêng đầu nhìn vệt nắng thu trong vắt đang nhảy nhót trên cổ tay trắng trẻo của Mina theo từng nhịp ngón tay cô bấm cuống rau, bỗng dưng nảy ra một câu hỏi vẩn vơ:
“Này Mina, nếu bây giờ lấy thang điểm mười làm mức hoàn hảo cho một nơi chốn để sinh sống, tính theo thời tiết và cảnh vật như sáng hôm nay thì bà chấm cho vùng đất Đại Càn này được mấy điểm?”
Mina dừng tay bấm cọng rau, ngước mắt lên nhìn hắn với vẻ cảnh giác quen thuộc:
“Đầu óc anh sáng nay lại đang suy diễn sang chuyện vẩn vơ gì nữa đấy?”
“Thì tôi chỉ đang giả sử thang điểm mười là mức độ lý tưởng nhất thôi mà, bà cứ thử chấm điểm thật lòng xem nào.”
Mina cúi đầu tiếp tục công việc đang làm dở, vừa tước vỏ cọng rau vừa đáp bằng giọng thực tế:
“Khu xưởng này của mình có giếng nước ngọt trong vắt để rửa rau nấu cơm, có người sẵn sàng trèo lên thay ngói vá mái mỗi khi mưa dột, lại có dư dả chỗ cho một người lười chảy thây nằm dài ra hiên chấm điểm trời đất. Cuộc sống yên ổn được tới mức sáu hay bảy điểm thế này rồi thì anh còn đòi hỏi thiếu thứ gì nữa?”
Nam nghe vậy thì khẽ mỉm cười, hắn vươn tay sang rổ tre nhón thử một cọng rau cải lên, bắt chước động tác của Mina dùng móng tay bấm đôi phần gốc rồi tước nhẹ lớp xơ, nhưng vì làm qua quýt nên để sót lại quá nửa phần bẹ già màu vàng nhạt ở dưới cuống.
Mina liếc mắt nhìn thành quả vụng về trên tay Nam, cô liền cầm lấy cọng rau đó từ tay hắn, bấm gọn phần gốc già đi rồi tước mẫu lại một lượt thật sạch sẽ trước mặt hắn:
“Nếu hỏi cái nhà này hiện giờ còn thiếu thứ gì để lên điểm, thì chính là đang thiếu người biết cách nhặt rau cho ra hồn đấy.”
Nam nhìn cọng rau non mơn mởn vừa được Mina tước sạch đặt vào rổ, gật gù tự bào chữa:
“Thì bây giờ tôi đang bắt đầu ngồi học nhặt đây còn gì.”
“Ừ, mới đang ở giai đoạn học việc thì lúc tự chấm điểm cho bản thân anh nhớ trừ bớt đi vài điểm, đừng có chấm cao quá là được.”
Trong lúc hai người đang ngồi vừa nhặt rau vừa trò chuyện nhàn tản dưới mái hiên nhà chính, ở khoảng sân đá phía trước khu xưởng cơ khí bên hướng đông cũng đang diễn ra một màn huấn luyện nhỏ đầy thú vị.
Từ ngày tiết trời chuyển sang giữa thu mát mẻ, Chocobo không còn nằm lì dưới bóng cây suốt buổi như hồi mùa hạ nữa mà lúc nào cũng muốn lẽo đẽo đi theo sát gót chân của Shiroma khắp mọi ngõ ngách trong sân, thậm chí hôm trước nó còn vô tình bước lạc vào tận trong xưởng và giẫm trúng ngay tấm ván gỗ nơi Zero đang để mấy linh kiện tháo rời chờ bảo dưỡng. Để giải quyết tình trạng đó, sáng sớm hôm nay A Thạch đã dùng bột vôi trắng kẻ một đường vạch thẳng tắp chạy ngang qua ngay trước bậc thềm cửa xưởng cơ khí, và hiện tại Shiroma đang kiên nhẫn dạy cho Chocobo quy tắc dừng bước trước vạch vôi.
Shiroma hai tay ôm một túi vải đựng lá thuốc khô, cô bé bước qua đường kẻ trắng đi vào bên trong hiên xưởng được ba bước rồi mới xoay người lại đứng chờ.
Ở phía bên ngoài bậc thềm, Chocobo đang đà bước theo liền dừng lại sát mép vôi. Nó ngập ngừng nhấc một bàn chân ba ngón to lớn lên khỏi mặt gạch định bước qua theo thói quen, nhưng khi nhìn thấy ánh mắt nghiêm túc của Shiroma thì cái chân ấy cứ lơ lửng giữa không trung chứ không dám đặt xuống đất, cổ họng nó phát ra một tiếng kêu trầm thấp nghe đầy vẻ ấm ức bất bình:
“Kweh...”
Shiroma nhìn bộ dạng muốn bước qua lắm rồi của Chocobo, giọng nói của cô bé tuy vẫn nhỏ nhẹ hiền lành như mọi khi nhưng thái độ thì không chút nhượng bộ:
“Cậu phải đứng ở ngoài vạch trắng đợi tớ một lát, trong xưởng có nhiều đồ sắt nhỏ dễ giẫm hỏng lắm.”
Ở ngay phía bên trong khung cửa xưởng rộng mở, Cloppe đang bay lơ lửng ngang tầm vai Zero, cẩn thận ôm một chiếc đinh ốc bằng đồng bé tẹo vừa lăn rơi xuống khe gạch đem đặt trả vào lòng bàn tay anh. Ciel đứng cạnh giá vẽ đón lấy con ốc vít từ tay Zero, cô ngước mắt nhìn ra cảnh Chocobo đã ngoan ngoãn hạ chân xuống đứng im sau đường kẻ ngoài thềm, đoạn quay sang dặn cậu nhóc chạy việc vẫn đang xách xô nước vôi đứng gần đó:
“Tiện tay còn dư vôi trắng trong xô, lát nữa A Thạch chịu khó ra phía trước cửa nhà kho kẻ thêm cho chị hai đường phân làn nữa nhé, một bên dành riêng cho người đi bộ còn một bên để đẩy xe chở vật tư cho khỏi vướng nhau.”
Dặn xong, Ciel lại nhìn Chocobo đang đứng rỉa lông ngoan ngoãn ngoài sân rồi buông lời nhận xét rất khách quan:
“Huấn luyện một buổi sáng là Chocobo đã biết nhìn vạch dừng lại chờ rồi, chứ mấy người đẩy xe hàng trong nhà mình thì đôi khi còn chưa chắc đã nhớ nhìn đường đâu.”
Ngồi trên ghế mây ngoài hiên nhà chính chứng kiến trọn vẹn câu chuyện bên cửa xưởng, Nam bật cười khẽ rồi giơ cọng rau cải thứ hai mà mình mới tỉa tót xong lên ngang tầm mắt để khoe với Mina.
Mina quay đầu sang nhìn lướt qua cọng rau trên tay hắn, chỉ nhẹ vào một đoạn cuống xơ cứng vẫn còn dính ở phía dưới rồi phán gọn lỏn:
“Cọng đó tước hỏng hết phần non rồi, anh bỏ sang cái rổ đựng gốc thừa kế bên đi.”
Nam thở dài một tiếng đầy tiếc nuối cho công sức lao động của mình, đành bỏ cọng rau hỏng sang bên rồi thò tay lấy cọng khác làm lại từ đầu.
Đúng vào lúc Nam vừa kịp cầm cọng rau thứ ba lên định bấm gốc thì cánh cổng gỗ phía trước mở ra. Hứa An từ bàn trực ngoài cổng sải bước đi nhanh vào sân, trên tay cậu cầm theo một phong công văn giấy bản dày có đóng triện son đỏ tươi của Lạc Hà tông.
Chỉ cần liếc nhìn tác phong bước đi dứt khoát và cách Hứa An cầm tờ giấy mở sẵn trên tay, Nam đã hiểu ngay đây là tin tức quan trọng nên buông ngay cọng rau trả lại vào rổ tre, ngồi thẳng lưng dậy hỏi đón đầu:
“Bên Lạc Hà chốt lịch xuất phát vào ngày mùng mấy đấy?”
Hứa An bước lên bậc thềm đá, dừng lại trước bàn trà và đáp rành mạch:
“Dạ phía Tạ trưởng lão vừa gửi văn thư sang báo chính thức chốt ngày mùng tám tháng này sẽ lên đường đấy Nam huynh.”
“Hành trình đợt này bên họ dự tính đi trong bao lâu?”
“Trên kế hoạch ghi dự kiến kéo dài từ tám cho tới mười ngày tùy theo thời tiết trên núi ạ.”
“Phương án di chuyển là đi cắt ngang như đã bàn cuối tháng trước phải không?”
“Vâng, toàn bộ chuyến này tập trung vào việc đi cắt ngang qua các sườn núi.”
Nghe câu xác nhận ngắn gọn của Hứa An, vẻ mặt biếng nhác thường ngày của Nam cũng thu lại, thay vào đó là sự tập trung nghiêm túc.
Đợt thăm dò kéo dài mười ngày hồi tháng tám dọc theo trục đường đơn độc từ nam lên bắc đã mang về một dữ kiện hết sức quan trọng: cả các lối mòn của muông thú trong rừng đều bắt đầu chủ động bẻ ngoặt hướng đi từ rất sớm, ngay khi địa hình hay cảnh quan mạn bắc vẫn chưa xuất hiện vật cản hữu hình nào. Sau khi đối chiếu chéo các bản ghi chép, cả Harpe lẫn Tạ Vân đều đi tới chung một nhận định chiến thuật rằng nếu đoàn người cứ tiếp tục cắm đầu đi thẳng sâu hơn vào rừng già, kết quả duy nhất thu về cũng chỉ là xác nhận khu vực phía trước ngày càng vắng bóng sinh vật sống mà thôi.
Muốn nắm bắt được bản chất của hiện tượng bất thường đang diễn ra trong dãy núi kia, cách duy nhất lúc này là phải tổ chức các mũi khảo sát đi cắt ngang qua nhiều nhánh đường mòn khác nhau ở cùng một độ sâu tương đối. Mục tiêu của chuyến đi ngày mùng tám tới được xác định rất rõ ràng, cả đoàn sẽ giữ khoảng cách an toàn bên ngoài vùng tâm điểm, tập trung đo đạc xem khu vực mà muông thú đang đồng loạt né tránh kia có hình dáng và biên giới ra sao trên bản đồ.
Hứa An đặt tờ công văn của phía Lạc Hà xuống mặt bàn gỗ để Nam tự mình xem qua danh sách nhân sự phối hợp.
Đội hình chủ lực xuất phát từ trạm nghỉ chân núi đợt này gần như vẫn giữ nguyên những gương mặt thường ngày của tháng trước, bao gồm Tạ Vân dẫn đầu cùng hai môn đồ của tông môn, Triệu Khải làm người dẫn đường, kết hợp cùng ba người của khu xưởng là Soma, Zero và Riku. Riêng ở dòng cuối cùng của tờ giấy, tên của Harpe được ghi chú rõ là sẽ ở lại hậu phương Tây Sơn để điều phối tổng hợp dữ liệu.
Nam đưa ngón tay chỉ nhẹ vào dòng chữ cuối cùng ấy, ngước lên hỏi lại Hứa An cho chắc chắn:
“Chuyến này Harpe quyết định ở lại nhà chứ không đi cùng đoàn lên núi thật à?”
“Vâng, chính miệng Harpe huynh chủ động đề nghị với Tạ trưởng lão là đợt này sẽ ở lại xưởng để trực bản đồ đấy ạ.”
Nam ngẫm nghĩ một chút rồi gật đầu tán thành sự sắp xếp đó.
Thực tế mà nói, việc Harpe ở lại hậu phương trong chiến dịch khảo sát tháng này còn hợp lý và cần thiết hơn cả đợt trước gấp nhiều lần. Bởi vì theo kế hoạch mở rộng lần này, ngoài mũi chủ lực của Soma đi ở tuyến giữa ra, phía Lạc Hà còn đồng thời điều động thêm ba toán đệ tử khác chia nhau đi rà soát ở hai mạn sườn đông và tây không trùng lặp với lộ trình chính. Do quãng đường và địa hình của từng khu vực khác nhau nên thời điểm các toán gửi tin tức hoặc quay trở về thành Thanh Hà chắc chắn sẽ lệch nhau vài ngày. Nếu như người phụ trách ghép nối bản đồ là Harpe cũng xách ba lô chui tọt vào trong rừng sâu mất mười ngày không liên lạc được, thì các biên bản gửi về sớm từ những mũi khác sẽ bị ứ đọng lại, đến lúc rút về thì chỉ còn một mình Tạ Vân phải gồng gánh việc đối chiếu từ đầu.
Đợi Nam xem xong tờ công văn của Lạc Hà, Hứa An mới mở cuốn sổ ghi chép hàng ngày ra và xin ý kiến chỉ đạo về mấy lời mời thuê người vừa gửi tới:
“Hiện tại ở bàn trực cổng còn có hai mối khách quen đang ngỏ ý muốn thuê Soma huynh và Zero huynh đi giải quyết công việc, họ vẫn đang chờ bên xưởng mình trả lời dứt khoát xem có nhận lời hay không đấy Nam huynh.”
Nam hỏi ngay vào điểm mấu chốt:
“Thời gian cụ thể của hai công việc đó người ta báo là vào ngày nào?”
“Dạ một mối ở huyện bên thì khách đã chốt rõ ngày giờ là vào tuần cuối tháng sau khi đoàn khảo sát đã về, còn mối thứ hai thì chủ nhà vẫn đang lưỡng lự chưa xác định được ngày khởi hành cụ thể.”
Nam phất tay quyết định không cần đắn đo:
“Mối nào đã có ngày giờ rõ ràng vào dịp cuối tháng thì đệ cứ ký giấy nhận lời, còn cái mối chưa chốt được ngày đi kia thì từ chối khéo người ta luôn đi. Nguyên tắc làm ăn của xưởng mình là khách chưa chốt được lịch trình cụ thể thì không bao giờ giữ chân nhân sự ngồi chờ suông.”
Hứa An cầm bút bi đánh dấu ngay vào sổ tay mà chẳng cần phải hỏi lại nửa lời, bởi quy tắc làm việc dứt khoát ấy từ lâu đã trở thành lệ thường ở trong xưởng.
Đúng lúc đó, từ lối cổng vòm thông ra bãi đất trống phía sau nhà kho, Riku vừa kết thúc buổi tập vung kiếm buổi sáng cũng đang thong thả bước vào sân chính. Thanh Keyblade Braveheart đã được cậu thu hồi biến mất vào khoảng không, trên vầng trán rộng và những lọn tóc màu bạch kim vẫn còn vương vài giọt mồ hôi lấp lánh dưới nắng thu.
Nhìn thấy Hứa An đang đứng cầm công văn bên bàn trà của Nam, Riku vừa lấy chiếc khăn bông vắt trên vai lau mồ hôi trán vừa bước lại gần hỏi ngắn gọn:
“Có tin lịch trình mới từ bên Lạc Hà gửi sang rồi hả anh Nam?”
Nam hất cằm chỉ nhẹ vào tờ giấy đóng dấu son trên mặt bàn:
“Ừ, chốt lịch sáng mùng tám lên đường đấy.”
Riku bước tới đứng cạnh bàn, cúi mắt nhìn xuống mặt giấy bản chi chít những dòng chữ tượng hình viết theo lối hành chính cổ.
Sau hơn một tháng rưỡi kiên trì ngồi học nhận mặt chữ cùng Hứa An và A Thạch vào mỗi buổi tối, trình độ đọc hiểu văn tự bản địa của Riku tuy đã có tiến bộ nhưng nhìn chung vẫn còn là một điểm yếu lớn. Cậu đã có thể tự mình đọc được tên riêng của các thành viên trong nhà, các con số đếm cơ bản cùng khoảng vài chục từ chỉ phương hướng, địa hình thường dùng nhất, nhưng đứng trước một văn bản hành chính dài dòng với nhiều thuật ngữ tu tiên của phía Lạc Hà như tờ giấy này thì nó vẫn vượt quá sức đánh vần lúc này của cậu.
Hiểu rõ điều đó, Hứa An liền chủ động cầm tờ giấy lên, đọc tóm tắt lại thật rõ ràng trọn mục tiêu và lộ trình dự kiến của chuyến đi ngày mùng tám cho Riku nghe.
Chăm chú lắng nghe xong phần tóm tắt của Hứa An, Riku suy nghĩ một thoáng rồi đặt câu hỏi đúng ngay trọng tâm thực địa:
“Chuyến đi cắt ngang theo chiều đông tây lần này dự kiến sẽ kéo dài qua khoảng bao nhiêu phạm vi đường rừng?”
Hứa An nhìn vào phần phụ lục lộ trình rồi đáp:
“Theo sơ đồ Tạ trưởng lão gửi kèm thì đội của huynh sẽ cắt ngang qua ba trục đường mòn chính ở khu vực trung tâm, nếu tiết trời thuận lợi không gặp mưa làm trơn dốc đá thì có thể sẽ mở rộng kiểm tra thêm nhánh đường thứ tư ở rìa phía đông nữa.”
“Khoảng cách tính từ chân núi tiến vào trong của cả ba nhánh cắt ngang đó đều nằm ở cùng một độ sâu tương đương với điểm dừng đợt trước chứ?”
“Vâng, độ sâu vào rừng gần như tương đương nhau để tiện so sánh đối chiếu ạ.”
Riku khẽ đồng tình hài lòng. Với những gì chính mắt cậu đã nhìn thấy ở giao điểm gốc cây dẻ gai trong chuyến đi tháng trước, phương án vạch tuyến cắt ngang ở cùng một vĩ độ như thế này chính xác là cách làm duy nhất đúng đắn để khoanh vùng hiện tượng.
Nam ngồi trên ghế mây ngước mắt nhìn vẻ mặt nghiêm túc gật gù của Riku, không nhịn được mà buông lời trêu:
“Tháng trước mới đi bộ leo núi ròng rã mười ngày trời về, tháng này cậu lại định xách ba lô đi tiếp đấy à?”
“Ừ, tôi đi tiếp chứ.”
“Đi khảo sát toàn phải cuốc bộ xuyên rừng suốt ngày như thế mà cậu không thấy chán chút nào sao?”
Riku hơi nhướng mày nhìn Nam, hỏi vặn lại:
“Có cái gì đâu mà phải thấy chán cơ chứ?”
“Thì chán cái chuyện suốt ngày chỉ có đi bộ leo dốc từ sáng tới tối ấy.”
Nghe câu giải thích đậm chất lười vận động của Nam, Riku đứng nhìn hắn chằm chằm mất vài khoảnh khắc với ánh mắt rất kỳ lạ như thể câu hỏi kia có vấn đề nghiêm trọng, sau đó cậu mới bình thản nói:
“Hình như tại anh Nam nằm nghỉ ở trong nhà nhiều ngày quá rồi nên mới bắt đầu xem chuyện con người dùng hai chân để đi bộ là một hoạt động đặc biệt lắm thì phải?”
Câu nhận xét sắc bén mà thản nhiên của Riku vừa dứt lời, Mina đang ngồi nhặt rau trên chiếc ghế đẩu cách đó hai bước chân đã không kìm được mà phì cười thành tiếng.
Nam bị chặn họng ngay trước mặt bao nhiêu người thì quê độ ra mặt, hắn ngồi thẳng người dậy chỉ tay về phía Riku mà than thở:
“Cậu mới chỉ chuyển về sống ở cái xưởng này được có hơn một tháng trời thôi mà tính nết đã bắt đầu học đòi hư hỏng theo người ta rồi đấy nhé.”
Đúng lúc đó, Soma đang đứng tựa lưng vào cột gỗ ngoài hiên sau để hóng gió thu nghe thấy câu phàn nàn của Nam liền thản nhiên góp vào một câu rất công tâm:
“Bản tính nói thẳng sự thật đó là của riêng Riku từ trước rồi, đâu phải do sống ở nhà mình mới nhiễm vào đâu.”
Nam ngoảnh đầu sang lườm Soma một cái sắc lẹm:
“Cả cậu nữa đấy Soma, chẳng khác gì nhau cả.”
Khắp cả khoảng hiên nhà rộng rãi chẳng có lấy một ai chịu đứng về phe của người làm chủ như hắn cả. Và trớ trêu thay, đúng vào cái khoảnh khắc Nam đang cảm thấy cô đơn lạc lõng nhất giữa đám đồng đội của mình thì tín hiệu báo trước của vòng quay Gacha tháng mới lại đột ngột dâng lên trong tâm trí hắn.
Luồng cảm giác tê rần vốn có xuất hiện trong đầu Nam sớm hơn dự kiến một chút, ngay trước cả khi Hứa An kịp thu dọn tập giấy tờ trên bàn trà để quay ra cổng.
Nam lập tức ngừng cuộc đấu khẩu với Riku và Soma, đôi mắt hắn đảo nhanh một vòng kiểm tra nhân sự đang có mặt xung quanh gian nhà chính. Ngay bên bàn trà là Hứa An và Riku, dưới hiên có Mina và Soma, còn ở ngoài sân gạch phía trước cửa kho thì A Thạch vẫn đang đứng cầm chổi quét vôi trò chuyện với Shiroma.
