Cuối đông năm ấy lạnh hơn hẳn hai năm trước. Cái rét ở thành Thanh Hà tuy chưa tới mức làm đóng băng cả mặt ao hay phủ tuyết trắng xóa lên mái ngói như những vùng đất mà Lê Mai Nam từng nhìn thấy trên mạng ở thế giới cũ, nhưng cũng đủ khiến mỗi buổi sáng thức dậy mọi người trong nhà đều tự giác xích lại gần bếp lửa hơn. A Thạch giờ đã thôi không còn coi lớp băng mỏng kết trên miệng chum nước ngoài sân là chuyện lạ lùng đáng để gọi cả nhà chạy ra xem nữa. Bản thân Shiroma cũng bắt đầu làm quen với kiểu thời tiết đỏng đảnh của vùng này, khi buổi sáng sớm gió thổi lạnh tới mức tê cứng cả đầu ngón tay nhưng tới giữa trưa trời lại hửng nắng đủ ấm để Mina mang chăn đệm ra sân phơi. Xưởng Tây Sơn bước vào tháng cuối cùng của năm thứ ba bằng mùi than củi cháy đượm, mùi hương các món đồ ăn Tết bắt đầu bày bán rộn ràng ngoài chợ và một danh sách chi tiêu dài dặc khiến Nam phải ngồi nhìn rất lâu.
Hứa An đặt tờ giấy tổng kết ngay ngắn trước mặt hắn, đẩy thêm cuốn sổ cái qua mặt bàn rồi dừng ngón tay ở cột chi phí tháng Chạp:
“Tiền than tháng này tăng vọt lên là do đợt rét đậm kéo dài. Khoản đong gạo và mua thịt vẫn nằm trong định mức Nam huynh đã duyệt từ đầu tháng. Chỉ có riêng khoản sửa lại cánh cửa phía đông là đội lên cao hơn so với dự tính ban đầu.”
Nam cúi đầu nhìn con số ghi trên giấy, thắc mắc hỏi:
“Cao hơn bao nhiêu thế? Mà sao lại phải thay mới cả khung cửa?”
“Lúc trước chính Nam huynh đã dặn lão Tề là hễ thấy gỗ mục thì phải thay luôn một thể, đừng có chắp vá đi chắp vá lại mất công.” Hứa An vừa đáp vừa lật sang mặt giấy phía sau để chỉ cho hắn xem phần chữ ký xác nhận của người thợ mộc.
Nam nhìn nét chữ quen thuộc thì nhớ ra ngay. Cánh cửa gỗ cũ ở hướng đông vốn đã bị xệ bản lề kẹt cứng suốt mấy tháng trời, thậm chí chính tay hắn cũng từng bị kẹp một lần lúc đi ngang qua đó. Hắn đành đẩy cuốn sổ trả lại cho cậu thư sinh:
“Được rồi, khoản sửa cửa này giữ nguyên. Thế còn cái mục tiền mua đồ đạc của bà Ciel ở ngay bên dưới là những thứ gì đây?”
“Đó là tiền làm bộ khung gá sạc, các mối đầu nối kim loại và vật tư tiêu hao thay thế trong xưởng. Tiểu đệ đã chủ động tách riêng khoản chi phí vận hành của công xưởng ra khỏi khoản tiền sinh hoạt ăn uống hằng ngày của cả nhà rồi ạ.”
“Tách ra là đúng, nhưng lần sau cậu nhớ ghi chú rõ từng hạng mục nhỏ ở bên cạnh. Viết gộp một cục tròn trĩnh thế này người ngoài nhìn vào lại tưởng bà ấy vừa đặt mua cả nửa cái lò rèn về nhà.”
Hứa An cầm cây bút lên gạch chỉnh lại tiêu đề đầu mục, điềm nhiên đáp:
“Tên gọi của khoản chi thì tiểu đệ có thể viết tách ra ngay, nhưng tổng số bạc phải trả thì vẫn giữ nguyên không bớt được đồng nào đâu ạ.”
Nam bưng chén trà nóng lên nhấp một ngụm, đưa mắt nhìn hàng số tổng kết ở cuối trang giấy thêm một bận nữa rồi đành từ bỏ ý định mặc cả. Lần này Hứa An nắm trong tay đầy đủ cả giấy biên nhận của thợ lẫn lời dặn dò do chính miệng ông chủ xưởng phát ra, hắn có muốn bắt bẻ cũng chẳng tìm được kẽ hở nào.
Ba năm về trước, toàn bộ sổ sách chi tiêu của một kẻ sống cảnh độc thân như hắn chỉ gói gọn trong chuyện cơm nước qua ngày, tiền thuê chỗ trọ và dăm ba món đồ lặt vặt. Thế rồi lần lượt từng người một xuất hiện. Bắt đầu từ Mina, tiếp đến là Ciel, Soma, rồi Zero và những người bạn đến sau. Từ lúc dọn về khu xưởng Tây Sơn này, dưới mái nhà không chỉ có thêm nhân sự chạy việc ngoài thành mà còn phát sinh ra đủ thứ chi phí bảo trì trang bị, sắm sửa dụng cụ cơ khí, tiền mua than sưởi, tiền cắt thuốc men và tiền trả công cho nhóm thợ bản địa. Cả một núi đầu việc lặt vặt mà thời còn sống một mình hắn chưa bao giờ nghĩ tới chuyện phải lập sổ ghi chép thành từng khoản mục riêng biệt.
Đổi lại, nguồn thu nhập đổ về xưởng hiện giờ cũng đã khác xa so với thời kỳ đầu. Bạc chảy vào quỹ đến từ những chuyến đi tìm người mất tích, những hợp đồng hộ tống thương đội, các vụ giải quyết yêu thú quấy nhiễu, cộng thêm tiền sửa chữa đồ đạc, tư vấn kỹ thuật và cả phí giới thiệu đầu việc cho người quen. Dòng tiền mỗi tháng về không hẳn lúc nào cũng đều đặn như vắt chanh, có tháng khách khứa tấp nập thu vào rất khá, lại có những tháng chỉ dừng ở mức bình thường. Thế nhưng ít nhất tới mỗi dịp cuối tháng, Nam đã không còn phải rơi vào cái cảnh ngồi đếm từng đồng bạc lẻ trong túi rồi tự hỏi nếu tháng sau chẳng có ma nào gõ cửa thuê việc thì cả đám lấy gì bỏ vào bụng.
Hứa An gõ nhẹ đầu bút xuống dòng chữ cuối cùng trên trang giấy, lên tiếng:
“Vẫn còn một chuyện quan trọng nữa cần bàn đấy Nam huynh.”
Nam lập tức nảy sinh phản xạ cảnh giác:
“Chuyện gì nữa?”
“Là chuyện tiền thuê mảnh đất Tây Sơn này.”
Nam ngước mắt nhìn cậu thư sinh:
“Sắp đến hạn đóng tiền tiếp rồi à?”
“Còn hơn một tháng nữa mới tới ngày hạn trên giấy giao kèo.”
“Thế cậu lôi ra nhắc sớm làm cái gì?”