Có cả Hứa An lẫn A Thạch đang đứng sờ sờ ở ngay giữa sân thế này thì rõ ràng là hiện trường chưa được dọn sạch để quay thưởng.
Nam chống hai tay lên thành ghế mây đứng thẳng người dậy, cất tiếng gọi với vẻ mặt vô cùng trang nghiêm:
“Hứa An này.”
Hứa An vừa mới kẹp lại tờ công văn của phía Lạc Hà vào bìa gỗ, nghe gọi liền ngước lên nhìn hắn:
“Dạ, Nam huynh cần dặn thêm việc gì nữa ạ?”
Nam phất tay chỉ thẳng ra phía cổng xưởng như một thói quen phản xạ:
“Bây giờ cậu với A Thạch chịu khó đi xuống phố nam ghé qua xưởng rèn Lão Tề giúp tôi một chuyến nhé.”
Lần này, Hứa An chẳng mở miệng hỏi lại ngay xem đi làm việc gì như tháng trước nữa. Hứa An chỉ đứng im lặng tại chỗ, đôi mắt nhìn thẳng vào gương mặt của Nam với vẻ chờ đợi xem hôm nay Nam sẽ nghĩ ra lý do gì.
Bị ánh mắt điềm tĩnh của Hứa An nhìn chằm chằm, Nam tự dưng hơi chột dạ, hắn ấp úng mở lời:
“Hai đứa đi xuống dưới đó để lấy... lấy cái...”
Ngồi ở chiếc ghế đẩu cạnh, Mina đã lẳng lặng quay mặt nhìn đi chỗ khác để giấu nụ cười từ lúc nào. Trong khi đó, đầu óc Nam đang phải vắt chân lên cổ xoay vòng vòng nhằm cố nhớ ra xem gần đây nhà Tây Sơn có đang đặt Lão Tề rèn món đồ kim khí nào thật sự hay không.
Sau hai khoảnh khắc lục tìm trí nhớ thất bại, miệng Nam buột đại ra một cụm từ thân thuộc nhất vừa nảy lên trong đầu:
“Đi lấy cái khung giá sắt.”
Không gian dưới mái hiên liền rơi vào một khoảng lặng kỳ quặc. Hứa An đứng nhìn Nam rất lâu mà không chớp mắt, sau đó cậu mới từ tốn nhắc lại một sự thật lịch sử:
“Hồi đầu tháng trước lúc chuẩn bị đi núi, Nam huynh cũng vừa kịp dùng đúng cái lý do đi hỏi khung giá sắt này để bảo bọn đệ xuống chỗ Lão Tề rồi đấy ạ.”
Nam đứng cứng đờ cả người sát cạnh chiếc ghế mây.
Chưa dừng lại ở đó, ở ngoài sân gạch, A Thạch vốn có đôi tai thính như thỏ rừng vừa nghe loáng thoáng thấy câu chuyện sai vặt quen tai liền chống cán chổi vôi đứng thẳng dậy, ngước cổ nói vọng vào trong hiên với giọng điệu rất ngơ ngác:
“Ủa Nam ca ơi, chẳng phải hồi tháng trước lúc đệ với Hứa huynh đi hỏi thì chính miệng Lão Tề đã bảo là xưởng mình đâu có đặt rèn thêm cái giá sắt nào nữa đâu mà!”
Câu nói thật thà như đếm của A Thạch từ ngoài sân vọng vào giống như đòn chí mạng đánh sập đầy đủ chút uy nghiêm cuối cùng của Nam.
Ở dưới hiên, Mina không còn kìm nén được nữa mà phì cười khanh khách thành tiếng, còn Riku đứng cạnh bàn trà cũng phải vội vàng quay mặt nhìn ra bụi trúc bên hông nhà để giữ lịch sự.
Đứng giữa vòng vây của sự thật phũ phàng, Nam chợt thấm thía sâu sắc rằng đôi khi cái tính liên tục và trí nhớ quá tốt của những người sống xung quanh mình lại là một thứ thật sự đáng ghét. Nhưng với bản lĩnh dày dạn của mình, hắn ngay ho khan một tiếng rồi nhanh miệng sửa chữ ngay tại trận:
“À không, lúc nãy tôi nói nhầm, ý tôi là đi xem cái kệ sắt cơ.”
Hứa An vẫn giữ nguyên tư thế ôm cặp hồ sơ trước ngực, điềm nhiên hỏi vặn tới cùng:
“Cụ thể là cái kệ sắt dùng để đặt ở đâu thế hả huynh?”
Nam khoát tay một cái thật rộng, đáp bằng giọng điệu bề trên:
“Tôi chỉ nắm phương hướng quản lý chung của cả xưởng thôi chứ mấy cái chi tiết kỹ thuật lặt vặt đó làm sao mà nhớ hết được.”
Lời vừa dứt khỏi miệng Nam chưa đầy một hơi thở thì từ bên trong khung cửa sổ mở rộng của gian xưởng cơ khí phía đông, giọng nói trong trẻo của Ciel đã vọng thẳng sang sảnh chính, chuẩn xác và lạnh lùng như một nhát dao cắt đứt đường lui của hắn:
“Bên dưới xưởng kỹ thuật của tôi hiện tại cũng chẳng có bất kỳ cái kệ sắt nào đang gửi bản vẽ đặt rèn ở chỗ Lão Tề đâu anh Nam ạ.”
Nam quay phắt đầu nhìn sang phía cửa xưởng cơ khí, bất mãn kêu lên:
“Này bà Ciel kia, đang lúc người lớn điều phối công việc ngoài sảnh thì bà có thể giữ im lặng không tham gia vào cuộc trò chuyện này được không hả?”
Từ bên trong xưởng, Ciel thậm chí còn chẳng buồn ngẩng đầu lên khỏi bàn vẽ, cô đáp gọn đúng một chữ:
“Không.”
Nhìn cảnh tượng Nam đứng bơ vơ giữa hiên nhà khi mọi ngả đường kiếm cớ đều đã bị Ciel và A Thạch chặn đứng sạch sành sanh, cuối cùng Hứa An cũng đành thở dài một tiếng trong bụng và quyết định đứng ra giải vây giúp Nam.
Hứa An cất gọn tập hồ sơ vào cặp da, chủ động lên tiếng đề xuất một lý do hẳn hợp tình hợp lý:
“Thôi được rồi, để đệ dẫn A Thạch đi vào trong thành ghé qua quán trà của Lưu chưởng quầy lấy thêm vài gói trà mạn mới về cho xưởng dùng vậy.”
Nam nghe thấy phao cứu sinh được quăng ra thì mừng như bắt được vàng, hắn vội vàng vỗ tay cái bốp xác nhận ngay:
“Đúng rồi đấy, chính là đi lấy trà mới! Sáng giờ tôi cứ nhớ mang máng là nhà mình sắp hết trà mà lại nói nhầm sang cái kệ sắt.”
Nghe thấy hai chữ “hết trà”, A Thạch vừa rửa tay xong ở ngoài sân liền bước vội lên bậc thềm với vẻ mặt thắc mắc không kém gì lúc nãy:
“Ơ kìa Hứa huynh, chiều hôm kia lúc dọn tủ bếp đệ vẫn thấy trong hũ sành của chị Mina còn tận hai gói trà sen chưa bóc tem cơ mà, sao đã phải đi mua thêm...”
Không để cho cái miệng nhanh nhảu kia kịp nói hết câu làm hỏng nốt chiếc phao cứu sinh cuối cùng của Nam, Hứa An đã sải bước tới tóm chặt lấy bả vai của cậu đệ, xoay người A Thạch ngược lại phía sau rồi đẩy thẳng ra cổng lớn:
“Thôi đừng đứng đấy hỏi nữa, đi ra cổng dắt Đại Hoàng nhanh lên.”
“Ủa nhưng mà Hứa huynh ơi...”
“Ra khỏi cổng đi rồi dọc đường huynh giải thích cho mà nghe.”
Đợi cho đến khi bóng lưng của hai anh em Hứa An và A Thạch đã khuất hẳn sau cánh cổng gỗ của xưởng Tây Sơn, Nam mới thở phào một hơi dài nhẹ nhõm rồi bước vào đứng ở giữa gian nhà chính.
Mina lúc này đã đứng dậy khỏi chiếc ghế đẩu, cô khoanh hai tay trước ngực nhìn Nam với ánh mắt nửa buồn cười nửa bất lực:
“Tháng sau trước khi định điều người ta đi ra ngoài thì anh làm ơn chuẩn bị sẵn một cái lý do nào nghe cho nó hợp lý từ hôm trước giùm tôi cái nhé.”
Nam đưa tay vuốt lại vạt áo cho phẳng phiu, gật gù đáp:
“Rút kinh nghiệm sâu sắc vụ cái giá sắt hôm nay, tối nay tôi sẽ ngồi lập hẳn một danh sách mười lý do dự phòng khác nhau mới được.”
Ciel lúc này cũng vừa cùng với Zero và Shiroma từ bên khu xưởng kỹ thuật bước qua sảnh chính để hội quân. Nghe câu tuyên bố của Nam, cô liền nghiêm túc góp ý thêm:
“Lập danh sách xong thì anh nhớ lấy giấy viết rõ ra rồi gạch xóa từng tháng một kẻo lại dùng trùng lặp như vừa nãy đấy.”
Nam xua tay cười xòa:
“Làm gì mà phải bày vẽ nghiêm trọng đến mức ghi chép sổ sách thế cơ chứ.”
Đứng kế bên bàn trà chứng kiến hết thảy màn kịch điều động nhân sự đầy trắc trở vừa diễn ra, Riku nhìn theo hướng cánh cổng gỗ vừa khép lại rồi quay sang hỏi Nam với chút tò mò:
“Mỗi lần đến kỳ cái máy kia hoạt động là anh đều phải tìm cách đẩy hết những người bản địa ra khỏi nhà giống hệt như vừa rồi à?”
Nam chỉnh lại sắc mặt nghiêm nghị, uốn nắn ngay cách dùng từ của Riku:
“Cậu đừng có dùng cái từ đuổi nghe nó mất tình cảm thế, trong nghiệp vụ quản lý người ta gọi đây là nghệ thuật điều phối nhân sự linh hoạt theo thời điểm đấy.”
Riku chỉ khẽ mỉm cười không tranh luận thêm về thuật ngữ quản lý của hắn nữa.
Sau khi xác nhận cả khuôn viên xưởng mình đã kín cổng cao tường và chỉ còn lại những thành viên nội bộ hiểu rõ bí mật của hệ thống, Nam mới bước vào căn phòng nhỏ và kích hoạt lượt quay thứ bốn mươi tư.
Quầng sáng trắng bạc lóe lên trên mặt bàn gỗ giữa gian chính trong vài hơi thở rồi nhanh chóng tan biến vào không khí. Ở ngoài hiên, Soma hơi nghiêng đầu nhìn vào trong phòng khi thấy ánh sáng lần này thu gọn lại rất nhỏ chứ không tỏa rộng ra khắp sàn nhà như mười hai cuộn túi ngủ của tháng trước.
Khi những hạt sáng cuối cùng tắt hẳn, nằm ngay ngắn trên mặt bàn trà bằng gỗ lim là hai thiết bị cầm tay có kích thước nhỉnh hơn bàn tay người lớn một chút. Cả phần vỏ ngoài của chúng được bọc bằng lớp nhựa tổng hợp kết hợp viền chống va đập màu đen xám rất dày dặn, phía trên đầu máy nhô lên một chiếc ăng-ten ngắn hình trụ tù, chính giữa thân máy là một màn hình tinh thể lỏng cỡ nhỏ cùng hai hàng nút bấm bằng cao su mềm xếp đối xứng phía dưới.
Nam bước tới bên bàn, đưa tay nhấc một chiếc máy lên xem xét kiểu dáng quen thuộc rồi buột miệng đọc tên món đồ ngay tức khắc:
“GPS GPS.”
Cùng lúc đó, dòng thông báo của hệ thống cũng hiện lên xác nhận chính xác tên gọi của phần thưởng tháng này:
【Lượt quay thứ 44 hoàn tất. Phần thưởng: GPS cầm tay ×2.】
Đứng ở phía đối diện bàn trà, Riku cũng vươn tay nhấc chiếc máy thứ hai lên ngắm nghía phần ăng-ten ngắn và lớp vỏ cao su chắc chắn, nhưng cậu vẫn giữ nguyên ngón tay ở bên ngoài chứ chưa tự ý bấm vào chút nút nào trên thân máy. Nhìn kiểu dáng vuông vức có ăng-ten hơi giống đồ liên lạc đang cất trong kho, Riku ngước lên hỏi Nam:
“Món đồ mới này cũng là thiết bị dùng để truyền âm nói chuyện từ xa giống như mấy chiếc máy bộ đàm kia hả anh Nam?”
Nam lắc đầu, ngón tay cái của hắn ấn giữ vào nút nguồn màu đỏ ở góc bên phải thân máy để khởi động:
“Không phải bộ đàm đâu, thứ này là thiết bị chuyên dùng để xác định tọa độ và dẫn đường đi đấy, hoặc ít nhất thì ở thế giới cũ của tôi trước kia người ta vẫn dùng nó vào việc đó.”
Khi mặt kính nhỏ trên thân máy vừa sáng đèn lên sau tiếng bíp ngắn, Nam liền đặt mắt nhìn chăm chú vào dòng biểu tượng cột sóng đang nhấp nháy tìm kiếm tín hiệu ở góc trên màn hình. Ở gần đó hắn, Ciel cũng đã đón lấy chiếc máy thứ hai từ tay Riku, cô bật nguồn lên và mở thẳng vào phần bảng điều khiển hệ thống để kiểm tra các thông số kỹ thuật.
Một khắc đồng hồ chậm rãi trôi qua trong sự im lặng chờ đợi của tất cả mọi người.
Có điều cả hai chiếc GPS cầm tay vẫn cứ đứng im lìm ở giao diện màn hình chờ với dòng chữ thông báo đang dò tìm tín hiệu vệ tinh nhấp nháy liên hồi, chẳng hiện lên một con số kinh độ, vĩ độ hay đường nét bản đồ nào cả.
Thấy để ở trong nhà có mái ngói che khuất có vẻ không ổn, Nam liền cầm chiếc máy trên tay mình bước hẳn ra giữa khoảng sân gạch trống trải không có bóng cây che chắn, giơ cao chiếc ăng-ten hướng thẳng lên bầu trời thu trong vắt suốt một hồi lâu rồi mới đi vào đặt máy xuống cạnh chiếc của Ciel trên bàn.
Kết quả hiển thị trên cả hai màn hình vẫn giống hệt như đúc từ một khuôn: con số tọa độ trống rỗng.
Nam hơi nhíu mày nhìn cái màn hình xám ngoét, gõ nhẹ ngón tay lên mặt bàn bảo mọi người:
“Chắc mới khởi động lần đầu nên nó dò hơi lâu đấy, cứ để yên chờ thêm một lát nữa xem sao.”
Ciel cúi nhìn trạng thái báo lỗi kết nối trên màn hình máy mà chẳng lên tiếng phản bác lại lời của Nam, tuy nhiên bàn tay cô đã lặng lẽ rút một mảnh giấy nháp cùng cây bút chì trong túi tạp dề ra để ghi chú lại chính xác thời điểm bắt đầu bật máy thử nghiệm.
Mina từ dưới bếp bưng một khay nước trà ấm lên đặt xuống bàn, cô nhìn hai cái máy nhựa màu đen đang nằm im lìm rồi hỏi Nam:
“Anh bảo ngồi chờ thêm một lát là cụ thể định chờ tới bao giờ mới xong?”
Nam không trả lời câu hỏi của Mina ngay mà ngước mắt nhìn qua khung cửa chính ra khoảng sân ngập nắng bên ngoài. Đúng lúc ấy, một đám mây trắng xốp khá lớn trôi ngang qua bầu trời thành Thanh Hà, che khuất đi gần hết ánh nắng vàng trên mặt sân gạch. Nam nhìn đám mây trên trời rồi lại cúi xuống nhìn chiếc máy trên bàn, giọng hắn khi cất lên đã nhỏ hơn lúc mới cầm máy khá nhiều:
“Xem chừng nguyên nhân nó không hiện số chẳng phải tại chuyện trời nắng hay trời râm đâu.”
Để kiểm chứng dứt điểm nghi vấn vừa nảy lên trong đầu, Nam nhìn lại dòng thông báo của hệ thống một lần nữa rồi khẽ đọc khẩu lệnh mở giao diện tra cứu:
“Wikia.”
Trang thông tin chi tiết về mẫu GPS GPS cầm tay tức thì hiển thị rõ nét trước mắt hắn. Tất cả những dòng mô tả kỹ thuật hiện lên đều phản ánh đúng bản chất vận hành nguyên bản của món đồ ở thế giới hiện đại: đây là công cụ thu nhận sóng vô tuyến từ hệ thống tối thiểu bốn vệ tinh nhân tạo bay trên quỹ đạo Trái Đất để tính toán tọa độ ba chiều, hỗ trợ dẫn đường, đánh dấu lộ trình và đo vận tốc di chuyển tùy theo tính năng được cài đặt sẵn trong phần mềm.
Đọc mới được một nửa trang đầu tiên, Nam đã phất tay tắt phụt giao diện Wikia đi mà chẳng cần phải xem thêm dòng nào nữa.
Bản thân hắn lúc này đã hiểu quá rõ vấn đề cốt lõi nằm ở đâu, Ciel đang đứng kiểm tra bảng mạch sát bên tất nhiên cũng đã nắm thóp được nguyên nhân, và ngay cả một người mới tiếp xúc như Riku khi quan sát nét mặt trầm xuống của hai người họ cũng đoán ra ngay là có trục trặc.
Riku chỉ nhẹ vào màn hình vẫn đang nhấp nháy trên mặt bàn, lên tiếng hỏi:
“Hai chiếc máy dẫn đường này gặp vấn đề gì không ổn hả anh?”
Nam cầm một chiếc máy GPS giơ lên ngang tầm mắt cho mọi người cùng nhìn, thở dài giải thích ngắn gọn:
“Muốn cái máy này chỉ đường được thì ở tít trên bầu trời kia bắt buộc phải có một hệ thống vệ tinh nhân tạo bay vòng quanh để phát tín hiệu xuống cho nó.”
Riku nhìn chiếc ăng-ten ngắn ngủn trên đầu máy rồi lại ngước nhìn ra khoảng trời xanh bên ngoài cửa sổ:
“Mà ở trên bầu trời của thế giới Đại Càn này thì làm gì có hệ thống vệ tinh đó phải không?”
“Ừ, ít nhất là trên đầu chúng ta hiện giờ chẳng tồn tại cái mạng lưới vệ tinh phát ra đúng tần số mà chiếc máy này được lập trình để lắng nghe.”
Đứng ở bên cạnh, Ciel đặt thiết bị thứ hai xuống mặt bàn và bổ sung thêm một nhận định chuẩn xác dưới góc nhìn khoa học:
“Thậm chí cứ cho là ở tít trên tầng không gian cao nhất của thế giới Đại Càn này có tồn tại những thực thể hoặc công trình cổ xưa nào đó đang bay lơ lửng đi chăng nữa, thì cũng chẳng có một lý do gì để những thứ đó tự dưng lại phát ra đúng dải sóng vô tuyến, đúng cấu trúc mã hóa thời gian và đúng hệ quy chiếu tọa độ của Trái Đất mà chiếc GPS này đang chờ nhận cả.”
Nam cúi mắt nhìn xuống màn hình tinh thể lỏng vẫn đang cần mẫn hiện dòng chữ dò tìm vị trí trong vô vọng, hắn buông một tiếng cảm thán ngắn ngủn:
“Vậy tức là...”
Ciel tán thành chốt hạ không chút ngập ngừng:
“Chức năng định vị tọa độ của cả hai chiếc máy này chẳng thể hoạt động được ở đây.”
Nghe câu kết luận chính thức từ miệng người am hiểu kỹ thuật nhất xưởng, Nam liền thò ngón tay ấn giữ nút nguồn để tắt phụt màn hình của chiếc máy trước mặt mình đi, miệng buông một chữ nghe đầy vẻ chua chát:
“Hay thật đấy.”
Mina đứng khoanh tay kế bên bàn trà, nhìn hai cục nhựa màu đen xám mới tắt ngóm màn hình rồi hỏi lại:
“Nói tóm lại là hai món đồ mới quay ra của tháng này vô dụng phải không?”
Nam chỉ tay vào chiếc máy trên bàn, sửa lại cho chuẩn xác mức độ:
“Gần như là vô dụng thôi.”
Đúng lúc bầu không khí quanh bàn trà đang chìm trong sự tiếc nuối nhẹ cho một lượt quay thưởng đầu tháng thì Riku đứng ở cạnh bỗng dưng phì cười.