Hứa An không trả lời ngay. Cậu điềm tĩnh rút từ dưới kẹp hồ sơ ra một tờ giấy khác, trên mặt giấy là mấy con số thống kê đã được tính toán và trình bày hết sức gọn gàng. Nam cúi xuống nhìn lướt qua, buột miệng hỏi:
“Số liệu gì đây?”
“Dòng trên là tổng số tiền thuê đất mà chúng ta đã đóng suốt hai năm qua.” Hứa An chỉ tay xuống dòng chữ ngay bên dưới rồi nói tiếp: “Còn dòng này là toàn bộ số bạc mà xưởng mình đã bỏ ra để tự tu sửa lại nơi này tính từ ngày đầu dọn tới.”
Nam đưa mắt đọc dọc theo từng hạng mục được liệt kê. Tiền lợp lại mái ngói gian chính, tiền đào rãnh thoát nước, tiền thay khung cửa gỗ, tiền gia cố nhà kho, tiền cải tạo dãy phòng ngủ phía sau, tiền dựng gian xưởng cơ khí cho Ciel, tiền đóng bàn tiếp khách ngoài cổng, tiền trát lại bức tường rào và tiền đầm phẳng mặt sân đất. Những khoản chi tiêu mà lúc rút hầu bao trả từng đợt vốn nghe có vẻ chẳng đáng là bao, tới khi được đặt nằm sát cạnh nhau trên cùng một mặt giấy lại cộng dồn thành một con số khiến người ta phải giật mình. Nam đọc hết từ đầu tới cuối tờ giấy rồi ngả hẳn lưng tựa vào thành ghế:
“Rốt cuộc là cậu đang muốn đề xuất chuyện gì?”
Hứa An nhìn thẳng vào mắt hắn, đáp rành mạch:
“Bên phía chủ đất từng đánh tiếng rằng nếu như xưởng chúng ta có ý định muốn mua đứt luôn mảnh đất này thì hoàn toàn có thể ngồi xuống bàn bạc.”
Nam khẽ nhíu mày:
“Họ nói câu đó từ bao giờ?”
“Ngay từ đợt tiểu đệ cầm bạc đi nộp tiền thuê kỳ trước rồi ạ.”
“Sao lúc đó về cậu không nói lại với tôi câu nào?”
“Bởi vì tại thời điểm đó số bạc tích lũy trong quỹ của xưởng mình vẫn chưa đủ dày để tính tới chuyện mua đất.”
Nam cúi nhìn lại con số tồn quỹ hiện tại trên cuốn sổ cái, chép miệng nói:
“Kể cả có là bây giờ thì số tiền nhàn rỗi trong hòm cũng chưa chắc đã đủ để chồng một lần đâu.”
“Giá cả đất đai vốn dĩ luôn có thể thương lượng được mà huynh.”
Nam bật ra một tiếng cười khô khốc:
“Cậu học cái giọng điệu đi buôn đó từ ai thế hả?”
“Tiểu đệ học từ chính Nam huynh chứ còn ai vào đây nữa.”
Nam trố mắt nhìn cậu thư sinh đang ngồi ngay ngắn đối diện mình:
“Tôi nhớ là mình chưa từng dạy cậu kinh nghiệm đi mua đất bao giờ cả.”
“Nam huynh không dạy mua đất, nhưng huynh từng dạy tiểu đệ là bước ra đường làm ăn thì không bao giờ được phép trả giá một cách ngu ngốc.”
“Câu đó vốn là nguyên tắc sinh tồn cơ bản của con người ta rồi.”
“Nguyên tắc đó đem áp dụng vào chuyện hỏi mua đất lần này vẫn dùng tốt chán ạ.”
Nam á khẩu, nhất thời không tìm được câu nào để vặn lại. Ở ngoài khoảng sân đất phía trước, tiếng của Mina đang gọi A Thạch chạy ra phụ bê mấy bó củi khô xếp vào dưới hiên nhà tránh sương ẩm vang lên rất rõ. Từ phía gian xưởng cơ khí đằng sau vọng lại tiếng kim loại va chạm lách cách đều đặn, xen lẫn với giọng của Ciel đang trao đổi thông số kỹ thuật gì đó cùng với Zero. Trong gian bếp ấm sực mùi khói, Shiroma đang ngồi bên chõng tre phụ Mina nhặt rau chuẩn bị bữa trưa. Ronan và Harpe từ sáng sớm đã cưỡi ngựa đi một chuyến ngắn vào trong nội thành, còn Soma vẫn chưa quay về sau chuyến nhận việc ở mạn phía nam.
Mảnh đất Tây Sơn này hơn hai năm về trước vốn dĩ chỉ là một khu xưởng nhuộm vải cũ nát bị người ta bỏ hoang không ai ngó ngàng tới. Thế nhưng ở thời điểm hiện tại, nếu như một ngày nào đó buộc phải thu dọn đồ đạc rời khỏi nơi đây, bản thân Nam cũng chẳng biết phải dùng cái tên gì để gọi những thứ mà cả đám đã tự tay gây dựng lên giữa bốn bức tường này. Nơi này từ lâu đã vượt qua khỏi giới hạn của một chỗ che mưa che nắng tạm bợ hay một cửa tiệm làm ăn đơn thuần.
Hứa An kiên nhẫn đợi cho hắn ngẫm nghĩ xong mới lên tiếng hỏi lại:
“Vậy ý của Nam huynh thế nào? Chúng ta có mở lời bàn chuyện này với bên chủ đất không ạ?”
Nam cúi nhìn tờ giấy thống kê trên mặt bàn thêm một lần nữa, đoạn gật đầu chốt hạ:
“Trước mắt cứ xác định là chưa vội xuống tiền mua ngay lập tức đâu đấy.”
“Dạ, chuyện đó tiểu đệ hiểu rõ.”
“Cậu chỉ mới dừng ở bước đánh tiếng hỏi dò mức giá họ muốn phát ra thôi.”
“Vâng.”
“Và quan trọng nhất là lúc nói chuyện tuyệt đối đừng có để lộ ra bộ dạng là xưởng mình đang cần mua mảnh đất này tới mức sốt ruột.”
Trên môi Hứa An thoáng nở một nụ cười rất nhẹ:
“Tiểu đệ nhớ kỹ rồi ạ.”
Nam nheo mắt nhìn vẻ mặt của cậu thư sinh, hỏi vặn lại:
“Này, cậu vừa mới cười cái gì đấy?”
“Tiểu đệ có cười gì đâu ạ.”
“Rõ ràng là khóe miệng cậu vừa mới nhếch lên một cái.”
Hứa An thong thả thu dọn mấy tờ giấy tính toán xếp gọn lại vào trong tập bìa hồ sơ, vẻ mặt đã quay về trạng thái nghiêm trang thường ngày:
“Thực sự là không có gì đâu Nam huynh.”
Nam ngồi nhìn theo bóng lưng cậu thư sinh bước ra phía bàn cổng mà thầm cảm thán trong bụng rằng khoảng thời gian ba năm làm việc chung xem chừng đã quá đủ để một người thật thà như Hứa An học lỏm được cả một rổ những mánh khóe không nên học.