Nam liền ngoảnh phắt đầu sang nhìn Riku, nhướng mày hỏi:
“Món đồ dẫn đường mới nhận không dùng được đang buồn thúi ruột đây mà cậu lại đứng cười cái gì?”
Riku vừa cười vừa chỉ tay vào chiếc máy GPS nằm trên bàn, nhắc lại câu chuyện của đúng một tuần trước:
“Tôi cười là bởi vì tôi nhớ hồi cuối tháng trước lúc nằm ngoài hiên, chính miệng anh từng tuyên bố rằng nếu sang tháng này mà cái hệ thống kia lại quay ra la bàn định vị hay đồ dẫn đường đi rừng nữa thì anh sẽ khẳng định chắc chắn là nó có âm mưu đuổi anh ra khỏi nhà còn gì.”
Câu nhắc bài khá đúng lúc của Riku làm Nam sững người nhớ lại lời thề thốt của chính mình dưới gốc cây hòe tháng trước. Hắn cúi đầu nhìn trân trối vào chiếc GPS đang nằm im lìm trên mặt bàn gỗ, sau vài khoảnh khắc suy tính liền gật gù tự an ủi bản thân:
“Ờ nhỉ, cậu nhắc tôi mới nhớ đấy. Xem ra ít nhất thì trong lần mưu đồ tống cổ tôi đi leo núi tháng này, cái hệ thống đó đã thất bại thảm hại vì quên mất chuyện Đại Càn không có vệ tinh rồi.”
Ngặt nỗi niềm vui thắng cuộc kỳ quặc ấy của Nam còn chưa kịp kéo dài được bao lâu thì Ciel ở gần đó đã lại bật nguồn chiếc máy thứ hai lên và bấm mở vào danh mục cài đặt bên trong:
“Nói nó thất bại hay vô dụng hẳn thì cũng chưa chắc đâu anh Nam.”
Nam vừa nghe thấy giọng điệu như mọi khi ấy của Ciel liền quay sang giơ tay chặn trước:
“Này nhé, bà làm ơn đừng có bắt đầu nữa.”
Ciel trọn vẹn phớt lờ lời can ngăn của hắn, cô chỉ đầu ngón tay nhỏ nhắn vào góc dưới màn hình tinh thể lỏng:
“Bộ đếm xung nhịp thời gian và đồng hồ điện tử nội bộ bên trong máy vẫn đang chạy cực kỳ chính xác đây này.”
“Đồng hồ để xem giờ giấc sinh hoạt thì ở trong xưởng mình đã có sẵn rồi, đâu thiếu tới mức phải nhìn vào cái cục nhựa này.”
“Nhưng cấu trúc vi mạch thu phát sóng tần số cao và một số linh kiện phần cứng bên trong lớp vỏ chống nước này vẫn có giá trị rất lớn để đem ra nghiên cứu nguyên lý chế tạo mà.”
Nam đưa một bàn tay lên ôm trán:
“Dưới gian xưởng kỹ thuật của bà hiện giờ đã chất đầy cả núi đồ đạc để nghiên cứu rồi còn chưa đủ hay sao?”
“Những thiết bị cơ khí và quang học đợt trước cấu tạo khác hẳn, đâu có giống với mạch thu tín hiệu vệ tinh của chiếc máy này đâu.”
Biết thừa là không thể nào thắng nổi niềm đam mê khoa học bất tận của Ciel, Nam đành phải đưa hai tay lên xoa mặt một cái rồi hỏi thẳng vào giá trị sử dụng thực tế:
“Thôi được rồi, thế tóm lại là ở thời điểm hiện tại, ngoài cái tác dụng dùng để xem giờ ra thì trong cái máy này còn có chức năng nào đem ra dùng ngay được nữa không?”
Ciel cẩn thận bấm các nút cao su lướt qua trọn các mục tính năng được cài đặt sẵn trên màn hình của thiết bị. Bộ đếm thời gian hành trình và lịch vạn niên vẫn nhảy số đều đặn, song hết thảy các trang giao diện dùng để hiển thị bản đồ đường đi, đánh dấu điểm mốc và la bàn vệ tinh đều trống trơn vì thiếu dữ liệu đầu vào.
Sau khi kiểm tra kỹ lưỡng từng mục một, Ciel mới ngước lên trả lời một cách khá trung thực:
“Đối với dòng máy chuyên dụng thu sóng này, khi không bắt được tín hiệu vệ tinh tương thích từ trên quỹ đạo thì cả các chức năng dẫn đường và chấm tọa độ của nó đều bị khóa cứng không sử dụng được. Còn những tính năng phụ trợ khác có tận dụng được vào việc gì hay không thì tôi phải mang về xưởng kiểm tra riêng từng phần mới kết luận được.”
Nam cúi xuống nhìn hai con số chỉ giờ và phút đang nhấp nháy vốn vẫn chạy theo múi giờ chuẩn của thế giới cũ chứ chưa được chỉnh lại theo cách tính canh giờ của Đại Càn, hắn thở hắt ra tổng kết:
“Vậy tức là tính đến giờ phút này, tác dụng duy nhất của màn hình là giúp chúng ta biết được viên pin ở bên trong máy vẫn còn điện.”
“Về cơ bản là đúng như vậy.”
Nói xong, Ciel liền tắt nguồn cả cả hai máy GPS, cẩn thận xếp chúng vào trong một chiếc hộp nhựa bảo quản thiết bị điện tử, dùng bút ghi chú rõ ngày giờ và tình trạng thử nghiệm lên mảnh nhãn giấy dán ngoài vỏ hộp rồi đóng kín nắp lại. Trước khi bưng chiếc hộp về xưởng, cô vẫn không quên bảo vệ quan điểm của mình thêm một câu:
“Dù chưa dùng để đi đường được ngay nhưng phần cứng nguyên bản của nó vẫn giữ làm mẫu vật đối chiếu kỹ thuật rất tốt đấy.”
Nam đứng nhìn chiếc hộp nhựa trên tay Ciel, buông lời châm chọc nhẹ nhàng:
“Với cái tính cách của bà thì đến một cái thìa múc canh bằng sắt bà cũng có thể gọi nó là mẫu vật đối chiếu tiêu chuẩn về hình học của dụng cụ ăn uống được chứ nói gì tới cái máy này.”
Ciel ôm chiếc hộp nhựa đứng suy nghĩ một cách thật nghiêm túc mất vài khoảnh khắc về câu nói của Nam, sau đó cô ngước mắt lên và xác nhận:
“Anh nói đúng đấy, độ cong của lòng thìa vẫn có thể dùng làm mẫu đối chiếu hình học được.”
Nam ngay giơ cả hai bàn tay lên trời làm động tác đầu hàng vô điều kiện:
“Thôi tôi xin rút lại câu ví dụ vừa rồi, coi như tôi chưa nói gì hết nhé.”
Thấy Nam lại một lần nữa chịu thua trước sự nghiêm túc của Ciel, Riku đứng cạnh bàn trà cười khẽ sảng khoái. Và tất nhiên, với kết quả kiểm nghiệm thực tế ấy, trong chuyến khảo sát cắt ngang vùng núi phía bắc xuất phát vào ngày mùng tám tới đây, tất cả đội hình vẫn sẽ tiếp tục sử dụng những tấm bản đồ vẽ trên giấy bản cùng đôi chân và kinh nghiệm hỏi đường của những Triệu Khải địa phương.
Sau khi Ciel đã mang chiếc hộp đựng hai GPS về cất bên xưởng cơ khí và Mina cũng đã bưng rổ rau cải nhặt xong xuống dưới bếp, Riku vẫn còn ngồi nán lại bên chiếc bàn gỗ trong sảnh chính thêm một lúc.
Riku đưa mắt nhìn theo hướng khu xưởng kỹ thuật phía đông rồi quay sang trò chuyện với Nam:
“Thực ra ở thế giới cũ của tôi trước kia, những thiết bị dùng để định vị tọa độ và dẫn đường đi xuyên qua các vùng không gian xa lạ cũng không phải là thứ gì hiếm lạ.”
Nam vừa rót thêm một chén trà ấm cho mình vừa nhìn sang hỏi Riku:
“Ở bên chỗ của cậu người ta cũng lắp đặt hệ thống định vị GPS giống như hai cái máy vừa rồi à?”
Riku đón lấy chén trà, khẽ lắc đầu đáp:
“Nguyên lý vận hành và hình dáng thì không giống kiểu máy thu vệ tinh này của anh, nhưng chuyện một thiết bị dẫn đường khi bị đem sang một thế giới khác lại không thể hoạt động được như cũ là điều rất hợp lý.”
Nam nhấp một ngụm trà nóng, ghi nhận đồng tình với góc nhìn từng trải của Riku.
Một món đồ công nghệ hiện đại không thể nào chỉ vì đi qua quầng sáng triệu hồi của cỗ máy Gacha mà tự dưng biến đổi bản chất thành một món pháp bảo ma thuật vạn năng bất chấp quy luật vật lý được. Một thiết bị điện tử vốn được chế tạo để vận hành dựa trên mạng lưới kỹ thuật đồng bộ thì dù có rơi xuống thế giới nào đi chăng nữa, nó vẫn bắt buộc phải đòi hỏi đúng phần hạ tầng tương ứng đó mới làm việc được. Khi trên bầu trời Đại Càn chẳng có lấy một quả vệ tinh nhân tạo nào bay qua để phát sóng, hai chiếc máy GPS tối tân kia rốt cuộc cũng chẳng tài nào biết được cái khu xưởng này đang nằm ở góc nào của vũ trụ.
Hiểu rõ giới hạn khách quan đó nên bản thân Ciel cũng chỉ cất giữ nguyên vẹn lớp vỏ máy trong hộp chống ẩm chứ chưa từng có ý định tháo tung ốc vít ra để cải tạo bừa bãi khi chưa có nhu cầu thực tế.
Đến khoảng chập tối ngày hôm đó, hai anh em quản sự mới đánh xe ngựa từ trong nội thành Thanh Hà quay trở về tới xưởng, và trên tay Hứa An lúc bước vào sảnh chính quả thực có xách theo hai gói trà mạn mới tinh thơm phức mua từ quán của Lưu chưởng quầy.
Nhìn thấy hai gói trà thật được bọc giấy bản vuông vức đặt ngay ngắn lên mặt bàn, trong lòng Nam tự dưng cảm thấy hơi áy náy có lỗi với hai đứa nhỏ vì cái cớ bịa đại lúc sáng của mình. Tất nhiên là cảm giác có lỗi ấy trong bụng hắn cũng chỉ thoáng qua một chút xíu mà thôi.
Sau khi đặt gói trà mới sang một bên, ánh mắt Hứa An chú ý tới hai chiếc máy bằng nhựa màu đen xám mà Ciel vừa kịp mang trở lại đặt trên bàn trà để viết nốt phiếu nhập kho. Hứa An nhìn hình dáng lạ lẫm của món đồ mới rồi quay sang hỏi Nam:
“Hai chiếc máy màu đen mới xuất hiện trên bàn này là dụng cụ dùng vào việc gì thế hả Nam huynh?”
Nam ngồi tựa lưng vào ghế, trả lời bằng một câu định nghĩa không thể chuẩn xác hơn:
“Đó là hai chiếc máy chuyên dùng để chỉ đường nhưng hiện tại lại không chỉ được đường nào cả.”
Hứa An nghe câu giải thích đầy mâu thuẫn của Nam thì đứng ngẩn người ra nhìn hắn mất vài khoảnh khắc:
“Máy chỉ đường mà lại không chỉ được đường, vậy thì giữ nó ở lại dùng để làm cái gì mới được ạ?”
Nam không tự trả lời câu hỏi hóc búa ấy mà giơ ngón tay chỉ thẳng sang phía Ciel đang đứng ghi sổ ở góc bàn bên kia:
“Chuyện đó thì đệ phải hỏi Ciel ấy, vừa nãy bà ấy bảo là giữ lại để làm mẫu vật nghiên cứu khoa học.”
Hứa An liền chuyển ánh mắt sang nhìn Ciel để chờ một lời giải thích rõ ràng hơn. Ciel đặt cây bút xuống bàn, điềm tĩnh tóm tắt lại tình trạng kỹ thuật cho người quản lý hậu cần nắm được:
“Hai thiết bị này muốn hiển thị được bản đồ dẫn đường thì cần phải có tín hiệu phụ trợ từ trên không trung mà ở Đại Càn hiện chưa đáp ứng được, nên trước mắt chức năng định vị chính của nó chưa thể đem ra sử dụng ngay.”
Nghe xong lời giải thích ngắn gọn của Ciel, Hứa An tức thì hỏi ngay câu quan trọng nhất liên quan đến phần việc của mình:
“Vậy trong chuyến đi cắt ngang vùng núi phía bắc vào ngày mùng tám tới đây, đoàn mình có cần phải đóng gói mang theo hai chiếc máy này lên núi không ạ?”
Nam không cần suy nghĩ lấy nửa khắc đã phất tay đáp:
“Không mang đi đâu hết.”
Ciel đứng kế bên cũng xác nhận đồng thời:
“Đúng vậy, mang theo chỉ tổ nặng thêm hành lý chứ không cần thiết đâu.”
Hứa An gật đầu ghi nhận ngay quyết định thống nhất của cả hai người và gạch bỏ luôn việc lập danh mục xuất kho đi rừng cho món đồ mới.
Ở trong xưởng, mọi quy chuẩn hậu cần đều dựa hẳn trên hiệu quả thực tiễn ngoài hiện trường hơn là mang theo một thiết bị chỉ để tạo cảm giác yên tâm giả tạo.
Đúng lúc Hứa An vừa cất sổ xong thì A Thạch sau khi cho Đại Hoàng ăn cỏ ngoài chuồng ngựa cũng vừa tò mò chạy vào sảnh chính. Nghe loáng thoáng thấy câu chuyện máy chỉ đường bị hỏng chức năng, cậu nhóc liền sà tới bên bàn, mở to mắt nhìn hai cục nhựa đen xám rồi hỏi Nam:
“Cái máy nhìn hầm hố thế này mà không biết chỉ đường thật hả Nam ca?”
Nam không giải thích bằng lời mà trực tiếp cầm một chiếc máy GPS đã bật sẵn nguồn trên bàn đưa tận tay cho A Thạch:
“Đệ không tin thì cứ việc tự cầm lấy mà bấm thử xem.”
A Thạch hai tay đón lấy chiếc máy nhựa lành lạnh, nhìn hai hàng nút cao su với màn hình sáng đèn mà ngơ ngác hỏi lại:
“Cầm rồi nhưng mà phải bấm làm sao cho nó chạy bây giờ hả ca?”
Nam chỉ tay vào cái màn hình đang nhấp nháy dòng chữ tìm kiếm vệ tinh trống rỗng, gật gù nói:
“Thì đấy, nó đang chạy hết công suất rồi đấy.”
A Thạch cúi sát mặt xuống nhìn cái màn hình trống trơn, chớp mắt hỏi:
“Đấy là đấy cái gì cơ ạ? Trên mặt kính này ngoài mấy cái vạch nhấp nháy ra thì đệ có thấy nó vẽ con đường nào đâu?”
“Thì chính xác là nó chỉ làm được có thế thôi đấy.”
A Thạch bán tín bán nghi thử lấy ngón tay cái ấn đại vào một nút mũi tên bằng cao su ở hàng dưới. Màn hình tinh thể lỏng kêu tít một tiếng nhỏ rồi liền hiện lên một khung thông báo báo lỗi chưa xác định được vị trí hiện tại.
Nhìn dòng thông báo vô tác dụng ấy một lúc, A Thạch liền đặt chiếc máy trả lại lên mặt bàn gỗ, ngước mắt nhìn Nam với vẻ mặt đắc ý và tuyên bố:
“Nếu cái máy dẫn đường này mà chỉ làm được có bấy nhiêu thôi, thế thì xét về khoản tìm đường đi lại bây giờ đệ vẫn còn giỏi hơn nó chán!”
Nam nghe câu tự khen mình của cậu nhóc chạy việc thì vừa định mở miệng ra phản bác lại theo thói quen, nhưng nghĩ đi nghĩ lại một thoáng thì hắn đành phải ngậm miệng lại.
Bởi vì nếu chỉ tính riêng trong phạm vi đường sá quanh thành Thanh Hà và các vùng phụ cận hiện tại, lời khẳng định của A Thạch quả thực là sự thật không thể chối cãi. Đôi chân chạy việc của A Thạch chẳng cần tới vệ tinh nhân tạo trên trời, không cần nạp pin từ E-Crystal và cũng chẳng cần sóng vô tuyến gì sất. Chút con hẻm hay thôn xóm nào quanh huyện thành này, cậu nhóc chỉ cần từng tự mình đánh ngựa đi qua đúng một lần hoặc đứng nghe các bậc lão thành chỉ đường đủ rõ là có thể tìm tới tận cửa.
Nhưng, để tránh cho cậu đệ trẻ tuổi sinh lòng kiêu ngạo, Nam vẫn giữ vẻ mặt nghiêm nghị nhắc nhở một câu:
“So thắng được một cái máy đang mất tín hiệu thì cũng chẳng có gì vẻ vang đâu, cậu không được phép lấy thế làm tự mãn đấy nhé.”
A Thạch gãi đầu cười toe toét đáp:
“Đệ có dám tự mãn gì đâu ca, đệ chỉ đang nhận xét đúng sự thật khách quan trước mắt thôi mà.”
Nhưng nụ cười đắc thắng trên môi cậu nhóc còn chưa kịp tắt thì Hứa An đang đứng xếp lại giấy tờ ở ngay kế bên đã thản nhiên nhắc nhẹ:
“Giỏi tìm đường hơn máy móc mà sao mới chiều hôm kia đệ vẫn còn mang gói hàng mẫu của xưởng giao nhầm sang tận ngõ phía đông cách nhà khách hàng hai con phố thế hả A Thạch?”
Bị Hứa An khui ngay vết nhơ nghề nghiệp mới tinh ra trước mặt cả nhà, A Thạch ngay nhảy dựng lên phân bua:
“Vụ hôm kia là tại kiến trúc nhà của hai ông chủ đó xây giống hệt nhau nên đệ mới nhìn lầm chứ bộ!”
Hứa An chẳng ngẩng đầu lên, điềm tĩnh bác bỏ từng ý một:
“Nhà của hai người đó một bên xây gạch xanh, một bên quét vôi trắng, chẳng có điểm nào giống nhau cả.”
“Tường khác màu nhưng mà cái cổng gỗ lim sơn đen của hai nhà nhìn giống nhau như đúc mà huynh!”
“Cổng gỗ sơn giống nhau nhưng tấm biển gỗ khắc tên chủ hộ treo ngay phía trên cổng của hai nhà viết hai chữ khác hẳn hẳn nhau.”
A Thạch đuối lý đành lí nhí thú nhận câu cuối cùng:
“Thì... lúc đó trời sắp tối nên đệ chỉ nhìn mỗi cái cổng quen quen rồi gõ cửa luôn chứ quên không ngước lên nhìn tấm biển tên.”
Hứa An khẽ ưng thuận chốt lại đúng một từ ngắn gọn giống hệt phong cách của Nam lúc nãy:
“Thì đấy.”
Chứng kiến màn đối đáp gọn gàng làm A Thạch xẹp lép như con gián của Hứa An, Nam ngồi trên ghế phì cười.
Tính ra thế giới này vận hành cũng rất công bằng và cân bằng: ở đất Thanh Hà này, hai chiếc GPS hiện đại phải chịu thua đôi chân nhớ đường của A Thạch, nhưng bản thân cậu nhóc thì lại bó tay trước một tấm biển gỗ treo trên cổng.
Sáng sớm ngày mùng tám đầu tháng, đội hình khảo sát tuyến núi phía bắc chính thức tập trung xuất phát theo đúng lịch hẹn.
Đúng như quyết định đã thống nhất từ mấy hôm trước, cả hai chiếc GPS cầm tay đều được để lại nguyên vẹn trong tủ đồ điện của xưởng Tây Sơn, và bản thân Nam cảm thấy hài lòng về sự sắp xếp gọn gàng này.
Hành trang dẫn đường mà cả đoàn bảy người mang theo bên mình vẫn là những thứ vô cùng thực tế: những tấm bản đồ vẽ tay trên giấy bản dày, chiếc la bàn kim nam châm truyền thống của bản địa, cuốn sổ ghi chép dấu vết địa hình tích lũy qua nhiều chuyến đi của Triệu Khải cùng vốn kinh nghiệm đi rừng dày dạn của hai môn đồ phía Lạc Hà. Sát bên đó là những trang thiết bị hỗ trợ thường ngày của nhà Tây Sơn như sáu chiếc bộ đàm cầm tay dùng để liên lạc trong phạm vi địa hình cho phép, đèn đội đầu sạc điện, áo mưa vải dù, hộp sơ cứu y tế màu đỏ, tám cuộn túi ngủ dã ngoại và cơ số đồ ăn đóng hộp dự phòng.
Tất cả đều là những vật dụng bình thường, giản dị nhưng lại chính xác là những thứ mà một chuyến đi rừng thực thụ cần phải có.