Lượt quay Gacha thứ ba mươi sáu tìm tới vào một buổi sáng cách đó vài hôm. Khá may mắn là vào đúng thời điểm vòng sáng hệ thống khởi động, Nam đang ngồi một mình trong gian nhà chính. Nói là ở một mình thực chất cũng chỉ là tính riêng trong bốn bức tường gian sảnh này mà thôi. Lúc ấy Ciel và Zero đều đang cắm cúi làm việc ở gian xưởng cơ khí phía sau, Mina đã dẫn Shiroma xách làn ra chợ mua đồ từ sớm, Soma đi làm nhiệm vụ chưa về, hai thầy trò Ronan và Harpe vẫn đang bận việc ngoài phố, còn Hứa An cùng với A Thạch thì vừa mới dắt nhau ra khỏi cổng để đi gặp người quản việc của chủ đất xin lịch hẹn theo đúng chỉ thị của Nam.
Ngay khi Nam vừa thở phào vì sự trùng hợp thuận lợi ấy thì luồng sáng của hệ thống cũng vừa vặn co cụm lại rồi tắt hẳn. Lần này chẳng có nhân vật bằng xương bằng thịt nào bước ra, cũng chẳng có lấy một món binh khí sáng loáng nào hiện hình. Nằm chình ình ngay giữa nền gạch gian nhà chính là một chiếc thùng giấy carton cỡ lớn.
Nam bước lại gần, nhìn kích thước của chiếc thùng rồi cúi xuống nhấc thử một góc lên. Trọng lượng bên trong nhẹ bẫng hơn hẳn so với vẻ bề ngoài đồ sộ của nó. Hắn cạy lớp băng dính mở nắp thùng ra. Xếp đầy ắp bên trong lòng thùng giấy là hàng chục túi nhựa trong suốt, mỗi túi đều chứa những sợi nhựa dài và mảnh dẻ, ở một bên đầu sợi nhựa có đúc sẵn một cái ngàm khóa hình vuông nhỏ xíu. Nam thò tay rút đại một sợi đưa lên ngang tầm mắt. Chẳng cần tới sự trợ giúp của cuốn bách khoa toàn thư nào trong đầu, hắn nhận ra ngay lập tức món đồ đang nằm trên tay mình là thứ gì.
“Đùa nhau đấy à...”
Dòng thông báo quen thuộc hiện lên rõ mồn một ngay trước võng mạc của hắn:
【Lượt quay thứ 36 hoàn tất. Phần thưởng gồm 1.000 sợi dây rút nhựa.】
Nam ngước nhìn dòng chữ lơ lửng giữa không trung, rồi lại cúi đầu nhìn xuống cái thùng giấy mở toang dưới chân mình, lẩm bẩm:
“Một nghìn sợi dây rút nhựa.”
Hắn thử đưa mắt đếm nhẩm số túi nilon xếp lớp trong thùng được chừng ba giây đồng hồ rồi lập tức bỏ cuộc, thở dài xác nhận:
“Đúng là đủ một nghìn sợi thật.”
Đúng vào lúc ấy, bóng dáng của Ciel xuất hiện ngay ngoài bậu cửa gian nhà chính. Cô gái tóc vàng đưa mắt nhìn chiếc thùng carton lạ mặt đặt giữa sàn, rồi lại nhìn sang sợi dây nhựa màu trắng đang nằm trên tay Nam, tò mò hỏi:
“Món đồ mới của tháng này là cái gì thế?”
“Dây rút nhựa.”
Ciel lập tức bước hẳn vào trong phòng, tiến lại gần chiếc thùng:
“Cái này dùng để làm gì?”
Nam rút thêm một sợi nữa đưa tận tay cho cô. Ciel cúi đầu quan sát kỹ cấu tạo của phần ngàm khóa cùng những khấc răng cưa nhỏ li ti đúc dọc theo thân sợi dây, sau đó thử uốn cong luồn phần đuôi nhọn xuyên qua lỗ khóa rồi cầm kéo nhẹ một cái. Một chuỗi âm thanh lách tách giòn giã vang lên. Vòng dây nhựa lập tức thắt chặt lại. Ciel thử dùng hai tay kéo giật ngược trở ra theo chiều vừa luồn vào, thế nhưng cái lưỡi gà nhỏ xíu bên trong ổ khóa đã cắn chặt vào rãnh răng cưa, hoàn toàn không hề suy suyển. Ánh mắt của cô kỹ sư trẻ lập tức sáng rực lên. Nam quá quen thuộc với biểu cảm đó trên gương mặt cô nên vội vàng giơ tay chặn trước:
“Khoan đã. Bà đừng có mở miệng nói ra cái chữ ‘hữu ích’ đấy nhé.”
Ciel ngẩng đầu lên nhìn hắn với vẻ mặt vô cùng nghiêm túc:
“Nhưng mà món đồ này thực sự rất hữu ích.”
Nam nhắm nghiền hai mắt lại, thở hắt ra một hơi:
“Biết ngay là bà sẽ nói câu đó mà.”
Từ ngoài hành lang, Zero cũng vừa mới sải bước đi vào tới nơi. Chỉ trong khoảng thời gian vài giây ngắn ngủi lúc Nam nhắm mắt, bàn tay của Ciel đã kịp thò vào trong thùng rút thêm ba sợi dây nữa. Cô quay sang đưa một đầu cho Zero:
“Anh giữ hộ tôi bó dây này một chút.”
Nam mở mắt ra nhìn. Trên tay Ciel lúc này đang cầm sẵn một cuộn dây cáp dẫn điện cỡ nhỏ mà cô mang từ dưới xưởng lên. Cô gom gọn các vòng dây cáp lại với nhau, quấn sợi dây rút nhựa bọc bên ngoài rồi nắm đầu dây kéo mạnh một cái. Tiếng rãnh nhựa trượt qua ngàm khóa kêu cái rẹt. Cả bó dây cáp vốn đang xòe ra lộn xộn lập tức nằm im thin thít thành một bó gọn gàng. Ciel nâng bó dây lên ngắm nghía, gật gù khẳng định thêm lần nữa:
“Cực kỳ hữu ích là đằng khác.”
“Câu đó bà vừa mới nói cách đây nửa phút rồi đấy.”
“Tại vì bản chất của nó đúng là như vậy.”
Zero đứng bên cạnh cũng cầm thử một sợi dây rút lên, đưa mắt quan sát kỹ cơ chế rãnh khóa một chiều ở đầu dây rồi hỏi ngắn gọn:
“Loại dây này chỉ dùng được một lần duy nhất thôi à?”
Nam gật đầu đáp:
“Thông thường là như vậy.”
Ciel lập tức hỏi tiếp:
“Lúc muốn tháo bỏ ra thì bắt buộc phải dùng dao kéo cắt đứt đi sao?”
“Ừ, phải cắt bỏ.”
“Ở chỗ của anh có loại dây rút nào thiết kế thêm lẫy bấm để tháo ra dùng lại được nhiều lần không?”
“Trong trí nhớ của tôi thì đúng là có loại tháo mở được, nhưng cái đám trong thùng giấy hôm nay là loại khóa chết một chiều, đã rút vào là khỏi gỡ.”