Vì trong chiến dịch khảo sát mở rộng tháng này Harpe ở lại hậu phương để trực tổng hợp bản đồ chung, nên trước giờ toàn đội bước ra khỏi cổng xưởng, anh đã chủ động gọi riêng Riku lại bên chiếc bàn gỗ trải sẵn sơ đồ ở gian cổng để dặn dò kỹ phương pháp thu thập thông tin.
Harpe đặt ngón tay lên trục đường dự kiến trên mặt giấy, ngước nhìn Riku và hỏi:
“Trong lúc di chuyển liên tục dưới tán cây rừng không nhìn thấy mặt trời, khả năng ước lượng và ghi nhớ phương hướng tương đối của cậu có tốt không?”
Riku nhìn sơ đồ rồi đáp:
“Tôi nhớ phương hướng tương đối khá ổn.”
“Vậy thì tốt. Dọc đường đi cậu không cần phải bận tâm ghi nhớ tất cả mọi chi tiết vụn vặt về chủng loại cây cỏ làm gì. Mỗi một lần đoàn phát hiện có lối mòn của thú rừng đổi hướng bất thường, cậu chỉ cần tập trung xác định và ghi lại thật chuẩn xác xem nhánh đường mới của chúng đang bẻ về hướng nào so với trục đường cắt ngang mà đoàn mình đang đi là được.”
Riku cúi mắt nhìn kỹ các đường kẻ chia khu vực trên tấm bản đồ tổng của Harpe, cậu hiểu ra ý đồ của người làm tham mưu:
“Anh muốn có góc lệch tương đối chuẩn xác để lúc về ghép nối dữ liệu của đội tôi với báo cáo của ba nhóm khảo sát khác bên Lạc Hà phải không?”
“Ừ, chính xác là để phục vụ cho việc ghép bản đồ tổng thể đấy.”
Đứng kiểm tra lại bao đao ở ngay kế bên bàn, Triệu Khải nghe thấy thế liền vỗ ngực nhận phần việc vốn có của mình:
“Còn cái phần nhìn vết móng trên đất để phân biệt xem đó là giống thú gì, đi qua từ bao giờ thì cứ để một tay ta lo cho.”
Harpe đồng tình tán thành, anh giải thích rõ sự phân vai giữa hai người:
“Trong báo cáo gửi về lần này tôi cần tách bạch hai lớp thông tin khác nhau. Anh Triệu Khải phụ trách xác định chủng loại thú, quy mô đàn và thời điểm để lại dấu vết. Còn Riku thì độc lập ghi nhận hướng bẻ góc của con đường đó so với lộ trình của đoàn.”
Tạ Vân đang đứng buộc lại dây túi bên hông nghe vậy cũng chủ động lên tiếng nhận phần chuyên môn của mình:
“Còn những biến động bất thường về mật độ linh khí dọc theo các sườn núi thì để tự tay ta ghi chép.”
Harpe chuyển ánh mắt sang nhìn Zero đang đứng trầm mặc cạnh cột hiên, chỉ nói ngắn gọn hai chữ:
“Phần kết cấu địa hình.”
Zero khẽ tán thành nhận nhiệm vụ mà không cần nói thêm lời nào.
Cuối cùng, Harpe quay sang nhìn người còn lại trong đội hình là Soma. Soma thấy ánh mắt Harpe dừng lại trên người mình thì nhướng mày hỏi:
“Thế phần của tôi trong chuyến này thì phải ghi chép cái gì đây?”
Harpe đáp lại rất rõ ràng:
“Anh chỉ cần đánh dấu lại toàn bộ những đoạn đường nào mà bản thân anh bắt buộc phải sử dụng tới năng lực Soul trong ấn ký để vượt qua chướng ngại địa hình, hoặc những vị trí khuất tầm nhìn mà người bình thường không thể tự kiểm tra bằng mắt được.”
Soma ngẫm nghĩ một thoáng về yêu cầu đó rồi gật đầu đồng ý:
“Được, dọc đường đi tôi sẽ lưu ý ghi nhớ những điểm đó.”
Đứng uống trà ở bậc thềm phía sau lưng mọi người, Nam lặng lẽ quan sát cách Harpe điều phối công việc trước giờ xuất phát mà trong lòng thầm gật gù tán thưởng.
Cùng là một chuyến đi bộ băng qua vùng rừng núi phía bắc, thế nhưng dưới sự tổ chức khoa học của Harpe, năm con người với năm hệ kỹ năng khác biệt hẳn đã được phân công thu thập năm tầng dữ liệu độc lập mà chẳng ai bị giẫm chân lên phần việc của ai. Ở cái xưởng mình này, không một ai phải cố gắng gồng mình lên giả vờ rằng bản thân mình thông thạo tất cả mọi thứ trên đời cả.
Khi việc phân công đã hoàn tất, Tạ Vân liền cuộn tấm bản đồ hành quân lại cất vào ống trúc bên hông rồi phất tay ra hiệu bằng đúng một chữ gọn gàng:
“Lên đường thôi.”
Chẳng có một bài diễn văn khích lệ tinh thần nào được đọc lên. Trọn đội hình bảy người lặng lẽ sải bước rời khỏi cánh cổng gỗ của khu xưởng khi lớp sương mù buổi sớm vẫn còn giăng trắng xóa trên những thửa ruộng bậc thang dưới chân đồi.
Mục tiêu hành quân trong tuần lễ đầu tiên của đội hình khi viết ra trên mặt giấy thì trông có vẻ hết sức đơn giản.
Toàn đội sẽ đi men theo trục đường cũ từ nam lên bắc cho tới khi chạm tới mốc tọa độ đã được xác nhận an toàn ở chuyến đi tháng trước, sau đó sẽ lập tức bẻ góc rẽ ngang sang hướng đông, cắt xuyên qua các dải sườn núi để ghi nhận hết thảy những lối mòn thú rừng mà họ bắt gặp trên đường. Nguyên tắc an toàn được Tạ Vân quán triệt rất rõ: đi tới đâu nếu gặp địa hình vực sâu hay vách đá dựng đứng không cho phép đi tiếp thì tức thì quay đầu tìm lối vòng chứ quyết không cố chấp ép tuyến.
Ngày hành quân đầu tiên trôi qua gần như chỉ thuần túy là việc di chuyển nhanh trên những con đường mòn đã thuộc lòng.
Phải đến khoảng giữa trưa ngày thứ hai, khi cả đoàn đã đặt chân tới khu vực thung lũng từng dừng lại ở chuyến trước và bắt đầu rẽ ngang sang hướng đông, tính chất của cuộc hành trình mới thực sự thay đổi hẳn.
Khi bắt đầu đi cắt ngang qua các sườn đồi chưa có dấu chân người, Triệu Khải liền tiến lên giữ mũi nhọn mở đường cùng với một môn đồ thông thạo đường núi của phía Lạc Hà. Riku di chuyển ở trung tâm hàng quân để tiện quan sát phương hướng bốn phía, trong khi Soma và Zero chủ động giãn khoảng cách chia nhau bọc lót ở hai nửa đầu và cuối đoàn, đảm bảo rằng nếu chẳng may cả nhóm bị sạt lở bất ngờ chia cắt làm đôi thì hai người có sức chiến đấu mạnh nhất của khu xưởng sẽ không bao giờ bị kẹt ở cùng một phía.
Xuyên suốt cả buổi chiều hôm đó, Tạ Vân hầu như không cần phải mở miệng ra lệnh điều chỉnh đội hình lấy một lần nào, bởi sau nhiều chuyến đi thực địa cùng nhau, các thành viên trong nhóm đã phối hợp ăn ý như một cỗ máy được tra dầu trơn tru.
Dẫu vậy, thực tế hiện trường nhanh chóng cho thấy hành trình cắt ngang qua các sườn núi khó khăn và tốn sức hơn lúc đi dọc theo thung lũng gấp nhiều lần.
Khi đi theo chiều ngang vuông góc với dòng chảy của khe suối, chẳng có một trục lối mòn lớn nào của thú rừng để đoàn người có thể bám theo đi xuyên suốt cả buổi. Có những đoạn cả đội phải lội vòng xuống tận dưới chân đồi ẩm ướt chỉ để kiểm tra mấy vệt móng chân cũ in trên lớp đất bùn, lại có những đoạn phải dùng dao phát quang chui qua những vạt rừng cây bụi thấp mọc đan chéo vào nhau dày đặc như bức tường gai.
Vào khoảng xế chiều ngày thứ hai, nhóm thực địa gặp phải một dải đá tảng xếp chồng chênh vênh chắn ngang sườn đồi có bề rộng chỉ nhỉnh hơn một trượng.
Xét về mặt bản lĩnh cá nhân, một ai trong đội hình bảy người hiện tại cũng đều có thể dễ dàng phóng người nhảy vọt qua khoảng trống rộng hơn một trượng ấy chỉ bằng một cú bật chân hoặc vận dụng thân pháp, kể cả hai môn đồ trẻ tuổi của bên Lạc Hà. Có điều vấn đề nằm ở chỗ những phiến đá xếp chồng kia vốn nằm rất lỏng lẻo, nếu có người dùng lực đạp mạnh để lấy đà bật nhảy, khối nham thạch rời bên trên vẫn có thể bị chấn động lăn ầm xuống khe đất hẹp ngay bên dưới, nơi đang lưu giữ nguyên vẹn một dải dấu chân thú rất rõ nét mà đoàn cần phải xuống đo đạc.
Vì muốn bảo vệ hiện trường dấu vết bên dưới không bị đá lăn phá hỏng, cả đoàn bảy người đã phải kiên nhẫn bỏ ra gần nửa canh giờ đồng hồ để dùng mũi gậy kiểm tra từng điểm đặt chân vững chắc nhất, đứng nối tay nhau chuyền từng chiếc túi đựng mẫu vật, từng hộp thiết bị qua khe đá rồi cẩn thận buộc dây đánh dấu một lối bước an toàn cho những nhóm khảo sát có thể đi theo sau.
Bản thân Zero với hệ thống cơ giới linh hoạt vẫn có thể lướt qua bãi đá trong chớp mắt, Riku dư sức nhảy vọt qua chỉ bằng một bước đệm, và Soma cũng sở hữu những linh hồn hỗ trợ bay lượn rất cơ động. Ở đây chẳng có một ai yếu ớt tới mức cần người khác phải cõng hay dìu qua vách đá cả, thứ duy nhất quyết không được phép đánh rơi hay làm hư hại chính là các tập sổ ghi chép, mẫu vật thu thập được và phần hậu cần chung của cả tập thể.
Chính vì lẽ đó, nhịp độ di chuyển của cả đội hình luôn được điều chỉnh xoay quanh chất lượng thu thập dữ liệu thực địa tại từng chặng đường.
Riku nhận ra nguyên tắc làm việc tập thể ấy từ rất sớm. Đến lần thứ hai trong ngày, khi cậu nhìn thấy Zero dù đã bước sang đứng vững chãi ở bờ đá phẳng bên kia khe cạn nhưng vẫn chủ động quay người lại, đưa tay đón lấy chiếc ba lô đựng hộp sơ cứu từ tay người môn đồ Lạc Hà đi phía sau để giúp anh ta giữ thăng bằng thay vì cứ thế đi tiếp một mình, Riku đã không còn cảm thấy bất ngờ chút nào nữa.
Một đội ngũ đi làm nhiệm vụ khảo sát giữa rừng sâu luôn đặt sự nguyên vẹn của thông tin và an toàn chung lên trên tốc độ cá nhân.
Dấu hiệu bất thường đầu tiên trên tuyến đường cắt ngang chính thức xuất hiện vào khoảng giữa buổi trưa ngày hành quân thứ ba.
Khi cả đoàn đang đi men theo rìa một vạt rừng cây bụi thấp chuyển tiếp sang vùng đất trũng, Triệu Khải đang đi ở đầu hàng chợt giơ ngang bàn tay lên và nói khẽ:
“Tất cả dừng chân, đừng bước tiếp vào bãi đất trước mặt.”
Cả sáu người đi phía sau ngay tản sang hai bên rìa đá khô theo đúng kỷ luật hiện trường, nhường khoảng trống ở giữa cho một mình Triệu Khải tiến lên ngồi xổm xuống sát mép đất mềm.
Trên bề mặt lớp bùn ẩm dưới bóng cây râm mát hiện lên chi chít những vết móng thú cỡ nhỏ. Mật độ dấu in dày đặc đan xen vào nhau, và độ khô ướt khác nhau của viền đất cho thấy rõ đây là kết quả của vô số lượt thú nhỏ qua lại chồng lên nhau thành từng tầng qua suốt tuần lễ.
Trong đó, tầng vết móng cũ nhất đã mờ vệt vẫn còn giữ nguyên hướng chạy gần như thẳng tắp theo trục bắc nam truyền thống. Ngặt nỗi tất cả những dấu chân mới in xuống trong khoảng vài ngày gần đây lại đồng loạt cắt chéo một góc rõ rệt, bẻ xiên hẳn về phía đông nam.
Tạ Vân đứng ở vòng ngoài nhìn xuống mặt đất, cất tiếng hỏi:
“Những lớp dấu chân mới bẻ hướng này đã in xuống đây được khoảng bao lâu rồi?”
Triệu Khải dùng đầu ngón tay đo thử độ cứng của bùn khô bên rìa vết lõm rồi đáp:
“Lớp mới nhất ở trên mặt thì mới chỉ khoảng hai ba ngày nay thôi, còn lớp nằm đè ở ngay bên dưới thì đã có từ khoảng một tuần lễ trước rồi ạ.”
“Trọn các lớp dấu vết mới và cũ này đều thuộc về cùng một loài thú nhỏ cả chứ?”
“Dạ phần lớn đều là của cùng một loài thú gặm nhấm ăn củ rừng quen thuộc ở vùng này.”
Đứng kế bên Tạ Vân, Riku rút cuốn sổ tay nhỏ và cây bút bi trong túi áo ra, ngước mắt xác định hướng mặt trời và địa hình xung quanh rồi cúi xuống ghi chép.
Hiện tại, lộ trình cắt ngang của đoàn họ đang di chuyển thẳng theo hướng từ tây sang đông. Trục đường mòn cũ của bầy thú nhỏ chạy theo chiều bắc nam vốn cắt gần như vuông góc với đường đi của đoàn, song những lớp dấu chân mới nhất lại đột ngột bẻ chéo sang hướng đông nam.
Dĩ nhiên, chỉ với một điểm giao cắt đơn lẻ như thế này thì chưa một ai trong đoàn vội vàng đưa ra kết luận. Sau khi Riku và người đệ tử ghi chép đã lưu lại đầy đủ thông số tọa độ ước lượng, cả đội lại tiếp tục lên đường tiến về phía đông.
Đến khoảng cuối buổi chiều cùng ngày hôm đó, điểm bất thường thứ hai lại xuất hiện trên một sườn đồi đất đỏ cách điểm thứ nhất gần hai canh giờ đi bộ.
Lần này dấu vết để lại trên mặt đất thuộc về một loài thú khác hẳn: một bầy thú móng guốc cỡ lớn. Vệt đường đi của chúng vốn xuất phát từ vùng rừng sâu phía bắc đi thẳng xuống, nhưng khi chạm tới khu vực sườn đồi ngang vĩ độ này thì cả đàn lại đột ngột ngoặt sang hướng đông.
Triệu Khải đi dọc theo vệt cỏ dại bị giẫm nát một đoạn dài, đứng nhìn rất lâu rồi mới quay lại. Riku đang cầm sổ ghi chép liền bước tới hỏi:
“Góc chuyển hướng của đàn thú móng guốc ở điểm này có tương đồng với hướng rẽ của bầy thú nhỏ lúc trưa không anh Triệu?”
Triệu Khải xác nhận:
“Gần như tương đồng đấy, chỉ lệch hơn về hướng chính đông một chút thôi.”
Riku quay sang nhìn hai môn đồ của Lạc Hà vừa đi trinh sát một vòng quanh sườn đồi phía tây trở về:
“Ở phía bên sườn tây hay phía nam của con dốc này có xuất hiện vách đá sạt lở hay vật cản tự nhiên nào ép chúng phải ngoặt sang hướng đông không?”
Người môn đồ trẻ lắc đầu đáp dứt khoát:
“Bọn tôi vừa kiểm tra kỹ cả hai bên sườn rồi, lối đi phía nam vẫn thông thoáng nguyên vẹn, chẳng thấy có bất kỳ chướng ngại vật nào cả.”
Trong lúc mọi người đang kiểm tra mặt đất, Tạ Vân đứng im lặng nhắm hờ mắt lại giữa sườn đồi lộng gió suốt một hồi lâu để vận dụng thần thức cảm nhận luồng khí lưu trong không gian. Khi mở mắt ra, cô trầm giọng thông báo kết quả phần việc của mình:
“Mật độ và tính chất linh khí tự nhiên ở khu vực này vẫn bình ổn, không có biến động lớn.”
Soma đang đứng tựa tay lên chuôi kiếm bên cạnh nghe vậy liền hỏi kỹ lại cách dùng từ của cô:
“Ý của Tạ trưởng lão là ở đây chẳng có biến động linh khí nào, hay là chưa cảm nhận thấy dấu hiệu khác thường?”
Tạ Vân nhìn Soma, trả lời một cách khá chuẩn xác và khách quan:
“Là bản thân ta ở thời điểm hiện tại không cảm nhận thấy sự biến động linh khí nào đủ lớn để có thể dùng nó giải thích cho việc đàn thú đột ngột đổi hướng như thế này.”
Đó chính xác là thái độ làm việc khoa học và trung thực mà cả đoàn đã thống nhất. Riku cúi đầu dùng bút bi ghi nguyên văn nhận định của Tạ Vân vào trang sổ của mình. Xuyên suốt cả buổi chiều hôm ấy, mặc dù đã bắt gặp hai điểm chuyển hướng liên tiếp của hai loài khác nhau, nhưng không một ai trong đoàn mở miệng nói ra những câu suy diễn kiểu như “chắc chắn chúng đang hoảng sợ bỏ chạy khỏi một con quái vật nào đó”.
Thời điểm để đưa ra giả thuyết vẫn chưa tới.
Bước sang ngày hành quân thứ tư, trên tuyến đường tiếp tục cắt ngang sang phía đông, đoàn khảo sát bất ngờ bắt gặp một vệt đường mòn thú rừng đi theo chiều hướng ngược hẳn lại với những gì họ vừa ghi nhận hôm qua.
Khi nhìn thấy những mũi móng chân thú in trên lớp đất ẩm bên bờ khe cạn đang hướng thẳng về phía tây bắc thay vì rẽ xuống phía nam hay phía đông, gương mặt rám nắng của Triệu Khải chẳng những không lộ vẻ bối rối mà trái lại còn tươi tỉnh hẳn lên như vừa bắt được của quý.
Riku đứng ở gần đó nhìn biểu cảm vui vẻ ra mặt của người dẫn đường thì lấy làm lạ, cậu nhướng mày hỏi:
“Phát hiện ra một bằng chứng đi ngược lại với quy luật của mấy ngày trước mà sao trông anh có vẻ vui thế anh Triệu?”
Triệu Khải vừa dùng cành cây khô đo khoảng cách bước chân trên đất vừa cười khà khà đáp:
“Phải tìm ra được những dấu vết đi ngược chiều như thế này thì mới đáng mừng chứ Riku đệ! Có nhìn thấy nó tận mắt thì anh em mình mới biết chắc chắn là suốt mấy ngày qua mắt mũi của chúng ta vẫn còn tỉnh táo, chưa bị cái suy nghĩ có sẵn trong đầu tự đánh lừa để nhìn đâu cũng thấy thú bỏ chạy đấy!”
Câu trả lời mộc mạc nhưng thấm đẫm triết lý thực địa của Triệu Khải khiến Riku phải ghi nhận nể phục.
Vệt dấu chân mới phát hiện này quả thực đang tiến thẳng vào hướng tây bắc, đi sâu ngược vào phía bên trong vùng núi. Tạ Vân tức thì cho toàn đội dừng lại gần nửa canh giờ để Triệu Khải và hai môn đồ kiểm tra thật kỹ lưỡng từng chi tiết dọc theo lối mòn đó.
Sau khi lần theo vệt dấu đi ngược lên sườn đồi một đoạn dài, cuối cùng Triệu Khải cũng xác định được đầy đủ thông số: đây là dấu chân mới in xuống từ sáng sớm hôm nay, có điều số lượng cá thể cực kỳ ít ỏi, chỉ có vỏn vẹn một hoặc nhiều nhất là hai con thú ăn thịt sống đơn độc đi ngang qua mà thôi.
Quy mô một hai cá thể lẻ tẻ như vậy tất nhiên không đủ sức nặng để bác bỏ xu hướng dịch chuyển của hàng chục bầy thú lớn ở các điểm trước, nhưng theo đúng nguyên tắc trung thực với hiện trường, nó vẫn bắt buộc phải được ghi chép đầy đủ vào hồ sơ mà không được phép lờ đi. Riku cẩn thận mở một trang giấy riêng trong sổ tay để ghi chú rõ tọa độ và hướng đi ngược chiều của vệt dấu này.