Ciel nắm hai đầu sợi nhựa đã khóa vòng dùng sức giật mạnh thử vài cái. Sợi nhựa dẻo dai căng cứng ra chứ hoàn toàn không hề bị giãn hay đứt gãy. Cô hài lòng đánh giá:
“Độ bền chịu kéo của vật liệu này khá tốt đấy.”
Nam kéo chiếc ghế gỗ lại gần rồi ngồi phịch xuống, chỉ tay vào chiếc thùng giấy than thở:
“Vấn đề là nó cho tận một nghìn sợi liền.”
Ciel hoàn toàn chẳng nhìn thấy có bất kỳ vấn đề gì đáng phàn nàn ở con số đó cả:
“Trong xưởng cơ khí của tôi có rất nhiều chỗ dùng được món này.”
“Gian xưởng của bà có cần dùng tới tận một nghìn sợi dây buộc không?”
“Nếu tính về lâu dài thì hoàn toàn có khả năng dùng hết đấy.”
“Bà làm ơn đừng có nói mấy câu nghe phát sợ như thế được không?”
Trong lúc nói chuyện, đôi tay của Ciel đã nhanh nhẹn nhấc luôn nguyên một túi nilon từ trong thùng ra. Nam nhìn thấy động tác đó liền hỏi vội:
“Này, bà định lấy đi bao nhiêu cái thế?”
“Một túi này là một trăm sợi.”
“Khoan đã nào, sao lấy nhiều thế?”
“Một trăm sợi để đem về phân loại dần thì vẫn còn là ít đấy.”
Nam trố mắt nhìn cô gái trước mặt:
“Một trăm sợi dây buộc mà bà còn chê là ít á? Bà mới biết tới sự tồn tại của cái dây rút này trên đời chưa đầy hai phút đồng hồ đâu đấy.”
“Chuyện mới biết hai phút thì có liên quan gì tới công dụng của nó đâu.”
Nam hết cách nói lý với cô kỹ sư, đành quay đầu sang phía Zero nhằm tìm kiếm một đồng minh. Thế nhưng chàng chiến binh áo đỏ sau khi thử siết một sợi dây rút quanh vỏ bọc thanh thiết bị trên bàn chỉ buông ra đúng một chữ ngắn gọn:
“Tiện.”
Nam cảm thấy mình vừa mới bị đồng đội phản bội ngay tại trận. Tuy miệng càu nhàu là vậy, nhưng sau một hồi đôi co, hắn vẫn để mặc cho Ciel ôm nguyên túi dây một trăm sợi đem về xưởng cơ khí. Hắn nhượng bộ chẳng phải vì đột nhiên nổi máu hào phóng gì, đơn giản là một món vật tư sinh ra để phục vụ việc buộc đồ thì có ôm khư khư cất kỹ trong thùng giấy cũng chẳng thể đẻ thêm ra đồng bạc nào.
Trước khi xoay người bước ra khỏi cửa gian chính, Ciel chợt dừng chân ngoái đầu lại hỏi:
“Chuyện có đồ mới này Hứa An đã biết chưa?”
Nam ngước nhìn cô. Theo quy tắc bảo mật từ trước tới nay của xưởng, một người bản địa như Hứa An chỉ cần biết rằng ông chủ vừa mới lấy ra từ trong kho một loại dây buộc kiểu mới, còn nguồn gốc thực sự từ đâu mà có vẫn nằm ngoài phạm vi những thứ cậu thư sinh cần phải bận tâm. Ciel thấy ánh mắt của Nam thì nói rõ ý mình hơn:
“Ý của tôi là anh đã đưa thử dây rút cho cậu ấy xem chưa?”
“Cậu ấy đi vắng từ sáng, đã kịp nhìn thấy cái thùng này đâu.”
“Anh hoàn toàn có thể chia cho Hứa An một ít để dùng ngoài bàn cổng đấy.”
Nam lập tức nheo mắt hỏi lại:
“Cho cậu ấy dây nhựa để làm cái gì?”
“Dùng để buộc thẻ ghi chú hàng hóa, thắt miệng túi đồ hoặc cố định mấy món vật dụng nhỏ.”
Nam cúi nhìn đống túi nhựa vẫn còn chất đầy trong thùng carton, ngẫm nghĩ hai giây rồi gật đầu:
“Ừ, nghe cũng được đấy.”
Ciel ôm túi đồ sải bước đi về phía nhà sau, Zero cũng lẳng lặng bước theo cô. Giữa gian nhà chính vắng lặng chỉ còn lại một mình Nam ngồi đối diện với chín trăm sợi dây rút nhựa. Hắn cầm một sợi dây xoay qua xoay lại trên đầu ngón tay mà không khỏi bật cười. Tháng trước vòng quay vừa mới trả lại cho Ronan thanh kiếm ma pháp gắn liền với ký ức chiến đấu thuở xưa của chàng hiệp sĩ, ấy thế mà sang tới tháng này thứ rớt xuống sàn nhà lại là một thùng dây nhựa chuyên dùng để bó cáp điện. Nam thử luồn sợi dây rút trên tay vòng qua quai chiếc túi vải đựng đồ đặt ở góc bàn, kéo siết cho tới khi cái khóa nhựa kêu tách một tiếng rồi lắc đầu tự nhủ:
“Công nhận là dùng cũng được việc thật. Có điều lát nữa phải kiếm ngay một cái kéo đặt cố định ở cạnh thùng mới được, kẻo có ai lỡ tay rút nhầm chỗ lại không có đồ mà cắt ra.”
Trong suốt tuần lễ đầu tiên sau ngày quay thưởng, những túi dây rút nhựa nhanh chóng được phân tán từ chiếc thùng giấy ở gian nhà chính đi tới khắp các vị trí thực sự có nhu cầu sử dụng trong xưởng. Ciel lấy nguyên một túi đem về khu bàn máy để bó gọn toàn bộ hệ thống dây đo đạc, Hứa An treo sẵn một chùm nhỏ ở ngay cạnh bàn làm việc ngoài cổng để buộc thẻ phân loại vật tư, còn thằng nhóc A Thạch cũng chạy vào xin mấy sợi để thu gọn phần dây đeo thừa lòng thòng trên chiếc ba lô đi đường.
Ngô Thành trong một lần ghé qua xưởng có cầm một sợi lên xem thử cơ cấu ngàm khóa một chiều, nhưng sau khi uốn thử vài cái ông liền đặt trả lại vào hộp, bảo rằng mấy cái mối nối chịu lực trên khung xe hay giá sắt của ông thì vẫn cứ phải trung thành với dây kẽm và chốt sắt mới ăn thua. Lão Tề tính tình thực tế còn làm thẳng một phép thử trực quan hơn nhiều, ông lão buộc thử một sợi dây nhựa vào thanh gỗ nặng rồi dùng hai tay giật mạnh một cái cho sợi dây đứt phựt ngay trước mặt Nam, đoạn thẳng thừng phán:
“Cái dây mảnh khảnh này đem buộc gom đồ đạc cho gọn mắt thì tốt. Chứ đứa nào mà dại dột lấy nó treo mấy thanh xà gỗ trên cao là có ngày rơi vỡ đầu người bên dưới như chơi đấy.”