Đến tối ngày thứ tư, sau khi cả đoàn đã dựng lều bạt và ăn tối xong xuôi bên đống lửa trại, Riku vẫn còn ngồi xếp bằng kế bên Soma, mở cuốn sổ tay ra xem lại những dòng ghi chú dưới ánh sáng của chiếc đèn đội đầu.
Nhìn dòng chữ ghi nhận vệt dấu chân đi ngược về hướng tây bắc lúc ban ngày, Riku chợt lên tiếng chia sẻ với Soma:
“Ở những thế giới mà tôi từng đi qua trước đây, mỗi khi đứng trước một sự việc chưa rõ nguyên nhân, nhiều lúc người ta rất thích gọt giũa thông tin đi để tìm cho ra một quy luật nghe thật tròn trịa và đẹp đẽ.”
Soma đang ngồi cúi đầu tháo dây buộc đôi giày đi rừng của mình ra để hong khô cạnh lửa, nghe vậy liền hỏi lại:
“Thế còn cách làm việc của mọi người ở cái trong xưởng này thì sao?”
Riku khẽ mỉm cười, ngón tay gõ nhẹ lên trang giấy ghi dữ liệu ngược chiều:
“Khi mang cuốn sổ này về lại Thanh Hà, chắc chắn Harpe sẽ giữ nguyên vẹn cả cái dữ kiện trái chiều này để đưa lên bản đồ.”
“Ừ, tính của cậu ta là thế đấy.”
“Sau chuyến đi tháng trước là tôi đã biết rõ phong cách đó của Harpe rồi.”
Soma vừa giũ nhẹ đất cát bám ở đế giày ra ngoài tấm bạt vừa bình thản nhận xét mà không cần ngẩng đầu lên:
“Xem ra cậu làm quen và nắm bắt tính nết của Harpe cũng nhanh đấy chứ.”
“Một người làm công việc tổng hợp thông tin mà không bao giờ tự ý vứt bỏ những dữ liệu xấu làm lệch giả thuyết luôn là một người rất dễ để đồng đội đặt niềm tin.”
Soma ưng thuận tán đồng với câu đánh giá ấy của Riku.
Ngồi im lặng lắng nghe tiếng củi khô nổ lách tách trong đống lửa thêm một lát, Riku lại ngước mắt nhìn Soma và hỏi tiếp giả định:
“Này Soma, nếu như trong hai ngày khảo sát tiếp theo ở phía đông, đoàn mình lại liên tục bắt gặp những đàn thú lớn đi ngược vào hướng bắc nhiều hơn cả số lượng thú đi ra ngoài thì sẽ tính sao?”
Soma đặt đôi giày gọn sang cạnh túi ngủ, trả lời gọn lỏn không chút đắn đo:
“Nếu thực tế hiện trường xảy ra như vậy, thì có nghĩa là cái giả thuyết vùng đất phía bắc có vấn đề mà chúng ta đặt ra từ tháng trước đã bị sai rồi.”
“Chấp nhận hủy bỏ giả thuyết cũ một cách đơn giản vậy thôi à?”
“Ừ, sai thì bỏ đi làm lại từ đầu thôi.”
Riku nhìn vẻ mặt điềm nhiên như không của Soma khi nói về khả năng công sức trèo đèo lội suối suốt hai tháng trời có thể trở thành công cốc. Soma thấy ánh mắt của cậu liền nói thêm một câu rất nhẹ nhàng:
“Trên đời này đâu có quy định nào bảo rằng cứ hễ con người ta bỏ ra nhiều tháng trời vất vả theo đuổi một chuyện thì kết luận cuối cùng của mình bắt buộc phải đúng sự thật đâu.”
Nghe câu nói ngắn gọn nhưng hàm chứa một sự từng trải sâu sắc ấy của Soma, Riku thoáng lặng đi mất vài khoảnh khắc.
Sau một lúc trầm ngâm, Riku mới khẽ cất giọng nói:
“Câu nói vừa rồi của anh nghe giống như lời đúc kết của một người đã từng tự mình trải qua chuyện đó vậy.”
Soma ngừng tay chỉnh ba lô, anh quay đầu sang nhìn Riku dưới ánh lửa bập bùng.
Trong khoảnh khắc bốn mắt chạm nhau giữa màn đêm rừng thu tĩnh mịch, cả Riku lẫn Soma đều tự hiểu rất rõ rằng câu nói vừa rồi vẫn có thể áp dụng cho rất nhiều biến cố lớn lao trong cuộc đời của hai người ở thế giới cũ, về sức mạnh hắc ám, về định mệnh của Chúa tể Bóng tối hay những con đường lầm lạc từng bước qua, chứ đâu chỉ dừng lại ở chuyện đi đếm mấy dấu chân thú rừng ở Đại Càn này.
Có điều đúng với sự ăn ý của những người đàn ông trưởng thành tôn trọng khoảng lặng của nhau, chẳng một ai trong hai người có ý định đào sâu thêm vào vết thương cũ ấy. Soma chỉ thò tay vào ngăn ba lô rút ra một gói thịt bò sấy khô đóng túi kín, ném nhẹ sang lòng Riku và buông gọn một chữ:
“Ăn thêm cho lại sức đi.”
Riku đưa một tay bắt gọn gói thịt khô, mỉm cười xé vỏ túi. Và chỉ vài hơi thở sau đó, chủ đề cuộc trò chuyện giữa hai người họ đã tự nhiên chuyển hẳn sang việc bình phẩm xem món lương khô gạo rang trộn muối vừng của tông môn lúc trưa ăn khô khốc và nghẹn cổ tới mức nào.
Trong khi đội hình của Tạ Vân và Soma vẫn đang miệt mài băng qua các sườn đồi ở vùng rừng sâu phía bắc, thì tại hậu phương nhà Tây Sơn vào ngày thứ năm của chiến dịch, Harpe đã bắt đầu tiếp nhận bản báo cáo thực địa đầu tiên gửi về từ một mũi khảo sát khác.
Nhóm đệ tử Lạc Hà tông phụ trách rà soát khu vực cánh rừng phía đông do đi ở địa hình thấp và gần trạm dịch chuyển hơn nên đã hoàn thành lượt cắt ngang đầu tiên và cho người cưỡi ngựa chạy trạm mang biên bản ghi chép về thành Thanh Hà trước tiên.
Sau khi Hứa An tiếp nhận phong thư niêm phong ở bàn trực cổng và mang thẳng vào phòng làm việc chung, Harpe liền mở thư ra đọc kỹ từng dòng chữ một từ đầu đến cuối, đoạn anh đứng dậy trải rộng tấm bản đồ tổng thể lên mặt bàn lớn.
Nam lúc này đang cầm cốc trà đi ngang qua hành lang, thấy Harpe đang cúi người chấm tọa độ liền bước vào trong phòng, kéo ghế ngồi xuống cạnh bàn và hỏi:
“Nhóm đi khảo sát ở mạn sườn đông gửi báo cáo về rồi đấy à? Ở bên hướng đó có phát hiện ra dấu hiệu gì đặc biệt không?”
Harpe dùng ngòi bút bi chỉ nhẹ vào hai ký hiệu vừa mới được anh phác thảo bằng bút chì mờ ở góc bên phải của tấm bản đồ:
“Ở mạn rừng phía đông cũng đã ghi nhận được hiện tượng các trục đường mòn của thú rừng đột ngột chuyển hướng.”
“Hướng bẻ góc của đàn thú bên đó có giống với những gì đội của Tạ Vân ghi được ở chuyến tháng trước không?”
Harpe lắc đầu đáp:
“Hiện tại thì chưa thể kết luận là giống hay khác ngay được.”
Nam hơi nhướng mày thắc mắc:
“Sao lại chưa biết được?”
“Bởi vì lộ trình đi của nhóm phía đông nằm cách xa trục đường giữa của đội Tạ Vân hơn ba mươi dặm đường chim bay, hai bên chẳng nằm trên cùng một tuyến địa hình.”
Nam kéo ghế xích lại gần mép bàn hơn để nhìn cho rõ. Ngón tay của Harpe chỉ vào hai điểm đánh dấu mới ở sườn đông: theo biên bản của nhóm đệ tử Lạc Hà gửi về, họ đã bắt gặp hai lối mòn lớn của thú rừng đang chạy dọc từ trên xuống thì đột ngột ngoặt gắt về hướng chính nam và lệch sang tây nam.
Nếu chỉ tách riêng tờ báo cáo của nhóm phía đông ra để nhìn một cách đơn lẻ, hai vết ngoặt hướng nam và tây nam ấy trông chẳng có quy luật gì đặc biệt cả. Vì vậy, sau khi chấm đúng vị trí lên bản đồ bằng bút chì, Harpe liền thu tay về chứ chưa vẽ chút đường nối nào.
Đứng ở gần đó bàn, Hứa An nhìn hai chấm mới trên giấy rồi hỏi xin ý kiến của Harpe:
“Bên trạm liên lạc dưới chân núi của nhóm Lạc Hà vẫn có người trực để chuyển tin bổ sung, chúng ta có cần phải chép lại bản báo cáo của nhóm phía đông này rồi cử người mang lên gửi cho Tạ trưởng lão đang đi ở tuyến giữa biết luôn không ạ?”
Harpe không cần đắn đo đã lắc đầu từ chối:
“Chưa cần phải gửi gấp lên hiện trường làm gì đâu.”
Hứa An hơi ngạc nhiên hỏi lại:
“Sao lại không gửi cho Tạ trưởng lão nắm tình hình chung hả huynh?”
Harpe đặt cây bút chì xuống mặt bàn, giải thích rõ nguyên tắc làm việc của mình:
“Tôi không muốn trong lúc đội của Tạ trưởng lão và Soma đang trực tiếp đi tìm dấu vết ngoài rừng mà lại đọc trước được dữ liệu của nhóm phía đông, bởi vì một khi trong đầu đã biết trước thông tin ‘ở bên sườn đông thú rừng cũng bẻ hướng’, con người ta rất dễ rơi vào trạng thái vô thức đi tìm kiếm những dấu hiệu tương tự để khớp vào với nhau.”
Ngồi nghe lời giải thích sắc sảo của Harpe, Nam ngay đồng tình tán thưởng hết lời.
Cách kiểm soát dữ liệu tách biệt ấy của Harpe quả thực chuẩn xác. Nếu để đội hình đang làm việc ngoài thực địa biết trước báo cáo của các mũi khác, tâm lý chủ quan rất dễ khiến họ diễn giải mọi vệt cỏ gãy trên đường theo một câu chuyện định sẵn. Cứ để cho cả bốn mũi tự mình quan sát và ghi chép riêng rẽ với nhau, đợi đến khi tất cả rút về đặt bốn mảnh ghép độc lập lên cùng một mặt bàn mà chúng vẫn tự khớp lại thành một hình thù thống nhất, thì lúc đó kết luận thu được mới có giá trị thực tế.
Hiểu rõ dụng ý sâu xa của Harpe, Hứa An liền cẩn thận cất bản báo cáo gốc của nhóm phía đông vào một ngăn tủ hồ sơ riêng biệt, sau đó cậu nhìn sang khoảng trống bên trái bản đồ và hỏi tiếp:
“Thế còn nhóm đệ tử khảo sát ở cánh rừng phía tây thì đã có tin tức gì gửi về chưa ạ?”
“Tính đến trưa nay thì vẫn chưa thấy có người đưa tin về.”
“Theo lịch trình dự kiến thì bao giờ nhóm phía tây mới hoàn thành lượt cắt ngang đầu tiên?”
“Địa hình bên sườn tây nhiều khe suối chia cắt hơn bên đông, dự kiến nhanh nhất cũng phải sang ngày mai hoặc ngày kia mới có báo cáo gửi về tới thành Thanh Hà.”
Xác nhận xong tiến độ của các mũi, trong phòng làm việc chẳng có một ai tỏ ra nôn nóng hay sốt ruột.
Nam ngả lưng tựa vào thành ghế gỗ, phóng tầm mắt nhìn qua khung cửa sổ rộng mở ra khoảng sân gạch ngập nắng thu bên ngoài. Ở dưới bóng râm của cây hòe già, Ronan lúc này đang cầm một thanh kiếm gỗ tập luyện đứng đối diện với A Thạch để chỉ dẫn cho cậu đệ một vài động tác vung tay cơ bản. Hôm qua cậu nhóc có hỏi Ronan xem khi cầm dao quắm đi phát cỏ mở đường trong rừng thì phải giữ lực cổ tay thế nào cho đỡ mỏi cơ và phồng rộp lòng bàn tay, nên nhân lúc rảnh rỗi hôm nay anh mới đem gậy gỗ ra làm mẫu.
Nhìn cảnh khoảng sân rộng lớn mọi khi vốn rộn ràng bước chân người qua lại nay chỉ có mỗi tiếng gậy gỗ vung nhẹ trong gió và tiếng Chocobo nằm ngủ khò khè bên hiên kho, Nam bất giác buông lời cảm thán:
“Ngẫm lại mới thấy mấy hôm nay có đoàn đi vắng, cái xưởng mình của mình tự dưng yên ắng hẳn đi nhỉ.”
Harpe vẫn đang cúi đầu kiểm tra lại tỷ lệ thước đo trên mép bản đồ, thuận miệng đáp lại:
“Trong nhà cùng một lúc vắng mặt mất ba người chủ lực thì tất nhiên là phải thấy vắng vẻ hơn mọi khi rồi.”
Nam nghe con số thiếu hụt mà Harpe vừa nhắc thì chỉnh lại ngay:
“Sao lại thiếu có ba người, phải là vắng mất bốn người chứ.”
Harpe hơi dừng tay cầm thước, anh ngước mắt lên nhìn Nam với vẻ hơi ngạc nhiên:
“Ngoài Soma, Zero với Triệu Khải hay qua lại ra, ý anh tính thêm người thứ tư là tính cả Riku vào đấy à?”
“Ừ, thì tính cả Riku vào chứ còn ai nữa.”
Harpe nhìn vẻ mặt tự nhiên của Nam, khẽ nhướng mày hỏi nửa đùa nửa thật:
“Cậu thanh niên đó mới chỉ bước chân qua cổng xưởng mình được có hơn một tháng trời, sao anh đã gộp luôn cậu ấy vào diện người nhà nhanh thế?”
Câu hỏi bất ngờ của Harpe làm Nam thoáng ngẩn người ra mất một thoáng. Thế nhưng ngay sau đó, hắn đã bưng cốc trà lên nhấp một ngụm và trả lời bằng một lý lẽ rất giản dị:
“Người ta đã ngồi chung mâm ăn cơm do Mina nấu ở cái xưởng này suốt hơn một tháng ròng rồi, đương nhiên phải tính là người trong nhà chứ còn gì nữa.”
Harpe nghe câu định nghĩa về “người nhà” đậm chất Lê Mai Nam ấy thì khẽ mỉm cười, anh cúi đầu tiếp tục công việc bên tấm bản đồ mà không hỏi thêm một câu nào nữa.
Đến ngày hành quân thứ sáu ở ngoài hiện trường rừng sâu, mũi khảo sát trung tâm của nhóm Tạ Vân, Soma và Riku cuối cùng cũng đã chạm trán với mảnh dữ kiện quan trọng bậc nhất của toàn bộ chuyến đi lần này.
Vào khoảng gần giữa buổi sáng, sau khi vượt qua một dải rừng thông thưa thớt trên sườn đồi cao, cả đoàn bước ra một vùng triền đất thoai thoải trải rộng nằm giữa hai khe núi, nơi có lớp đất thịt pha sét giữ dấu vết tốt hơn hẳn những vùng đồi đá sỏi trước đó.
Ngay khi vừa phát hiện ra những vết móng thú chằng chịt trên mặt đất, Triệu Khải đã ra hiệu cho cả đoàn đứng nguyên tại chỗ ở rìa rừng, còn bản thân anh ta thì một mình đi vòng rộng ra khắp bốn phía của vùng triền đất. Lần rà soát này phức tạp tới mức Triệu Khải phải mất gần trọn một canh giờ đồng hồ cứ đi đi lại lại, lúc ngồi xổm xuống nhìn ngón chân thú, lúc lại trèo lên mô đất cao đối chiếu hướng cỏ gãy, nhưng suốt quãng thời gian ấy không một ai trong đoàn lên tiếng thúc giục nửa lời.
Khi đã nắm trọn vẹn hết thảy bức tranh dấu vết trên triền đất rộng, Triệu Khải mới đứng thẳng dậy trên mô đất giữa bãi và vẫy tay gọi mọi người:
“Tạ trưởng lão, các vị huynh đệ lại cả chỗ này mà xem.”
Cả nhóm thận trọng bước theo lối đá khô mà Triệu Khải vừa chỉ dẫn để tiến vào trung tâm bãi đất.
Hiện ra trên mặt đất mềm trước mắt họ là sự giao thoa của ba hệ thống dấu chân thuộc về ba chủng loại động vật khác hẳn nhau: một bên là vệt chạy của giống gặm nhấm nhỏ ăn quả rụng, ở giữa là lối đi của một đàn móng guốc ăn cỏ cỡ lớn, và ở rìa bên kia là vết đệm thịt có vuốt sắc của một loài thú săn mồi cỡ trung.
Cả ba nhóm động vật này rõ ràng đã đi qua triền đất vào ba khoảng thời gian cách nhau từ vài ngày cho tới hơn một tuần lễ, số lượng cá thể trong từng nhóm cũng khác hẳn nhau. Ngặt nỗi điểm chung duy nhất khiến tất cả phải tập trung chú ý là hướng di chuyển mới của cả ba loài đều đã bẻ ngoặt đi chứ không còn đi theo lối mòn cũ nữa.
Riku bước tới đứng ở ngay vị trí giao điểm trên mô đất, cậu cúi nhìn theo ngón tay chỉ của Triệu Khải rồi đọc to hướng lệch của từng nhánh:
“Nhánh dấu chân của loài thú nhỏ kia đang bẻ chéo về hướng đông nam.”
Triệu Khải xác nhận:
“Đúng thế, còn vết móng của đàn thú móng guốc lớn ở giữa này thì lại ngoặt gần như thẳng xuống hướng chính nam.”
Riku chuyển ánh mắt sang vệt dấu chân có móng vuốt ở rìa ngoài cùng bên phải:
“Thế còn hướng đi của con thú ăn thịt đơn độc kia thì sao?”
“Vệt vuốt của con thú săn mồi đó lại rẽ hẳn sang hướng chính đông.”
Tạ Vân đứng kế bên nhìn ba mũi tên phương hướng vừa được xác định trên mặt đất, đôi lông mày thanh tú hơi nhíu lại. Khác với những điểm đơn lẻ trước đó, tại triền đất rộng này cả ba loài thú lại chẳng bẻ sang cùng một hướng giống nhau mà chia thành ba ngả: chính nam, đông nam và chính đông.
Trong lúc mọi người còn đang băn khoăn trước sự phân kỳ ấy, Riku lại đứng im lặng nhìn chăm chú vào khoảng rừng rậm phía bắc trước mặt lâu hơn tất cả.
Đột nhiên, Riku ngẩng đầu lên và buông một chữ ngắn gọn:
“Không phải đâu.”
Triệu Khải đang đứng phủi đất trên tay liền quay sang hỏi:
“Không phải cái gì cơ Riku đệ?”
Riku chỉ tay xuống ba nhánh dấu chân dưới đất rồi nói rành mạch:
“Nếu nhìn riêng từng vệt tại chỗ này thì đúng là cả ba loài chúng nó không đi theo cùng một hướng song song với nhau.”
“Thì đúng là một đàn rẽ xuống nam, bầy nhỏ xiên qua đông nam, còn con thú săn mồi lại ngoặt sang hướng đông còn gì.”
Riku không giải thích bằng lời xuông, cậu tức thì mở tờ sơ đồ phác thảo trên tay ra, đặt ngón tay trỏ chỉ thẳng vào khoảng giấy trắng rộng lớn nằm ngay phía trên vị trí hiện tại của cả đoàn và nói tiếp:
“Nhưng nếu bây giờ chúng ta coi cái khu vực rừng sâu phía bắc đang bỏ trống trên bản đồ này là một vùng diện tích trải rộng...”
Ánh mắt của Tạ Vân liền tập trung cao độ vào đầu ngón tay Riku, trong khi Soma và Zero cũng đồng loạt bước lại gần sát mép bản đồ để quan sát.
Chẳng tự ý dùng bút vẽ bừa một vòng tròn lên mặt giấy, Riku chỉ dùng đầu ngón tay di chuyển nhẹ qua các tọa độ ngang dọc mà đoàn đã đi qua suốt mấy ngày nay để minh họa cho quy luật hình học vừa hiện lên trong đầu mình:
“Mọi người thử ghép lại mà xem: những bầy thú xuất phát từ cánh rừng phía tây của vùng đất đó thì bẻ hướng lệch sang tây nam, đàn móng guốc đi từ trục chính giữa đi xuống thì lao thẳng về hướng chính nam, còn những loài ở mạn sườn đông bên này thì lại đồng loạt rẽ sang đông nam và chính đông. Nghĩa là mỗi một nhóm động vật ở từng vị trí khác nhau đều đang tự chọn con đường ngắn nhất và gần nhất để thoát ra khỏi cái vùng trung tâm phía bắc kia.”