Nam nghe lời cảnh báo đó xong liền lập tức lấy bút mực viết thật to ba chữ “Không chịu tải” lên một mảnh giấy trắng rồi dán chặt vào ngay mặt ngoài của chiếc thùng carton. Lúc Ciel đi ngang qua ngó thấy dòng chữ ghi chú ấy, cô hoàn toàn đồng tình và không hề sửa lại lấy một chữ.
Về phần Ronan, sau một lần nhờ Harpe đi tìm kéo để cắt bỏ sợi dây rút trót siết chặt vào miệng bao hành lý cần mở gấp, chàng hiệp sĩ liền rút ra được bài học kinh nghiệm xương máu. Hắn hoàn toàn không muốn vào những lúc trời tối hạ trại ngoài đường lại phải loay hoay đi mò kiếm dao găm chỉ vì vướng một sợi dây nhựa bé tẹo. Ronan cầm một sợi dây chưa dùng nhìn kỹ một lượt rồi hỏi lại Nam cho chắc chắn:
“Loại dây này lúc muốn tháo ra là bắt buộc phải dùng kéo cắt đứt chứ không cởi nút được đúng không?”
“Đúng thế, đã rút vào là chỉ có nước cắt bỏ thôi.”
Ronan gật đầu, dặn lại mọi người trong đội:
“Vậy thì tuyệt đối đừng có ai lấy nó đi buộc vào mấy túi đồ cứu thương hay những thứ cần phải mở lấy nhanh trong lúc khẩn cấp.”
Nam đứng nghe mà gật gù tán thưởng sự tỉnh táo thực dụng của chàng hiệp sĩ. Harpe đứng bên cạnh cũng chủ động cất luôn một chiếc kéo nhỏ vào ngăn túi ngoài của bao đồ nghề, đồng thời sau khi thử hơ một đầu dây nhựa gần bếp than còn cẩn thận nhắc thêm cả nhà một chi tiết quan trọng rằng chất liệu nhựa này nếu để phơi lâu sát cạnh nguồn lửa nóng sẽ rất nhanh bị giòn gãy, tuyệt đối không được dùng để buộc cố định những thứ đặt gần lò sưởi hay bếp đun. Bản thân Harpe chỉ lấy đúng một nắm nhỏ dây rút đem về phòng để làm vòng đánh dấu phân loại cho mấy cuộn giấy vẽ bản đồ địa hình.
Đến cuối ngày hôm đó, Mina cũng lấy thử hai sợi dây rút đem vào kho để thắt miệng mấy chiếc túi vải lớn chuyên cất quần áo trái mùa, có điều cô rất khéo léo chỉ kéo siết vừa đủ chặt miệng túi và giữ nguyên phần đuôi dây thừa chứ không cắt cụt sát gốc như cách Ciel làm với mấy bó cáp điện. Shiroma ở bên y quán vốn quen dùng dây gai buộc thang thuốc nên không mấy khi đụng tới món đồ mới này. Riêng Soma thì lại có một hướng tiếp cận rất khác người. Cậu cầm hai sợi dây rút lên, luồn đầu sợi này nối tiếp vào khóa của sợi kia để tạo thành một cái vòng tròn lớn hơn rồi quay sang hỏi Nam:
“Hai sợi nối vào nhau thế này liệu có đủ chắc để dùng trói tay người ta lại không nhỉ?”
Nam không cần suy nghĩ đã buột miệng đáp ngay:
“Trói tốt ấy chứ.”
Ngay lập tức, giọng của Mina từ phía cửa bếp đã vọng sang cắt ngang:
“Không được dùng làm trò đó đâu đấy.”
Soma ngơ ngác quay đầu nhìn qua lại giữa hai người. Nam chạm phải ánh mắt nghiêm nghị của bà quản gia trong nhà thì vội vàng hắng giọng sửa lại lời vừa nói:
“À thì về mặt lý thuyết vật lý là nó có thể giữ chặt cổ tay người được, nhưng chúng ta tuyệt đối không nên coi mấy sợi nhựa mảnh này là dây trói chuyên dụng làm gì.”
Mina nghe vậy mới khẽ gật đầu hài lòng. Soma thấy thế cũng chỉ bật cười xòa một tiếng:
“Tôi hiểu rồi, chỉ hỏi thử cho biết thôi mà.”
Tính cho tới khi tuần lễ đầu tiên khép lại, bên trong chiếc thùng carton đặt ở góc nhà vẫn còn nguyên hơn tám trăm sợi dây rút chưa đụng tới. Nam nhìn số lượng tồn kho ấy mà thở phào nhẹ nhõm. Ít nhất thì một nghìn sợi dây của hắn cũng đã không bốc hơi sạch bách chỉ sau ba ngày ngắn ngủi.
Câu chuyện hỏi mua lại mảnh đất Tây Sơn chính thức quay trở lại vào khoảng giữa tháng Chạp. Trước đó vài hôm, Hứa An đã chủ động tìm gặp được người quản việc đại diện cho gia đình chủ đất. Bản thân vị chủ đất kia vốn không sinh sống thường xuyên ở trong thành Thanh Hà. Toàn bộ khu xưởng nhuộm cũ này thực chất nằm ở rìa một mảnh đất rộng lớn hơn từng được gia tộc họ khai thác làm ăn từ nhiều năm trước, về sau khi công việc buôn bán chính của gia đình chuyển dịch sang vùng khác thì khu xưởng này mới dần bị bỏ trống. Sở dĩ trước kia họ đồng ý cho Nam thuê lại với giá rẻ đơn thuần là vì đất bỏ không chẳng sinh ra đồng lời nào, có người vào ở trông coi hộ lại thu thêm được chút tiền thuê hằng năm đã là tốt lắm rồi.
Hôm người quản việc đích thân ghé qua Tây Sơn để xem xét thực địa và nói chuyện, Nam cố tình không bước ra tận cổng đón tiếp ngay từ đầu. Hắn giao toàn bộ phần thủ tục chào hỏi ban đầu cho Hứa An đảm nhận, còn Mina thì lặng lẽ chuẩn bị một ấm trà nóng mang lên gian sảnh chính. Đợi cho khách đã ngồi ấm chỗ được một lúc lâu, ông chủ xưởng mới thong thả từ nhà sau bước lên. Nam tự dặn lòng phải cố giữ vẻ mặt thật bình thản để đối phương không nhìn ra được là mình đang rất muốn giữ lại cơ ngơi này, dù cho việc đóng kịch ấy thực sự khó khăn hơn hắn tưởng tượng khá nhiều.
Người quản việc ngồi trên ghế gỗ, đưa mắt nhìn quét một vòng khắp khoảng sân rộng rãi cùng những dãy nhà mái ngói lành lặn xung quanh rồi mở lời trước:
“Xem ra trong khoảng thời gian ở đây, các vị đã bỏ công sức ra tu sửa lại khu đất này nhiều hơn ta nghĩ đấy.”
Nam cầm chén trà trên tay, thản nhiên đáp:
“Đã xác định dọn vào ở làm ăn gần hai năm trời, chỗ nào dột nát hỏng hóc thì tất nhiên phải sửa lại mới sống nổi chứ ông.”
“Chuyện các vị sửa sang lại nhà cửa thì lão gia nhà ta cũng đã có nghe báo lại rồi.”
“Chủ nhà nắm được tình hình thực tế như thế thì lại càng dễ nói chuyện.”
Người quản việc đặt chén trà xuống đĩa, đi thẳng vào vấn đề chính:
“Nghe cậu thư sinh đây đánh tiếng là bên xưởng của các vị đang có ý muốn hỏi mua đứt luôn mảnh đất này phải không?”
Nam nhấp một ngụm nước nhỏ rồi mới trả lời lấp lửng:
“Chúng tôi cũng đang trong bước hỏi thăm thử xem ý tứ của chủ nhà thế nào đã.”
“Lão gia nhà ta bảo nếu được giá hợp lý thì hoàn toàn có thể nhượng lại khế đất cho các vị.”
“Vậy thì tốt quá.”
Người quản việc liền đọc ra một con số cụ thể. Nghe xong mức giá đối phương đưa ra, gương mặt của Nam hoàn toàn không biểu lộ chút cảm xúc dao động nào, và Hứa An đang ngồi ghi chép ở bàn bên cạnh cũng giữ nguyên nét mặt tĩnh lặng như nước. Chỉ có Mina đang đứng chuẩn bị đĩa bánh ở phía sau rèm cửa bếp nghe thấy con số đó là thoáng dừng tay lại một chút.
Mức giá mà bên chủ đất phát ra thực sự khá cao. Nó không tới mức hoang đường vô lý so với diện tích đất, thế nhưng lại vượt quá số ngân lượng mặt mà quỹ của xưởng Tây Sơn có thể lập tức rút ra thanh toán một lần nếu như vẫn muốn giữ lại một khoản tiền dự phòng an toàn cho chi phí sinh hoạt và xoay vòng công việc của cả nhà. Nam chậm rãi đặt chén trà xuống mặt bàn gỗ, buông gọn một chữ:
“Cao quá.”
Người quản việc mỉm cười đáp lại:
“Diện tích khuôn viên mảnh đất này vốn rất rộng rãi mà chưởng quầy.”
“Đất thì rộng thật, nhưng toàn bộ khung nhà xưởng trên đất đều là đồ cũ nát cả rồi.”
“Chẳng phải hiện giờ các vị đã cho thợ sửa sang lại khang trang hết rồi hay sao?”
Nam nhìn thẳng vào mắt người đàn ông đối diện, giọng nói rõ ràng từng chữ một:
“Số bạc mà chính tay tôi phải móc hầu bao bỏ ra để sửa lại cái xưởng này tuyệt đối không thể biến thành lý do để phía các ông dựa vào đó mà nâng giá bán đất lên được.”
Người quản việc lập tức im lặng không cười nữa. Nam chỉ tay ra phía ngoài sân, điềm tĩnh phân tích tiếp:
“Lúc chúng tôi mới dọn tới đây hơn hai năm về trước, cả khu này chẳng khác gì một bãi đất hoang. Mái ngói gian chính thì thủng dột tứ tung, hệ thống rãnh thoát nước bị bùn đất lấp tắc nghẽn, nhà kho thì cột gỗ mục ruỗng, tới cả bức tường rào phía bắc cũng nghiêng ngả chực đổ. Nói thẳng ra một câu, nếu như năm đó không có chúng tôi chịu bỏ công bỏ của vào dọn dẹp tu sửa lại từ đầu, thì có để không thêm ba năm nữa chưa chắc đã có ai khác chịu bỏ tiền vào đây thuê đâu.”
Người quản việc trầm ngâm một lát rồi vẫn cố giữ lập trường:
“Chuyện quá khứ đúng là như vậy, nhưng thực tế trước mắt là hiện giờ mảnh đất này đã trở nên có giá trị hơn rất nhiều rồi.”
“Nó có được cái giá trị đó là nhờ tiền túi của tôi bỏ vào đấy ông ạ.”
Hai người đàn ông ngồi nhìn thẳng vào nhau qua làn khói trà mỏng. Bầu không khí trong gian sảnh không hề căng thẳng tới mức gay gắt khó chịu, đó đơn thuần chỉ là sự giằng co tất yếu trên bàn thương lượng giữa người mua và kẻ bán. Hứa An ngồi ở ghế phụ bên cạnh hoàn toàn không lên tiếng chen ngang lấy một lời. Sau một hồi cân nhắc, người quản việc cuối cùng cũng thở nhẹ ra một hơi:
“Bản thân ta hôm nay tới đây cũng chỉ là người làm công truyền đạt lại mức giá của chủ nhà mà thôi.”
“Vậy thì phiền ông lúc về truyền đạt lại giúp tôi một câu.”
“Chưởng quầy định trả lại ở mức bao nhiêu?”
Nam lập tức đọc ra một con số thấp hơn hẳn. Con số hắn đưa ra được tính toán vừa vặn để không thấp tới mức mang tính chất ép giá xúc phạm đối phương, nhưng lại đủ thấp để tạo ra một khoảng lùi an toàn cho những lần cò kè thêm bớt về sau. Người quản việc nghe xong thì nhíu chặt hai hàng lông mày:
“Mức giá này của chưởng quầy e là rất khó để lão gia nhà ta gật đầu đấy.”
Nam thản nhiên tựa lưng vào ghế:
“Khó chốt ngay được thì hai bên chúng ta mới cần ngồi lại bàn bạc tiếp chứ.”
Buổi gặp gỡ đầu tiên cứ thế khép lại ở đúng ranh giới đó. Chẳng có tờ giấy giao kèo nào được đem ra ký kết, không có đồng tiền đặt cọc nào được đặt lên bàn, và tất nhiên cũng chưa có cuộc mua bán nào ngã ngũ. Tất cả những gì vừa diễn ra đơn giản là cả hai phía đã chính thức mở hé ra một cánh cửa để bắt đầu quá trình đàm phán.
Đợi cho bóng lưng người quản việc đã khuất hẳn phía sau cánh cổng gỗ ngoài sân, Hứa An mới quay sang hỏi ông chủ của mình:
“Nam huynh thực sự muốn mua đứt mảnh đất này rồi đúng không ạ?”
Nam đưa mắt nhìn ra khoảng sân ngập nắng nhạt mùa đông trước hiên nhà, gật đầu đáp:
“Ừ, muốn mua.”
Câu trả lời buột ra khỏi miệng nhanh và dứt khoát hơn chính những gì Nam tự hình dung trong đầu. Bản thân Hứa An nghe thấy sự khẳng định không chút do dự ấy cũng thoáng lộ vẻ bất ngờ. Nam lập tức nói bồi thêm để rào trước:
“Có điều muốn mua là một chuyện, nhưng tôi tuyệt đối sẽ không bao giờ mua đất bằng cái cách cạo sạch sành sanh đáy hòm quỹ của xưởng đâu đấy.”