Triệu Khải nghe Riku phân tích xong thì hai mắt mở to, anh ta đứng thẳng phắt người dậy và vỗ đốp hai bàn tay vào nhau:
“Trời đất, nói như Riku đệ thì cảnh tượng này giống hệt như là muông thú đang đồng loạt tản ra bốn phía từ một tâm điểm ấy nhỉ!”
Riku thu ngón tay về, giữ thái độ rất thận trọng:
“Đó là một khả năng rất đáng để tính tới.”
Đứng kế bên, Tạ Vân cũng xác nhận với giọng điệu nghiêm trọng:
“Quả thực là rất có khả năng đó.”
Mặc dù hai chữ “có thể” vẫn được cả Riku lẫn Tạ Vân giữ đúng ở mức độ giả thuyết thận trọng chứ chưa biến thành kết luận cuối cùng, song đây chính là lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu cuộc điều tra suốt hai tháng qua, một hình thái không gian cụ thể đã quả tình lộ diện qua các con số khô khan.
Hiện tượng kỳ lạ ở vùng núi phía bắc này mang hình thái khác hẳn một cuộc di cư theo mùa hay cảnh tượng cả khu rừng bị lùa chạy về cùng một hướng. Khi đặt tất cả các mũi tên chuyển hướng ở các kinh độ khác nhau lên cùng một mặt phẳng, quỹ đạo di chuyển của các loài động vật giống hệt như một dòng suối đang chảy bình thường từ bắc xuống nam thì bất ngờ vấp phải một khối đá ngầm khổng lồ nằm chắn ngang ở giữa lòng khe, buộc làn nước phải tự động tách đôi ra để chảy vòng qua hai bên sườn đông và sườn tây của vật cản ấy.
Chỉ có điều, cái “tảng đá ngầm vô hình” đang nằm chắn ở giữa vùng núi sâu kia rốt cuộc có diện tích rộng bao nhiêu dặm, tâm điểm chính xác nằm ở tọa độ nào và bản chất đúng là của nó là thứ gì thì ở thời điểm hiện tại họ vẫn chưa có đủ dữ liệu để biết được.
Giữ vững kỷ luật điều tra hiện trường, Tạ Vân ngay chỉ đạo người môn đồ thư ký và Riku:
“Tất cả ghi chép nguyên văn những gì mắt thấy tai nghe tại triền đất này vào biên bản chính, quyết không được viết lồng ghép giả thuyết tản ra vừa rồi vào chung một dòng với số liệu thực tế.”
Riku gật đầu rút bút bi mực đen ra, nắn nót viết vào phần nhật ký dữ liệu của mình: Tại tọa độ triền đất số sáu, ghi nhận ba nhóm dấu chân khác chủng loại. Khác thời điểm lưu dấu, hướng di chuyển mới phân tán theo ba ngả chính đông, chính nam và đông nam. Còn cả phần suy đoán về hình thái phân tán từ vùng trung tâm được cậu gạch một đường kẻ ngang tách riêng hẳn xuống phần ghi chú tham khảo ở cuối trang giấy.
Rạch ròi, minh bạch và không chút lẫn lộn.
Đêm ngày thứ sáu ở vùng núi phía bắc, bầu trời thu âm u suốt từ lúc chiều muộn cuối cùng cũng bắt đầu trút xuống một cơn mưa rừng.
Lượng nước mưa đổ xuống không tới mức xối xả như thác lũ mùa hạ, nhưng mưa rừng giữa thu lại mang cái tính dai dẳng, rả rích kéo dài suốt cả đêm kèm theo những luồng gió núi thổi tạt ngang lạnh buốt. Để ngăn gió lùa và nước mưa hắt vào bên trong, Soma và Triệu Khải đã phải hạ thấp các cọc chống của tấm vải bạt che trại xuống sát mặt đất hơn mọi khi.
Giữa tiết trời đêm mưa gió ẩm ướt và lạnh giá ấy, tám chiếc túi ngủ dã ngoại mang theo từ chuyến trước một lần nữa lại phát huy giá trị thực tiễn không gì sánh bằng. Giờ đây trong cả cả đội chẳng còn một ai xem những chiếc kén vải chần bông này là món đồ kỳ lạ nữa.
Thậm chí ngay khi mới húp xong bát canh nóng buổi tối, Triệu Khải đã là người đầu tiên nhanh nhẹn chui tọt vào trong chiếc túi ngủ của mình và kéo khóa kín mít lên tới tận cổ trước tất cả mọi người.
Soma đang ngồi lau khô vỏ kiếm sát bên nhìn thấy tốc độ chui vào túi ngủ nhanh như chớp của người dẫn đường thì nhướng mày trêu:
“Xem chừng chuyến này ông đã làm quen hẳn với việc nằm ngủ trong cái túi vải đó rồi đấy nhỉ.”
Triệu Khải nằm êm ấm bên trong lớp bông tổng hợp, thò đầu ra ngoài đáp lại một cách khá thực dụng mà chẳng còn chút ngượng ngùng nào như hồi tháng trước:
“Đồ dùng tốt, giữ ấm khỏe người thì tội gì mà không dùng cho sướng cái tấm thân.”
Câu trả lời thẳng tưng của Triệu Khải làm Riku đang ngồi chỉnh lại dây đèn đội đầu bên cạnh cũng phải bật cười.
Ở góc lều phía bên kia, Tạ Vân vẫn chưa đi nghỉ ngay, cô đang ngồi xếp bằng dưới mái bạt thấp, bật chiếc đèn đội đầu ở chế độ ánh sáng dịu để xem lại tấm bản đồ hành trình vừa được cập nhật thêm tọa độ lúc ban ngày. Sau một hồi cân nhắc kỹ lưỡng giữa tình hình thời tiết và lượng dữ liệu đã thu thập được, Tạ Vân ngước mắt lên thông báo kế hoạch tiếp theo cho toàn đội:
“Với đà mưa dầm như đêm nay thì ngày mai đoàn chúng ta sẽ không tiếp tục tiến sâu hơn lên mạn bắc nữa.”
Zero đang ngồi tựa lưng vào thân cây ngay sát mép bạt chắn gió liền nghiêng đầu hỏi ngắn gọn:
“Ngày mai quay đầu rút về luôn à?”
“Chưa rút ngay từ sáng. Ngày mai chúng ta sẽ tiếp tục đi cắt ngang sang hướng đông thêm đúng nửa ngày đường nữa để lấy nốt điểm mốc cuối của trục này, sau đó mới chính thức vòng xuống đường cũ để trở về.”
Soma đưa mắt nhìn những giọt nước mưa đang chảy thành dòng dọc theo mép vải bạt xuống rãnh thoát nước quanh trại, điềm tĩnh nói:
“Mưa kéo dài suốt đêm thế này thì sáng mai các sườn đất đỏ phía đông sẽ trơn trượt lắm đấy.”
Tạ Vân xác nhận:
“Chính bởi vì đường đất sau mưa sẽ rất trơn và khó đi nên ta mới chỉ giới hạn đi thêm đúng nửa ngày đường rồi dừng lại.”
Riku đang ngồi kế bên ba lô của mình nghe vậy liền hỏi thêm một câu để nắm rõ quy trình ghi chép cho chặng cuối:
“Nếu như trong nửa ngày đi sang phía đông sáng mai, đoàn mình lại tiếp tục bắt gặp những dấu vết thú rừng rẽ hướng theo đúng quy luật phân tán như ở triền đất chiều nay thì xử lý thế nào hả Tạ trưởng lão?”
Tạ Vân không ngẩng đầu khỏi bản đồ, đáp gọn một chữ:
“Thì ghi chép lại đầy đủ.”
“Thế nếu như sáng mai chúng ta lại gặp toàn những vệt chân đi ngược lại quy luật đó hoặc chẳng thấy dấu tích nào cả thì sao ạ?”
“Thì cũng vẫn ghi chép lại nguyên vẹn đúng như thế.”
Riku mỉm cười. Ở trong cái đội hình khảo sát này, mọi thứ đều vận hành rõ ràng đến mức chẳng bao giờ cần tới những cuộc họp hành tranh cãi dài dòng.
Ngoài trời, tiếng hạt mưa thu vẫn gõ đều đặn lộp bộp lên mặt vải bạt căng chặt. Soma ngả lưng dựa hẳn vào chiếc ba lô leo núi đặt phía sau mình, còn Riku thì ngồi ôm đầu gối phóng tầm mắt nhìn ra màn mưa mù mịt đang bao phủ những tán rừng đen thẫm bên ngoài cửa lều.
Ngồi im lặng lắng nghe tiếng mưa rừng một lúc, Riku chợt cất giọng nói khẽ như đang tự tâm sự:
“Ở thế giới cũ của tôi trước kia, mỗi khi các chiến binh đi khảo sát mà bắt gặp những dấu hiệu sinh vật sống đồng loạt dạt ra xung quanh theo một quy luật lặp đi lặp lại kiểu như thế này, phản xạ đầu tiên của hầu hết mọi người là sẽ nghĩ ngay tới việc có một thực thể rất to lớn và nguy hiểm nào đó đang nằm phục sẵn ở ngay chính giữa vùng đất ấy.”
Tạ Vân vừa kịp cuộn tấm bản đồ lại, nghe câu nói của Riku liền ngước mắt nhìn cậu hỏi:
“Ý ngươi nói tới là một con đại yêu thú hoặc một loài quái vật đầu đàn đang chiếm giữ lãnh địa ở trung tâm phải không?”
“Dạ, ở chỗ tôi thì thường sẽ là một sinh vật bóng tối khổng lồ hoặc một kẻ địch có sức mạnh áp đảo như vậy.”
“Thế sau sáu ngày đi quan sát trực tiếp ở đây, bản thân ngươi có nghĩ rằng thứ đang nằm ở vùng rừng phía bắc kia cũng là một con quái vật như thế không?”
Riku nhìn thẳng vào ánh mắt trầm tĩnh của Tạ Vân dưới ánh đèn, cậu thành thật lắc đầu:
“Thực lòng là hiện tại tôi vẫn chưa biết nó là cái gì cả.”
Nghe lời thú nhận thật thẳng thắn của Riku, trên môi Tạ Vân chợt nở một nụ cười rất nhẹ:
“Ngươi trả lời là chưa biết như vậy thì tốt lắm.”
Riku hơi ngạc nhiên hỏi lại:
“Không đoán ra được nguyên nhân mà sao Tạ trưởng lão lại bảo là tốt ạ?”
Tạ Vân ôn tồn chỉ ra một đạo lý rất sâu sắc của người làm công việc điều tra:
“Một người mới từ nơi xa tới khi tham gia vào cuộc khảo sát này vốn dĩ có một ưu thế rất lớn so với đám tu sĩ bản địa chúng ta, đó là đầu óc cậu chưa bị đóng khung bởi những lối mòn suy luận vốn có của giới tu luyện Đại Càn. Có điều nếu ngươi lại vội vàng bê nguyên xi cái khuôn mẫu lý giải của nơi mình từng sống để chụp lên vùng núi phía bắc này, thì cái lợi thế khách quan quý giá nhất ấy cũng sẽ biến mất sạch.”
Riku ngồi lặng đi vài khoảnh khắc để ngẫm nghĩ từng ý vừa nghe, sau đó cậu mới trịnh trọng thừa nhận:
“Lời Tạ trưởng lão nhắc nhở rất đúng ạ.”
Ngay cạnh Riku, Soma vẫn đang ngồi nhắm hờ mắt tựa lưng vào ba lô, nghe cuộc đối đáp giữa hai người liền nghiêng đầu sang phía Riku và nói nhỏ một câu đủ để hai anh em nghe thấy:
“Nếu bây giờ mà anh Nam có mặt ở trong cái lều này, chắc chắn ông ấy sẽ thích câu nói vừa rồi của Tạ trưởng lão lắm đấy.”
Riku cũng hạ thấp giọng hỏi nhỏ lại Soma:
“Sao anh biết anh Nam sẽ thích câu đó?”
“Bởi vì đối với cái hiện tượng ở vùng núi phía bắc Đại Càn này thì ngay cả cái kho tra cứu Wikia vạn năng của ông ấy ở nhà cũng bó tay không giúp được gì cả.”
Chỉ cần một câu nhắc khéo ấy của Soma, Riku đã hiểu thấu đáo tất cả ý nghĩa đằng sau. Một kho tàng tri thức đồ sộ ghi chép đủ mọi thế giới của hệ thống Gacha có thể biết rõ từng thông số của thanh Braveheart hay từng con ốc vít trong máy dẫn đường, ngặt nỗi nó lại mù tịt trước lịch sử và những bí ẩn bản địa của vùng đất Đại Càn này.
Do Soma chủ động hạ giọng nói rất khẽ giữa tiếng mưa rơi rả rích trên mái bạt, nên Tạ Vân ngồi ở góc lều bên kia chẳng nghe thấy câu trao đổi riêng tư cuối cùng ấy. Mọi bí mật cốt lõi của xưởng Tây Sơn vẫn được giữ kín ở đúng vị trí của nó.
Vào khoảng ngày thứ tám của chiến dịch, gần như trùng khớp với thời điểm đội hình của Tạ Vân và Soma bắt đầu hoàn tất mũi cắt ngang phía đông để vòng ngược trở lại đường cũ, nhóm đệ tử khảo sát phụ trách cánh rừng phía tây cũng đã về tới thành Thanh Hà và chuyển bản báo cáo thực địa thứ hai lên đồi Tây Sơn.
Ngay sau khi tiếp nhận tập tài liệu mới từ tay Hứa An, Harpe đã bước vào phòng làm việc và trải thêm một tờ giấy bản khổ lớn thứ hai nối dài sang gần đó tấm bản đồ gốc trên mặt bàn.
Nam lúc ấy vừa đi kiểm tra kho củi về, đi ngang qua cửa phòng thấy Harpe đang bày la liệt thước kẻ, compa đồng và các tập biên bản ra bàn liền dừng bước hỏi:
“Cậu lại đang chuẩn bị làm gì với đống giấy tờ mới thế Harpe?”
Harpe vẫn giữ nguyên mắt trên mặt giấy, đáp gọn một chữ:
“Tôi đang ghép các mảnh lại với nhau.”
Công việc ghép nối thông tin từ các mũi khảo sát khác nhau mà Harpe đang thực hiện chẳng có sự trợ giúp của thiết bị đo tọa độ hiện đại nào. Ở đây không có hệ thống định vị vệ tinh GPS, cũng chẳng có những tấm bản đồ in sẵn hệ lưới kinh vĩ tuyến tiêu chuẩn của thế giới hiện đại.Trọn nguyên liệu mà Harpe có trong tay lúc này chỉ là những con số ước lượng khoảng cách bằng bước chân người đi bộ, thời gian di chuyển tính theo canh giờ, phương hướng tương đối xác định bằng kim nam châm. Kết hợp với vị trí của những con sông, khe suối cạn, các ngọn đồi đá vôi và những điểm mốc tự nhiên mà các nhóm thợ săn bản địa đều biết tên. Thế nhưng dưới bàn tay quy hoạch tỉ mỉ và tư duy hình học không gian sắc bén của Harpe, chừng đó dữ liệu thô sơ vẫn là quá đủ để dựng lên một bức tranh toàn cảnh chính xác.
Ngay sát bên bàn bản đồ, Hứa An cũng đang ngồi cầm một cuốn sổ địa chí cũ của huyện Thanh Hà để hỗ trợ Harpe đối chiếu và chuẩn hóa lại cách viết của từng địa danh nhỏ, bởi vì trong các vùng núi sâu có rất nhiều khe nước và mỏm đá mang tên truyền miệng nghe na ná giống nhau.
Hứa An chỉ đầu ngón tay vào một dòng chữ viết vội trong tờ biên bản mới gửi về, ngước lên hỏi Harpe:
“Cái địa danh khe nước nơi nhóm phía tây dừng trại ngày thứ tư này thực tế là Hắc Nha Câu hay là Hắc Nham Câu thế hả huynh?”
Harpe đối chiếu vị trí mỏm đá đen ghi ở dòng trên với sơ đồ gốc của Triệu Khải rồi khẳng định ngay:
“Chính xác phải là Hắc Nham Câu mới đúng.”
“Vậy là người đệ tử ghi chép của nhóm phía tây lúc viết trong rừng tối đã viết thiếu mất bộ Sơn ở bên cạnh chữ Nham nên nhìn thành chữ Nha rồi, để đệ chú thích sửa lại cho khớp.”
Harpe cầm bút bi gạch chỉnh lại tên địa danh trên mặt bản đồ cho thống nhất.
Đứng khoanh tay tựa vai vào khung cửa gỗ nhìn cảnh tượng hai người họ cặm cụi làm việc, Nam không khỏi cảm thấy có chút thú vị và buồn cười trong lòng.
Công việc xác định tọa độ và ghép nối lộ trình thực địa vốn dĩ chính xác là thứ mục đích mà cặp GPS GPS tối tân được chế tạo ra trên đời để làm cho con người đỡ vất vả. Song vào ngay giờ phút này, hai thiết bị dẫn đường hiện đại bậc nhất ấy lại đang phải nằm im lìm trong chiếc hộp nhựa dưới xưởng kỹ thuật của Ciel mà chẳng biết nổi khu xưởng đang tọa lạc ở phương trời nào. Trong khi đó ở ngay gian phòng kế bên, Harpe và Hứa An lại chỉ dùng giấy bản, bút mực, lời kể miệng của người đi rừng cùng ký ức địa phương để từng bước dựng nên một tấm bản đồ thực chiến dùng rất tốt.
Nghĩ tới sự đối lập trớ trêu ấy, Nam bất giác buột miệng lẩm bẩm một câu:
“Đúng là đôi khi máy móc công nghệ cao lại phải chịu thua con người thật.”
Harpe đang cầm thước đo góc lệch nghe loáng thoáng thấy tiếng Nam nói liền ngẩng đầu lên hỏi:
“Anh vừa bảo cái gì cơ anh Nam?”
Nam khẽ phất tay cười xòa:
“À không có gì đâu, tôi chỉ đang đứng cảm thán vẩn vơ một mình ấy mà, hai người cứ làm việc tiếp đi.”
Sau khi đã hiệu chỉnh xong hết thảy tên gọi các mốc địa hình ở sườn núi bên trái, Harpe bắt đầu chấm các điểm phát hiện dấu chân thú của nhóm phía tây lên mặt giấy của tấm bản đồ lớn.
Và kết quả hiện lên từ bản báo cáo của nhóm phía tây mang tới một mảnh ghép khác hẳn biệt nhưng lại khớp nối một cách kỳ lạ với những dữ kiện trước đó.
Theo ghi chép của các môn đồ Lạc Hà đi ở mạn rừng bên trái, phần lớn những lối mòn thú rừng mà họ bắt gặp dọc sườn núi khi đổi hướng đều đồng loạt bẻ ngoặt lệch sang hướng chính tây hoặc chéo về tây nam.
Harpe đặt đầu bút chì lên các điểm tọa độ mới vừa chấm trên mặt giấy, rồi bàn tay anh đột ngột dừng lại. Đôi mắt sắc bén của anh nhìn bao quát cả mặt bàn từ phải sang trái: ở cánh rừng bên phải, các đàn thú đổi hướng chạy xuống hướng nam và đông nam; ở trục tuyến giữa của tháng trước, bầy thú cũng dạt xuống mạn dưới; còn ở dải sườn bên trái vừa gửi về hôm nay, muông thú lại đồng loạt rẽ sang hướng chính tây và tây nam.
Nếu nhìn riêng lẻ từng hướng đi thì chúng ngược chiều nhau. Nhưng nếu lấy ngón tay đặt vào khoảng rừng sâu đang bỏ trống ở chính giữa phía bắc của tấm bản đồ làm tâm điểm... thì tất cả mọi hướng di chuyển của muông thú ở cả hai bên sườn đông và tây thực chất đều đang cùng chung một hành động duy nhất: tỏa ra xung quanh để rời khỏi khu vực trung tâm đó.
Nhận ra quy luật hình học rõ nét đang dần thành hình trên mặt giấy, có điều Harpe vẫn giữ nguyên sự điềm tĩnh. Anh đặt cây bút chì xuống cạnh thước kẻ, quyết định không vẽ thêm chút nét phác thảo nào lên bản đồ vào lúc này mà kiên nhẫn chờ đợi cho tới khi đội chủ lực của Tạ Vân, Soma và Riku từ tuyến giữa trực tiếp quay trở về.
Phải đến tận buổi chiều ngày mười tám giữa tháng, tất cả đội hình khảo sát bảy người của Tạ Vân, Soma, Zero và Riku mới chính thức hoàn thành hành trình và đặt chân quay trở về tới cổng trong xưởng.