“Dạ, tiểu đệ hiểu.”
“Trong nhà mình bây giờ miệng ăn đông đúc lắm rồi.”
“Vâng.”
“Gian xưởng cơ khí phía sau tháng nào cũng cần có bạc để duy trì hoạt động.”
“Vâng ạ.”
“Chưa kể thời buổi này chẳng ai nói trước được sang tháng sau ngoài kia có bất ngờ nảy sinh ra chuyện khẩn cấp gì hay không.”
Hứa An gật đầu tán đồng ngay:
“Vậy thì nguyên tắc bất di bất dịch là bắt buộc phải giữ lại nguyên vẹn khoản ngân lượng dự phòng.”
Nam nheo mắt nhìn vẻ mặt bình thản của cậu thư sinh, chợt nhận ra điều gì đó liền hỏi:
“Khoan đã, có phải là cậu đã tự mình ngồi tính toán sẵn các bước từ trước rồi đúng không?”
Hứa An không nói không rằng, lẳng lặng rút từ dưới tập sổ ra một tờ giấy khác đặt lên bàn. Nam cúi đầu nhìn tờ giấy viết tay chi chít chữ thêm một lần nữa, ngửa cổ thở dài:
“Đấy, tôi biết ngay mà.”
Trên mặt tờ giấy trắng đã được Hứa An vạch sẵn ra ba phương án tài chính cực kỳ rõ ràng. Phương án thứ nhất là chồng tiền mua đứt một lần nếu như bên chủ đất chịu nhượng bộ hạ giá xuống sát mức sàn của xưởng. Phương án thứ hai là thương lượng trả trước một nửa số bạc, phần còn lại sẽ chia nhỏ ra thanh toán làm hai kỳ trong năm tới. Còn phương án thứ ba, trong trường hợp giá cả đôi bên chưa tìm được tiếng nói chung, xưởng sẽ ký tiếp hợp đồng thuê thêm một năm nữa nhưng kèm theo điều khoản giữ quyền ưu tiên mua trước nếu chủ đất muốn rao bán cho người ngoài.
Nam cầm tờ giấy đọc kỹ từ dòng đầu tới dòng cuối, ngẩng lên hỏi:
“Mấy cái phương án này cậu ngồi soạn ra từ lúc nào thế?”
“Tiểu đệ chuẩn bị sẵn từ sau cái hôm đi nộp tiền thuê kỳ trước về rồi ạ.”
“Cậu có biết là nhiều lúc tôi rất ghét những người làm việc gì cũng nhanh nhảu đi trước một bước như cậu không?”
Hứa An điềm nhiên thu lại cây bút, đáp gọn:
“Nam huynh chẳng ghét ai làm việc nhanh cả, huynh chỉ ghét mỗi cái việc mình phải tự mắt ngồi đọc đống chữ trên giấy thôi ạ.”
Nam cứng họng, hoàn toàn không tìm được lý lẽ nào để phủ nhận câu nhận xét chí lý ấy.
Tới ngày hai mươi tư tháng Chạp, trưởng lão Tạ Vân của Lạc Hà Tông bất ngờ ghé tới xưởng Tây Sơn mà không hề gửi lời báo trước. Lúc ấy A Thạch đang được cử chạy vào trong nội thành để hỏi lại lịch trình các chuyến xe hàng cuối năm cho Hứa An nên vẫn chưa kịp quay về. Hứa An đang ngồi cộng sổ ở bàn tiếp khách ngoài cổng, vừa ngẩng đầu lên nhìn thấy bóng dáng vị nữ trưởng lão bước qua bậu cửa thì lập tức đặt bút đứng thẳng dậy hành lễ:
“Chào Tạ tiền bối ạ.”
Tạ Vân khẽ gật đầu đáp lễ rồi hỏi ngắn gọn:
“Lê chưởng quầy hiện có ở trong nhà không?”
“Dạ Nam huynh đang ở bên trong ạ.”
“Thế còn người tên Harpe?”
“Anh Harpe cũng đang có mặt ở gian chính luôn ạ.”
Đôi bàn tay đang xếp lại trang sổ của Hứa An thoáng chững lại một chút. Cậu thư sinh ngước mắt nhìn vị trưởng lão, cẩn trọng hỏi dò:
“Có phải là ở mạn rừng phía bắc lại vừa mới phát sinh thêm chuyện gì mới không thưa tiền bối?”
Tạ Vân dừng bước, đưa mắt nhìn cậu thư sinh trẻ tuổi của xưởng Tây Sơn:
“Sao ngươi lại hỏi như vậy?”
Hứa An đưa tay chỉ nhẹ về phía tấm bản đồ địa hình cỡ lớn đang treo ở gian trong:
“Dạ, tại vì dạo gần đây số lượng khách khứa đi đường ghé qua cổng xưởng hỏi thăm tình hình tuyến đường phía bắc nhiều hơn hẳn mọi khi ạ.”
Tạ Vân gật đầu, không nói gì thêm mà sải bước đi thẳng vào sân. Ở bên trong gian nhà chính, Nam đang ngồi tựa ghế uống trà nóng sưởi ấm, còn Harpe thì ngồi ở chiếc bàn gỗ cách đó không xa, chăm chú dùng bút chì chỉnh sửa lại mấy tờ giấy phác thảo địa hình thu thập được từ chuyến khảo sát thực địa đợt trước. Vừa bước qua cửa, Tạ Vân đã đi thẳng vào trọng tâm công việc chứ không hề khách sáo vòng vo:
“Bên chỗ ta vừa mới nhận thêm được một số báo cáo mới từ phía bắc gửi về.”
Nam lập tức đặt cốc trà trong tay xuống mặt bàn, ngồi thẳng lưng dậy:
“Là loại báo cáo về hiện tượng gì thế Tạ trưởng lão?”
“Nội dung cụ thể của từng vụ thì hoàn toàn không giống nhau.”
“Nếu các vụ việc không giống nhau, vậy lý do gì khiến cho Tạ trưởng lão phải đích thân cất công mang tới tận đây?”
“Bởi vì khi đặt tất cả nằm cạnh nhau, chúng lại bắt đầu bộc lộ ra một điểm chung ở khía cạnh khác.”
Harpe đang cúi đầu trên bàn giấy lập tức ngẩng phắt lên. Chỉ riêng câu nhận định vừa rồi của vị trưởng lão đã quá đủ để thu hút toàn bộ sự chú ý của một người chuyên làm công tác điều tra thực địa như hắn. Tạ Vân rút từ trong túi áo choàng ra một tập hồ sơ mỏng đặt lên mặt bàn gỗ:
“Báo cáo đầu tiên là từ mấy nhóm người đi hái thuốc ở vùng đồi phía bắc. Họ khai rằng lúc đi sâu vào gần bìa rừng thì nghe thấy những âm thanh rất lạ vọng ra từ bên trong, thế nhưng tuyệt nhiên không có ai tận mắt nhìn thấy bóng dáng con vật nào cả.”
Harpe bước lại gần bàn, hỏi ngay vào chi tiết kỹ thuật:
“Âm thanh lạ mà họ nghe thấy thuộc dạng tiếng động kiểu gì?”