Những đợt mưa thu rả rích kéo dài suốt nửa sau của chuyến đi đã làm cho các con dốc đất đỏ trở nên lầy lội và trơn trượt hơn hẳn lúc mới lên núi, khiến tốc độ rút quân của cả đoàn bị chậm lại mất gần hai ngày so với dự tính ban đầu trên giấy tờ.
Mặc dù điều kiện đường sá lúc quay về khá khắc nghiệt, nhưng may mắn là trong trọn bảy thành viên không có bất kỳ ai gặp phải chấn thương nghiêm trọng. Sự cố duy nhất dọc đường chỉ là một người môn đồ trẻ của phía Lạc Hà trong lúc lội qua bờ suối trơn đã vô tình trượt chân ngã đập bả vai trái vào một phiến đá rêu.
Ngay khi đoàn vừa bước vào sân xưởng, Shiroma đã mang hộp sơ cứu y tế ra xem xét khớp xương vai cho người môn đồ ấy trước tiên. Sau khi dùng tay nắn nhẹ kiểm tra và xác nhận phần xương bả vai vẫn lành lặn, chỉ bị tụ huyết tím bầm phần mềm bên ngoài, để cho thật chắc chắn, Hứa An vẫn cẩn thận đánh xe mời Lương đại phu từ khu Đông thị sang tận nơi bắt mạch và đắp thêm một lớp cao thuốc tan máu tụ bản địa cho anh ta yên tâm.
Về phần các thành viên của nhà Tây Sơn, Zero sau mười ngày lội bùn vượt đá chỉ mang về thêm một vài vết trầy xước nhẹ và lớp bùn đất khô bám dày ở phần khớp cổ chân giáp trụ, mới bước qua hiên nhà đã bị Ciel kéo tuột thẳng vào trong xưởng cơ khí để tháo giáp ra vệ sinh tra dầu tức thì.
Trong khi đó, Soma vừa kịp hạ chiếc ba lô nặng trịch xuống sàn nhà đã đi thẳng xuống gian bếp tìm Mina, ngồi ăn liền một mạch hết sạch hai bát cơm đầy tú hụ với thịt kho nóng hổi rồi xin phép lên giường nằm ngủ bù suốt gần nửa ngày trời không biết trời đất là gì.
Riêng chỉ có Riku là vẫn còn đứng nán lại ở bàn làm việc ngay gian cổng lâu hơn cả, bởi vì ngay khi cậu vừa rút cuốn sổ tay ghi chép thực địa trong túi áo ra, Harpe đã giữ chân cậu lại kế bên tấm bản đồ lớn.
Harpe đặt ngón tay trỏ chỉ thẳng vào tọa độ đánh dấu ngày thứ sáu trên bản đồ, ngước mắt nhìn Riku và hỏi ngay:
“Chính tại vị trí giao điểm ở triền đất này, cậu đã ghi nhận được ba nhánh dấu chân thú rẽ theo ba hướng khác nhau phải không?”
Riku cúi nhìn điểm chấm trên bản đồ rồi đáp:
“Ừ, đúng là ở ngay triền đất thoai thoải đó.”
Không đợi Harpe phải hỏi thêm, Riku liền dùng đầu ngón tay trỏ của mình vạch nhẹ ba đường ngắn trên mặt giấy để mô phỏng lại chính xác góc bẻ hướng về phía đông, phía nam và đông nam của ba loài thú mà mình đã đo đạc tại hiện trường.
Harpe chăm chú nhìn theo hướng ngón tay Riku, sau đó anh liền kéo hai tờ biên bản báo cáo của hai mũi cánh đông và cánh tây đặt ghép vào hai bên tấm bản đồ trung tâm.
Đúng lúc ấy, Triệu Khải sau khi uống xong bát nước gừng ấm ngoài hiên cũng bước vào cạnh bàn, anh ta cúi xuống nhìn các ký hiệu khe suối trên giấy rồi xác nhận lại vị trí tương đối của triền đất dựa theo địa hình thực tế. Ở phía đối diện bàn gỗ, Tạ Vân cũng đã thay xong áo khoác khô ráo và kéo ghế ngồi xuống để cùng theo dõi.
Trong suốt một khoảng thời gian khá dài sau đó, cả căn phòng làm việc chìm vào sự im lặng, không một ai cất tiếng nói chuyện bởi tất cả mọi ánh mắt đều đang dõi theo bàn tay cầm thước và bút của Harpe khi anh tỉ mỉ quy đổi tỷ lệ và chuyển hết thảy các tuyến khảo sát của cả bốn nhóm lên trên cùng một mặt giấy duy nhất.
Khi điểm tọa độ cuối cùng của đội Tạ Vân đã được chấm xong xuôi lên mặt bản đồ tổng, Harpe đặt chiếc thước gỗ xuống bàn và cầm cây bút chì đen lên.
Ngặt nỗi anh chẳng dùng bút vẽ một đường tròn khép kín bao quanh khu vực phía bắc.
Bàn tay vững chãi của Harpe chỉ nhẹ nhàng chấm bút vẽ một đường vòng cung bằng nét đứt rất rộng chạy uốn lượn qua các giao điểm chuyển hướng. Đường cung nét đứt ấy bắt đầu từ mạn sườn tây bắc của các tuyến khảo sát đã biết, uốn cong xuống phía nam tại khu vực triền đất trung tâm rồi mở rộng dần sang phía đông bắc.
Nam đứng khoanh tay ở ngay phía sau lưng ghế của Harpe, cúi nhìn nét chì cong đứt quãng vừa hiện lên trên mặt giấy trắng rồi buột miệng nói:
“Cái đường vòng cung nét đứt này nhìn giống như là...”
Harpe ngay lên tiếng chặn trước để định hình rõ khái niệm cho mọi người trong phòng:
“Đường nét đứt này chẳng phải là đường ranh giới cố định của vùng nguy hiểm đâu nhé.”
Nam đáp:
“Ừ, tôi biết điều đó mà.”
Harpe chỉ đầu bút chì dọc theo đường cong vừa vẽ, giải thích chuẩn xác ý nghĩa của nó:
“Nó chỉ đơn thuần là đường nối ước tính những vị trí đầu tiên mà tại đó các loài thú rừng bắt đầu chủ động bẻ hướng đi sang ngả khác mà thôi.”
Ngồi ở phía đối diện, Tạ Vân chăm chú nhìn đường cung nét đứt trải rộng trên bản đồ hồi lâu.
Nếu như cả dữ liệu thực địa mà cả bốn nhóm khảo sát mang về từ bốn mũi khác nhau đều phản ánh đúng sự thật, thì bức tranh toàn cảnh hiện ra lúc này đã rõ ràng: muông thú trong dãy núi phía bắc chẳng đồng loạt chạy trốn về một phía duy nhất. Chúng đang chủ động tách đôi và dạt ra xung quanh để né tránh một khu vực nằm ở phía bắc của đường vòng cung kia, tạo thành một hình thái phân tán giống hệt như những nan quạt xòe ra hoặc một phần của vành cung lớn.
Tất nhiên, chỉ với nửa vòng cung ở mạn nam như hiện tại thì chưa một ai có thể khẳng định được cái vùng đất nằm ở phía bên trong kia tròn trịa, kéo dài như bầu dục hay méo mó ra sao, bởi họ vẫn chưa có đủ các mũi khảo sát vòng lên mạn bắc. Song chỉ riêng cấu trúc vành cung phân tán này thôi cũng đã khác biệt hẳn so với những suy đoán ban đầu hồi hai tháng trước.
Triệu Khải đứng chống hai tay lên mép bàn, nhìn chằm chằm vào khoảng giấy trắng nằm lọt thỏm phía trên đường cung nét đứt rồi lên tiếng đặt giả thuyết:
“Nếu như ở ngay chính giữa cái vùng đất trắng kia thực sự có một con đại yêu thú hung dữ cỡ lớn mới dọn tới làm ổ...”
Triệu Khải mới chỉ nói được nửa câu thì Tạ Vân đã ngước mắt lên, hỏi ngắn gọn đúng ba câu liên tiếp vào chuyên môn thợ săn của anh ta:
“Trong suốt hai chuyến đi vừa qua, ngươi có tìm thấy một dấu vết săn mồi nào của đại yêu thú ở quanh vành đai đó không?”
Triệu Khải dừng lại một thoáng rồi lắc đầu:
“Dạ không có.”
“Có phát hiện thấy bộ xương hay xác thú rừng nào bị cắn xé bỏ lại dọc đường không?”
“Cũng chẳng có luôn.”
“Thế có ngửi thấy mùi chất thải đánh dấu lãnh địa hay vết cào móng lên thân cây cổ thụ như tập tính của các loài thú đầu đàn không?”
“Chẳng nhìn thấy một dấu hiệu nào như vậy cả.”
Đúng lúc đó, Soma sau khi đã ngủ đẫy giấc và rửa mặt tỉnh táo cũng vừa bước qua ngưỡng cửa phòng làm việc. Nghe cuộc đối đáp giữa Tạ Vân và Triệu Khải, anh bước lại gần bàn bản đồ và góp thêm một góc nhìn thực tế:
“Nếu nguyên nhân chỉ đơn giản là vì sợ hãi một con mãnh thú cỡ lớn mới xuất hiện, thì thông thường chỉ có các loài ăn cỏ to xác hoặc những kẻ đi săn cạnh tranh trực tiếp với nó mới phải dạt đi thôi. Đằng này ngay cả những bầy gặm nhấm nhỏ xíu ăn củ rừng vốn chẳng phải thức ăn của đại yêu thú cũng lục tục kéo nhau đổi hướng rời đi rải rác suốt nhiều tháng trời...”
Đứng kế bên bàn, Riku nối tiếp luôn ý của Soma bằng một chi tiết quan trọng không kém:
“Và thời điểm các bầy thú đó rời đi chẳng diễn ra vào cùng một ngày hay chung một tuần lễ.”
Harpe xác nhận tức thì.
Đó chính là điểm mấu chốt quan trọng nhất mà dữ liệu phân lớp thời gian của Triệu Khải đã chỉ ra. Tất cả hiện tượng dịch chuyển ở vùng núi phía bắc này chẳng giống với cảnh tượng một biến cố kinh hoàng đột ngột nổ ra trong một đêm khiến vạn vật hoảng loạn tháo chạy tán loạn. Trái lại, nó diễn ra một cách âm ỉ, kéo dài từ tháng này qua tháng khác, khiến từng tầng lớp sinh thái từ thú lớn đến thú nhỏ cứ thế lần lượt tự điều chỉnh lại lối đi hàng ngày của chúng để lùi dần ra xa.
Tạ Vân cúi đầu nhìn chăm chú vào khoảng giấy trắng tinh nằm bên trong đường cung nét đứt của Harpe, sau một hồi suy ngẫm sâu sắc, cô mới chậm rãi cất tiếng nói ra một nhận định làm thay đổi hẳn cục diện điều tra:
“Nếu muông thú qua nhiều tháng trời vẫn cứ tiếp tục né tránh đúng một khu vực cố định như thế này... vậy thì thứ đang nằm ở chính giữa vùng đất kia rất có khả năng là một thứ đứng yên tại chỗ.”
Nam đang đứng khoanh tay phía sau ghế nghe câu nói ấy của Tạ Vân thì ánh mắt liền sắc lại.
Chỉ một câu nhận định ngắn gọn ấy của Tạ Vân đã làm bầu không khí trong căn phòng làm việc thay đổi hẳn. Dù đó vẫn chưa phải là kết luận cuối cùng, nhưng nó đã mở toang ra một hướng tiếp cận mới mẻ.
Bởi vì theo quy luật sinh thái, nếu nguyên nhân gây ra sự xáo trộn là một kẻ săn mồi di động, thì phạm vi vùng bị ảnh hưởng bắt buộc phải dịch chuyển liên tục từ thung lũng này sang sườn đồi khác theo bước chân đi săn của con thú đó. Ngược lại, khi tất cả các loài động vật suốt nhiều tháng ròng đều chỉ tìm cách đi vòng qua đúng một tọa độ không đổi... thì vấn đề cốt lõi nhiều khả năng nằm ở chính bản thân mảnh đất tại khu vực đó.
Đó có khả năng là một sự biến đổi ngầm về cấu trúc địa chất, một mạch linh khí hoặc hơi độc thoát ra từ lòng đất, một nguồn nước bị biến tính. Hoặc đó là một vật thể cố định không có chân như công trình cổ xưa bị vùi lấp, một di tích trận pháp vừa phát sinh dị biến, hay một hiện tượng tự nhiên nào đó mà hiện tại họ chưa đặt tên được.
Harpe ngay cầm cây bút bi mực đen lên, viết nắn nót một dòng ghi chú rất rõ ràng vào phần lề phải của tấm bản đồ: Giả thuyết làm việc tiếp theo - Nguồn gây tác động mang tính chất khu vực hoặc vật thể cố định tại chỗ, trạng thái: chưa xác minh thực địa.
Trong suốt buổi họp tổng kết chiều hôm ấy tại xưởng Tây Sơn, không một ai dùng tới những từ ngữ giật gân như “quái vật đầu đàn”, và cũng chẳng có ai vội vã đóng dấu gọi vùng đất phía bắc kia là “cấm địa tử thần”. Trên mặt tấm bản đồ giấy bản rộng lớn, phía bên trong đường vòng cung nét đứt vẫn được giữ nguyên là một khoảng giấy trắng mênh mông chờ được kiểm chứng.
Đến tối muộn ngày hôm đó, khi mọi người trong xưởng đều đã về phòng nghỉ ngơi sau một ngày bận rộn và chỉ còn lại một mình Nam nằm đọc sách dưới ánh đèn lồng ngoài hiên, hắn mới quyết định tự mình mở giao diện hệ thống Wikia lên để thử vận may một lần nữa.
Nam nằm nghiêng trên chiếc ghế mây, thầm nhập vào thanh tìm kiếm của Wikia một chuỗi từ khóa chi tiết nhất có thể: hiện tượng nhiều loài động vật hoang dã chủ động di chuyển né tránh một khu vực địa lý cố định theo hình vòng cung kéo dài nhiều tháng mà không có dấu vết giao chiến hay săn giết.
Tức thì, kho dữ liệu khổng lồ của hệ thống trả về trước mắt hắn hàng trăm trang kết quả trích xuất từ đủ mọi thế giới khoa học viễn tưởng, phép thuật và kỳ ảo khác nhau.
Nào là sự cố ô nhiễm hóa chất công nghiệp ngầm, thoát khí độc tự nhiên từ miệng núi lửa tắt, bức xạ từ trường bất thường. Trường năng lượng ma thuật cổ đại bị rò rỉ, hào quang uy áp thụ động của lãnh địa sinh vật cấp cao, vết nứt dị thường không gian, cho tới cả các thảm họa biến đổi môi trường sinh thái...
Danh sách các nguyên nhân có thể xảy ra dài dằng dặc và đa dạng tới mức gần như bao trùm trọn mọi giả thuyết trên đời, mà một khi kết quả tra cứu đã trả về quá nhiều khả năng mông lung như vậy thì xét về mặt chỉ dẫn thực tế nó lại vô dụng.
Nam thở dài một tiếng, hắn thử xóa dòng mô tả hiện tượng đi rồi nhập thẳng cụm từ khóa địa danh cụ thể vào thanh tìm kiếm: Vùng núi phía bắc thành Thanh Hà, quốc gia Đại Càn.
Màn hình giao diện hiện lên dòng chữ thông báo như mọi khi: Không tìm thấy dữ liệu nào khớp với từ khóa tra cứu.
Kết quả trống rỗng ấy giống hệt như những lần hắn thử tra cứu các địa danh bản địa từ hồi mới xuyên không tới nay.
Nam dứt khoát phất tay đóng sập cửa sổ giao diện Wikia lại mà chẳng cố gắng lục lọi thêm một thế giới tương đồng nào khác để lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia nữa.Đối với bài toán thực tế đang nằm ở vùng núi phía bắc kia, ngày mai Harpe sẽ tiếp tục thông qua mạng lưới của Lưu chưởng quầy để hỏi thăm thêm các nhóm thợ săn lão luyện trong vùng, Tạ Vân sẽ mang số liệu về bên Lạc Hà để đối chiếu với hồ sơ ghi chép linh khí qua các năm. Triệu Khải sẽ tiếp tục phân tích đặc điểm dấu chân, nếu sau này phát hiện có dấu vết liên quan đến cổ trận hay ký hiệu trận văn thì đã có Ngô Thành sẵn sàng tham gia thẩm định, còn nếu thu thập được mẫu đất đá hay vật liệu lạ thì đã có phòng thí nghiệm của Ciel ở ngay dưới xưởng.
Mỗi một con người bằng xương bằng thịt đang sống quanh hắn sẽ tự đảm nhận một phần việc đúng với sở trường của mình. Còn cái kho dữ liệu Wikia kia nếu đã không biết gì về Đại Càn thì cứ để cho nó nghỉ ngơi thôi.
Nghĩ thông suốt mọi chuyện, Nam khoan khoái duỗi thẳng hai chân ra trên mặt ghế mây. Ở bên ngoài mái hiên, làn gió đêm giữa thu thổi lùa qua các rặng trúc mang theo hơi lạnh thấm dần qua lớp vải quần áo mỏng. Nam liền thò tay xuống chiếc hộp gỗ dưới gầm ghế, kéo chiếc túi ngủ dã ngoại thường ngày của mình lên rồi phủ kín từ ngang bụng xuống tới tận mũi bàn chân.
Cảm giác ấm áp mềm mại tức thì bao bọc lấy đôi chân khiến hắn hài lòng ra mặt, phải công nhận là cái túi vải này để ở dưới gầm ghế mây dùng tiện lợi hết chỗ chê.
Đúng lúc ấy, Mina vừa khóa cửa nhà bếp xong đang cầm đèn dầu đi dọc theo hành lang để về phòng nghỉ. Khi đi ngang qua chỗ chiếc ghế mây, cô dừng bước lại một thoáng, cúi mắt nhìn chiếc túi ngủ đang đắp trên chân Nam.
Không đợi cho Mina kịp mở miệng hay giữ im lặng gây áp lực như lần trước, Nam đã giơ một ngón tay lên chặn trước và nói gọn hai chữ:
“Bà đừng nói gì cả nhé.”
Mina nhìn bộ dạng phòng thủ từ xa của hắn thì cười xòa khẽ một tiếng, cô lắc đầu rồi thong thả bước tiếp về phía dãy phòng ngủ mà chẳng nói thêm nửa lời.
Bước vào tuần lễ cuối cùng của tháng giữa thu, hết thảy nhịp sinh hoạt và làm việc tại xưởng mình lại quay trở về với guồng quay thường nhật vốn có.
Sau vài hôm dưỡng sức, Ronan đã nhận lời lên đường thực hiện một hợp đồng hộ tống hàng hóa ngắn hạn cho một thương đoàn quen ở huyện bên. Ở khu xưởng kỹ thuật phía đông, Ciel đang bận rộn tháo kiểm tra và cân chỉnh lại bộ mạch ổn áp của trạm sạc đèn đội đầu sau đợt đi rừng dầm mưa ẩm. Riêng Zero thì hôm nay được Ciel kiên quyết yêu cầu phải ngồi nghỉ ngơi trọn một buổi không phải động tay vào việc nặng dưới xưởng, bởi vì sau chuyến lội bùn đá ở vùng núi phía bắc về, phần khớp truyền động ở cổ chân của anh bị bụi cát mịn lọt vào nhiều hơn hẳn mức bình thường nên cần được làm sạch và tra dầu bảo dưỡng kỹ lưỡng.
Trong khi đó, Soma sau khi đã ngủ bù đủ giấc và ăn uống no nê thì buổi chiều lại thong thả bước ra ghế đá ngoài sân ngồi hóng mát, tiện tay triệu hồi luôn Imp từ trong ấn ký ra cho nó bay nhảy giãn gân cốt. Vừa nhìn thấy bóng dáng nhỏ nhắn có đôi cánh dơi của Imp xuất hiện giữa sân, Chocobo đang nằm dưới gốc cây hòe liền mừng rỡ đứng bật dậy, vẫy cánh chạy lộc cộc tới rủ Imp chơi trò đuổi bắt quanh giếng nước.
Ở chiếc bàn đá kê dưới bóng mát cách đó không xa, Riku đang ngồi ngay ngắn cùng với A Thạch để tiếp tục buổi học nhận mặt chữ Đại Càn hàng ngày của mình.
A Thạch nhúng đầu ngón tay trỏ vào bát nước lã sạch đặt trên bàn, vạch một nét chữ tượng hình khá lớn và rõ ràng lên mặt phiến đá xanh phẳng lì để làm bảng nháp, đoạn cậu nhóc chỉ vào chữ nước vừa viết rồi ngước lên hỏi Riku:
“Chữ phương hướng này hôm trước đệ với Hứa huynh chỉ rồi này, Riku huynh nhìn xem có nhận ra là chữ gì không?”
Riku cúi nhìn cấu trúc hai phần đối xứng nhau của chữ viết trên mặt đá, không cần suy nghĩ lâu đã đáp ngay:
“Chữ này thì tôi nhớ rõ rồi, đây là chữ Bắc.”
A Thạch ghi nhận khen đúng, rồi cậu nhóc lại nhúng ngón tay vào bát nước, vạch tiếp một chữ khác có nét gạch ngang xuyên qua chữ Mộc ở gần đó:
“Thế còn chữ thứ hai này là hướng nào hả huynh?”
“Đây là chữ Đông.”
Thấy Riku đọc thông thạo liền hai chữ không sai một nét, A Thạch liền hào hứng vạch tiếp một chữ nữa có phần khung bao quanh chữ Thập ở bên dưới lên mặt đá:
“Vậy còn cái chữ thứ ba này thì sao ạ?”
Lần này, Riku nhìn nét chữ ướt nước trên mặt bàn đá rồi đột nhiên giữ im lặng chưa đọc lên ngay.
A Thạch tưởng Riku quên mất mặt chữ nên liền toe toét cười và nhắc bài luôn:
“Chữ này đọc là Nam đấy huynh ạ.”
Nghe A Thạch nhắc xong, Riku từ từ ngước mắt lên nhìn về phía chiếc ghế mây đặt dưới mái hiên nhà chính cách đó vài trượng - nơi Lê Mai Nam vẫn đang nằm dài đọc sách từ đầu giờ chiều tới giờ. Nhìn bóng dáng Nam một thoáng, Riku mới quay lại nhìn A Thạch và bình thản nói:
“Nếu là cái tên Nam đó thì tôi biết rõ lâu rồi.”
A Thạch ngẩn người ra một thoáng rồi mới hiểu ý của Riku, cậu nhóc vội vàng chỉ tay xuống mặt bàn đá giải thích:
“Ơ kìa, đệ đang nói đây là chữ Nam chỉ phương hướng ở trên bản đồ cơ mà, đâu phải nói tên của Nam ca đâu!”
Riku phì cười trước vẻ mặt luống cuống giải thích của cậu nhóc.
Nhưng ở tít đằng xa dưới mái hiên nhà chính, Nam dù đang cầm cuốn sách che ngang mặt vẫn ngay cất cao giọng nói vọng ra sân:
“Này hai cái người đằng kia, tôi nằm ở đây vẫn đang nghe rõ từng chữ hai người đem tên tôi ra làm bài học đấy nhé.”
A Thạch giật mình quay đầu về phía hiên nhà, vội vàng khua tay thanh minh:
“Oan cho đệ quá Nam ca ơi, đệ đang dạy Riku huynh viết chữ chỉ phương hướng chứ có nhắc gì liên quan tới huynh đâu ạ!”
Nam hạ cuốn sách xuống ngực, đáp gọn lỏn:
“Không liên quan đến tôi nhưng mà tai tôi vẫn cứ nghe thấy đấy.”
Đúng lúc hai anh em ngoài sân còn đang dở khóc dở cười thì Hứa An vừa bê một chồng giấy bản mới mua từ ngoài cổng đi ngang qua bàn đá. Cậu đặt xấp giấy xuống góc bàn, liếc nhìn chữ viết bằng nước lã trên mặt đá rồi nghiêm mặt nhắc A Thạch:
“Đệ dạy Riku huynh nhận mặt chữ thì phải giảng nghĩa từng chữ cho rạch ròi vào, đừng có dạy lẫn lộn tên người với tên phương hướng như thế.”
A Thạch gãi đầu phân bua:
“Đệ có dạy lẫn đâu, tại âm đọc tiếng mình nó trùng nhau đấy chứ.”
Riku nhìn nét chữ bằng nước đang khô dần trên mặt đá xanh, cậu chỉ ngón tay vào đó và tò mò hỏi:
“Ủa Hứa An, vậy trong văn tự của Đại Càn thì chữ dùng để chỉ hướng nam ở trên bản đồ với chữ Nam trong tên riêng của anh ấy là được viết giống hệt nhau luôn à?”
Hứa An dừng bước bên bàn đá, kiên nhẫn giải thích rõ cấu tạo bộ thủ và ý nghĩa tương đồng của chữ Nam trong tiếng Hán cổ cho Riku hiểu.
Ở trên chiếc ghế mây ngoài hiên, Nam nằm nghe Hứa An giảng giải chiết tự cái tên của chính mình một hồi thì đành phải thở dài quay mặt úp cuốn sách lên trán. Ngẫm lại thì sự trùng hợp việc một người đàn ông mang tên Nam lại đang làm chủ khu xưởng Tây Sơn, trong lúc cả nhà suốt ngày mở bản đồ ra bàn chuyện đi khảo sát bốn hướng đông tây nam bắc đúng là một mỏ nguyên liệu quá đỗi dễ dãi để đám người trong nhà đem ra làm trò đùa chữ nghĩa rẻ tiền mà.
Cũng may cho hắn là ở đây mọi người đều thuộc diện nghiêm túc nên không có ai tiếp tục đào sâu khai thác cái trò đùa tên tuổi ấy thêm nữa.
Thực ra thì ở chiếc ghế đá gần đó giếng nước, Soma sau khi nghe xong màn giải thích chữ Nam của Hứa An cũng có vẻ như mới nảy ra một câu bình luận hài hước nào đó và đang định hé môi nói vọng sang hiên. Có điều ngay khi Soma vừa kịp ngước mắt lên thì bắt gặp ngay ánh mắt nhắc nhở nhẹ nhàng của Mina đang đứng phơi khăn ở gần đó.
Chỉ cần một cái liếc mắt ăn ý ấy của người yêu, Soma liền mỉm cười ngậm miệng lại và quay sang ném quả thông cho Imp chơi tiếp. Nam nằm trên ghế mây nhìn thấy cảnh Mina vừa âm thầm cứu mình thoát khỏi một pha trêu chọc của Soma thì trong lòng cảm thấy thật sự biết ơn cô.
Suốt những ngày sau đó, hai chiếc GPS vẫn được cất giữ cẩn thận bên trong chiếc hộp nhựa chống ẩm đặt trên kệ đồ điện tử ở gian xưởng của Ciel. Phía ngoài nắp hộp đã được Ciel dán một mảnh nhãn giấy ghi chú rõ ràng tình trạng kiểm nghiệm thực tế, còn bản thân Nam thì cũng đã thôi hẳn không còn hỏi han gì tới chuyện có nên tháo tung vỏ máy ra để lấy linh kiện hay không nữa. Mọi công tác chuẩn bị bản đồ cho các đợt đi thực địa tiếp theo vẫn tiếp tục trung thành với giấy bản, dấu hiệu địa hình tự nhiên và sổ tay ghi chép của những người trực tiếp đi mở đường.
Đến khoảng vài ngày trước khi khép lại tháng giữa thu, Tạ Vân đã cùng với Triệu Khải quay trở lại khu xưởng thêm một lần nữa để tự tay sao chép cả các điểm tọa độ đã được Harpe chuẩn hóa trên tấm bản đồ tổng.
Đứng trước mặt bàn lớn trong phòng làm việc, Tạ Vân cúi nhìn đường nét đứt trải rộng mà Harpe đã vẽ hôm ngày mười tám, cô đưa đầu ngón tay chạm nhẹ lần lượt vào ba khoảng trống chưa được nối liền ở mạn dưới bên phải rồi lên tiếng nói:
“Trong hành trình vào đầu tháng tới, ta muốn dẫn đội đi kiểm tra kỹ khu vực các khe núi nằm ở mạn đông nam của đường vòng cung này.”
Triệu Khải đứng ở gần bàn nhìn theo vị trí ngón tay của Tạ Vân, đôi lông mày rậm của anh ta nhíu chặt lại:
“Khu vực sườn đông nam đó vốn là những tuyến đường hẹp của đám thợ hái thuốc bản địa hay leo trèo tìm linh thảo. Địa hình ở đấy toàn là khe đá dốc đứng và vực hẹp, lúc đi vào thì dễ nhưng nhỡ chẳng may trong đoàn có người trượt chân bị thương thì việc cõng người thoát ra ngoài sẽ khá vất vả đấy Tạ trưởng lão.”
Tạ Vân ưng thuận ghi nhận lời cảnh báo thực tế của Triệu Khải:
“Chính vì địa hình khe đá bên đó hiểm trở nên khi về lại tông môn ta sẽ cho tìm hỏi thêm những người hái thuốc lâu năm thông thạo đường sá vùng đó trước đã, hiện tại vẫn chưa chốt danh sách nhân sự cụ thể ai sẽ đi chuyến này đâu.”
Sau khi bàn bạc xong phương hướng sơ bộ, Tạ Vân cẩn thận cuộn bản sao tấm bản đồ lại cất vào túi, trước khi rời đi còn dặn dò Harpe rằng nếu trong mấy ngày tới các nhóm đệ tử khác của Lạc Hà có gửi bổ sung thêm tin tức gì liên quan đến khu vực đã đánh dấu thì nhớ chuyển tin sang cho cô biết trước ngày lên đường.
Vì phía Lạc Hà vẫn chưa ấn định được ngày giờ xuất phát cụ thể cho chuyến khảo sát khe núi đông nam, nên theo đúng nguyên tắc của xưởng, Hứa An chẳng ghi lịch giữ chỗ trước vào bảng phân công kế tiếp, và Nam tất nhiên cũng chẳng có ý kiến phản đối gì. Nghe Tạ Vân và Triệu Khải nhắc tới chuyện tháng sau có khả năng phải leo trèo qua các khe đá dốc đứng, Nam chỉ thuận miệng quay sang hỏi Ciel xem ở trong kho hậu cần hiện tại còn đủ dây thừng lành lặn chịu lực tốt hay không, và tức thì nhận lại lời khuyên vốn có của cô là hãy tự đi mở sổ kiểm kho ra mà xem chứ đừng có ngồi đoán mò.
Ngặt nỗi, khi tháng giữa thu chỉ còn đúng ba ngày nữa là kết thúc và kế hoạch khảo sát tháng sau vẫn còn đang nằm trên bàn giấy, một vị khách không hẹn trước đã vội vã tìm tới gõ cửa trong xưởng.
Vị khách tìm đến lần này là một thương nhân buôn dược liệu trung niên vốn có mối quan hệ quen biết lâu năm với Lưu chưởng quầy ở trong thành Thanh Hà, và được chính ông lão chủ quán trà chỉ đường giới thiệu tìm lên đồi Tây Sơn.
Người thương nhân ấy tìm đến xưởng với vẻ mặt hớt hải khác hẳn những vị khách đến thuê hộ tống hàng hóa hay sửa chữa đồ cơ khí thường ngày.
Ông ta tìm lên đây là để nhờ đi tìm người mất tích.
Theo lời trình bày gấp gáp của vị thương nhân bên bàn trực cổng, một nhóm gồm mười một người thợ hái thuốc lành nghề vốn là bạn hàng làm ăn thân thuộc với hiệu thuốc của ông ta đã rủ nhau lập đoàn đi vào khu vực các khe núi sâu ở mạn đông bắc thành Thanh Hà từ hơn nửa tháng trước để tìm hái dược liệu mùa thu. Theo đúng lịch trình và lượng lương thực mang theo mà họ đã dặn lại người nhà trước lúc lên đường, đáng lẽ tất cả nhóm hái thuốc đó phải quay trở về thành từ hai ngày trước rồi, song tính đến chiều hôm nay vẫn chưa thấy một bóng người nào trở ra.
Nam đang ngồi bên bàn trà nghe Hứa An dẫn khách vào trình bày, vừa nghe tới quy mô đoàn người mất tích liền nhíu mày hỏi lại ngay:
“Tổng cộng số người đi vào khe núi chưa về là mười một người cả thảy à?”
Người thương nhân xác nhận với vẻ mặt đầy lo âu:
“Dạ vâng, cả đoàn đi chung với nhau tổng cộng có đúng mười một người ạ.”
“Trong số mười một người thợ hái thuốc đó có ai là người thông thạo địa hình tuyến khe núi ấy không?”
“Dạ có chứ ạ. Trong nhóm có tới ba bác thợ già đã từng leo trèo hái thuốc ở tuyến khe núi đông bắc đó suốt bảy tám năm nay rồi, đường đi nước bước ở đấy họ đều thuộc như lòng bàn tay.”
“Từ lúc họ quá hạn chưa về tới giờ, có thấy họ gửi tín hiệu khói hay để lại ký hiệu nhắn tin gì ở các trạm nghỉ dọc đường không?”
“Hoàn toàn không thấy có chút tin tức hay dấu hiệu nhắn lại nào cả.”
Đứng ở gần đó bàn bản đồ, Harpe vừa nghe vị thương nhân nói tới khu vực khe núi phía đông bắc liền bước nhanh ra sảnh chính và hỏi trực tiếp vào các thông số điều tra:
“Lần cuối cùng có người ngoài nhìn thấy nhóm mười một người hái thuốc đó là ở vị trí nào?”
Người thương nhân cố gắng giữ bình tĩnh nhớ lại từng chi tiết rồi đáp:
“Lần cuối có người nhìn thấy họ là lúc cả nhóm dừng chân nghỉ qua đêm ở trạm nghỉ chân nhỏ nằm ngay bên dưới cửa khe đá.”
“Chính xác là vào ngày mùng mấy của tháng này?”
Người thương nhân đọc rõ ngày tháng mà chủ trạm nghỉ đã nhìn thấy đoàn người đi vào khe. Harpe liền rút cuốn sổ tay nhỏ và cây bút bi trong túi áo ngực ra ghi chép lại con số ngày tháng đó.
Ghi xong, Harpe ngước mắt lên hỏi tiếp câu quan trọng nhất:
“Sau khi thấy họ quá hạn hai ngày chưa về, dưới phố huyện đã có ai tổ chức người lên trên khe núi đó để tìm kiếm thử chưa?”
“Dạ sáng sớm hôm qua gia đình của họ đã nhờ hai thợ săn bản địa quen đường đi lên tới tận chỗ cửa khe đá để ngó thử rồi ạ. Nhưng vừa bước vào bên trong cửa khe được một đoạn ngắn thì hai Triệu Khải đó nhìn thấy dấu vết cỏ cây và đất đá dưới lòng khe bị giẫm đạp lộn xộn bất thường quá, chỉ có hai người đơn độc nên họ sợ gặp chuyện bất trắc không dám đi sâu thêm mà phải vội vã quay đầu về báo tin ngay.”
Thời điểm vị thương nhân mang tin dữ này tới nhà Tây Sơn thì Tạ Vân đã quay trở về trụ sở của Lạc Hà tông từ hôm trước chứ không có mặt ở đây.
Nắm bắt được mức độ nghiêm trọng của sự việc liên quan đến mười một mạng người ở vùng núi giáp ranh khu vực đang khảo sát, Hứa An không một chút chậm trễ liền viết ngay một bức thư tóm tắt ngắn gọn rồi giao cho A Thạch tức tốc cưỡi Đại Hoàng chạy thẳng sang trụ sở liên lạc của tông môn để báo tin cho Tạ Vân.
Ở giai đoạn thông tin còn chưa rõ ràng này, xưởng mình chưa thu tiền đặt cọc hay ký giấy cam kết ngay, trước mắt chỉ tiếp nhận đầu mối và thông báo khẩn cấp cho phía Lạc Hà cùng phối hợp.
Sau khi vị thương nhân đã được Hứa An mời uống nước và dặn về chuẩn bị danh sách chi tiết rồi ra về, Nam mới bước vào trong phòng làm việc và đứng nhìn chằm chằm vào tấm bản đồ địa hình khổ lớn trên bàn.
Vị trí của dải khe núi nơi mười một người thợ hái thuốc vừa mất liên lạc nằm ở ngay mạn rìa đông nam của đường vòng cung nét đứt mà Harpe mới vẽ lên bản đồ vài ngày trước. Địa điểm đó tuy nằm khá gần các điểm chuyển hướng của thú rừng mà đội khảo sát vừa đi qua, nhưng vẫn thuộc vành đai bên ngoài chứ chưa lọt vào khoảng giấy trắng trung tâm.
Đứng trước sự trùng hợp nhạy cảm về mặt vị trí địa lý ấy, Harpe vẫn giữ nguyên cái đầu lạnh và nguyên tắc làm việc tỉnh táo: anh chẳng vội vã cầm bút vẽ một đường nối để gộp vụ mất tích của mười một người hái thuốc này vào làm một với đường vòng cung dị biến của đàn thú rừng.
Harpe chỉ lặng lẽ cầm một viên đá chặn giấy đặt đè lên tờ ghi chú thông tin vừa viết trên bàn. Lúc nãy trước khi vị khách ra về, Harpe đã cẩn thận hỏi kỹ xem lượng lương thực khô mà nhóm người kia mang theo trên người tối đa có thể cầm cự được bao nhiêu ngày, và ông chủ hiệu thuốc đã lắc đầu cho biết những người đi rừng lâu năm khi gặp mùa thảo dược tốt vẫn thường có thói quen tự kiếm thêm củ mài, cá suối để nán lại trong núi lâu hơn dự tính ban đầu vài ba hôm.
Đứng ở sát bên khung cửa sổ, Riku nhìn chấm đỏ đánh dấu vị trí cửa khe đá trên bản đồ, trong lòng cậu rất muốn mở miệng hỏi Nam và Harpe xem liệu xưởng mình có ngay xuất phát lên đường đi tìm cứu mười một người đó ngay trong đêm nay hay không. Có điều khi nhìn thấy Hứa An đã nhanh nhẹn cử A Thạch cưỡi ngựa đi báo tin cho Tạ Vân và nhìn ra bầu trời bên ngoài cửa sổ đã bắt đầu sập tối hẳn, Riku đã tự mình hiểu ra câu trả lời.
Quãng đường từ đồi Tây Sơn đi ngược lên tới tận cửa khe núi phía đông bắc xa xôi hiểm trở đòi hỏi phải xuất phát vào ban ngày sau khi đã chuẩn bị đầy đủ thông tin.
Harpe đặt cây bút bi xuống cạnh viên chặn giấy, anh ngước mắt nhìn Nam và Hứa An rồi nói rõ kế hoạch chuẩn bị bước tiếp theo:
“Sáng sớm ngày mai chúng ta sẽ bảo vị thương nhân kia dẫn tới gặp trực tiếp thân nhân của nhóm người mất tích để hỏi lại trọn lộ trình thường lệ của họ, đồng thời phải lấy cho đủ họ tên, tuổi tác và đặc điểm nhận dạng của từng cá nhân. Hiện tại trên mặt bàn của chúng ta đang có cùng lúc hai sự việc riêng biệt: một khoảng giấy trắng chưa rõ bản chất ở vùng núi phía bắc, và một toán mười một thợ hái thuốc quá hạn hai ngày chưa về ở khe đá đông nam. Trước khi có bằng chứng xác thực tại hiện trường, quyết không ai được phép tự coi hai chuyện đó là nguyên nhân và kết quả giải thích cho nhau.”
Nam đứng bên bàn bản đồ, tay cầm tờ giấy trắng dùng để lập danh sách nhân sự dự kiến mà vẫn còn đang để trống trơn. Trong một thoáng, hắn chợt nhớ tới hai chiếc GPS đang nằm im lìm trong hộp nhựa dưới xưởng của Ciel và định buông một câu bông đùa cho bầu không khí trong phòng đỡ căng thẳng, nhưng nghĩ tới chuyện có mười một mạng người đang bặt vô âm tín giữa rừng sâu lạnh giá, hắn lại lẳng lặng nuốt ý nghĩ ấy vào trong bụng.
Ở ngoài khoảng sân gạch tĩnh mịch dưới ánh đèn lồng vừa thắp sáng, Shiroma đang đứng kế bên hiên kho, hai bàn tay nhỏ nhắn cẩn thận thắt lại dây buộc của chiếc túi vải đựng thảo dược khô vào đai yên trên lưng của Chocobo để chuẩn bị sẵn sàng cho buổi sáng sớm ngày mai mang sang Lương y quán. Chocobo sau một ngày chạy nhảy ngoài sân lúc này đã bắt đầu thấm cơn buồn ngủ, đôi mắt tròn xoe của nó cứ nhắm hờ lại rồi hai bàn chân ba ngón lại khẽ giẫm nhẹ tại chỗ trên mặt gạch theo hơi thở đều đặn.
Nam đứng nhìn cảnh tượng bình yên ngoài sân thêm một thoáng, sau đó hắn cẩn thận gấp đôi tờ giấy danh sách còn bỏ trống lại và đưa tận tay cho Hứa An, dặn cậu đặt mảnh biểu mẫu ấy ở ngay chính giữa mặt bàn trà gần cửa sảnh nhất.
Chỉ cần đặt sẵn tờ giấy ở đó, sáng sớm ngày mai ngay khi người đầu tiên mang tin tức xác nhận từ phía nhóm Lạc Hà và gia đình các nạn nhân bước chân qua cổng, tất cả mọi người trong khu xưởng sẽ biết rõ mình cần phải lên đường đi tìm những ai.