“Lời khai của các bên không thống nhất với nhau về mặt âm sắc.”
“Có tổng cộng bao nhiêu người đã nghe thấy tiếng động đó?”
“Có ba nhóm người hái thuốc khác nhau, và thời điểm họ nghe thấy cũng rơi vào những ngày hoàn toàn khác nhau.”
“Họ có nghe thấy ở cùng một khu vực địa lý không?”
“Không, cả ba vị trí đều nằm cách xa nhau.”
Harpe lập tức quay đầu sang phía Hứa An vừa mới đi theo vào tới cửa, nói ngắn gọn:
“Trải tấm bản đồ ra đây.”
Hứa An nhanh nhẹn tháo tấm bản đồ tổng thể từ trên giá xuống trải phẳng phiu ra mặt bàn lớn. Nam vẫn ngồi yên trên ghế của mình, hoàn toàn không mở miệng chen ngang vào quy trình làm việc của hai người. Tạ Vân đưa ngón tay chỉ chính xác vào ba tọa độ nằm rải rác ở mạn bắc. Hứa An lập tức cầm bút chì đánh dấu nhẹ ba vòng tròn tạm thời lên mặt giấy.
Harpe bắt đầu đặt một loạt câu hỏi sàng lọc thông tin. Hắn hỏi về ngày giờ cụ thể xảy ra từng vụ, câu trả lời là có ghi chép đầy đủ. Hắn hỏi về tình trạng thời tiết sương mù hay gió thổi vào thời điểm đó, trong hồ sơ cũng có ghi lại được một phần. Cuối cùng hắn hỏi xem cả ba lời khai này đều là do người trong cuộc trực tiếp tới báo hay chỉ là lời đồn truyền miệng qua trung gian. Tạ Vân xác nhận chỉ có hai nhóm đầu là người hái thuốc trực tiếp tới trình báo với người của Lạc Hà Tông, còn nhóm thứ ba là nghe kể lại qua miệng một người buôn dược liệu ở chợ.
Nghe tới đó, bàn tay của Harpe lập tức gạt tờ giấy ghi lời khai thứ ba tách hẳn ra ngoài rìa bàn:
“Tờ báo cáo nghe qua trung gian này tạm thời để riêng ra một bên, chưa đủ độ tin cậy để đặt chung mâm với lời khai của nhân chứng trực tiếp.”
Tạ Vân gật đầu tán thành ngay, trong phòng không có lấy một ai lên tiếng phản đối cách xử lý nguyên tắc đó. Vị nữ trưởng lão tiếp tục lật sang tờ báo cáo thứ hai, lần này nội dung liên quan tới những dấu chân thú để lại trên nền đất rừng. Điều kỳ lạ là hiện trường hoàn toàn không hề có dấu chân của một con cự thú khổng lồ nào cả, mà ngược lại, mặt đất chi chít những vệt chân của các loài thú nhỏ đang di chuyển thành từng đàn rời khỏi khu vực sinh sống quen thuộc. Thậm chí có một thợ săn lão luyện trong vùng còn phát hiện ra dấu chân của hai loài thú hoang vốn dĩ có tập tính khắc khẩu rất hiếm khi đi chung một lối, thế nhưng lần này chúng lại cùng nhau chạy tháo thân theo một hướng ra phía bìa rừng ngoài.
Tạ Vân trầm giọng giải thích thêm:
“Lúc mới nhận được tin báo này, phán đoán ban đầu của bên ta là có khả năng xuất hiện một con yêu thú cấp cao cực mạnh mới di cư tới chiếm đoạt địa bàn, khiến các loài thú nhỏ phải bỏ chạy.”
Nam ngồi nghe ở bên cạnh liền buột miệng hỏi:
“Giống như cái vụ con Thiết Bối Hùng bị ép phải mò xuống tận vùng đồi thấp đợt trước ấy hả?”
“Đó đúng là một giả thuyết hoàn toàn có cơ sở.”
Harpe lúc này vẫn đang dán chặt ánh mắt vào các đường đồng mức trên tấm bản đồ, hỏi ngắn gọn:
“Thế nhưng thực tế hiện trường lại có điểm mâu thuẫn đúng không?”
Ngón tay của Tạ Vân di chuyển sang chỉ vào một khoảnh rừng khác nằm sâu hơn ở phía trong:
“Đúng vậy. Điểm bất thường nằm ở chỗ người của ta đi rà soát khắp vùng đó nhưng tuyệt nhiên không tìm thấy bất kỳ một cái xác con mồi nào bị ăn thịt dở cả.”
Nam nhíu mày:
“Quái vật chiếm lãnh địa mà lại không săn mồi ăn thịt sao?”
“Hoàn toàn không tìm thấy vết máu hay xương cốt con mồi nào để lại.”
Harpe lập tức truy vấn tiếp bằng một loạt câu hỏi nghiệp vụ săn vết:
“Thế ở quanh vùng lõi đó có tìm thấy dấu phân thú mới thải ra không?”
Tạ Vân ngước nhìn hắn, đáp gọn:
“Rất ít, hầu như chỉ toàn là dấu vết cũ từ nhiều tuần trước.”
“Có tìm thấy ổ cỏ bị đè bẹp chỗ con vật nằm ngủ qua đêm không?”
“Không thấy dấu vết nào rõ ràng.”
“Thế còn những vết móng vuốt cào xước trên thân cây cổ thụ hay mùi nước tiểu đánh dấu ranh giới lãnh địa thì sao?”
“Cũng hoàn toàn không có nốt.”
Harpe mím môi im lặng, không hỏi thêm câu nào nữa. Ở phía đầu bàn bên kia, Hứa An đã chủ động quay vào kệ hồ sơ bê ra một xấp giấy tờ lưu trữ cũ. Nam liếc mắt nhìn qua là nhận ra ngay tập tài liệu đó. Toàn bộ những bản ghi chép chi tiết từ vụ chạm trán con Thiết Bối Hùng ở Khê Bắc hồi trước vẫn được cậu thư sinh bảo quản nguyên vẹn trong cặp hồ sơ công việc, đặt nằm ngay ngắn bên cạnh những tờ ghi chú về khu vực rừng vắng bóng chim thú mà nhóm của họ từng phát hiện ra vào dịp đầu mùa thu.
Tạ Vân nhìn chồng giấy tờ được phân loại tỉ mỉ trước mặt thì không giấu được vẻ ngạc nhiên:
“Tất cả những giấy tờ ghi chép từ mấy tháng trước mà các ngươi vẫn còn giữ lại đầy đủ hết sao?”
Hứa An vừa lật mở từng trang vừa đáp lễ phép:
“Dạ, nguyên tắc ở xưởng Tây Sơn là những công việc nào đã từng bắt tay vào làm thì toàn bộ giấy tờ liên quan đều phải lưu trữ lại hết ạ.”
Nói đoạn, cậu thư sinh rút riêng tờ giấy biên nhận thanh toán tiền thù lao của chuyến đi xử lý con Thiết Bối Hùng ra trải lên mặt bàn, rồi đặt song song ngay bên cạnh đó là trang sổ nhật ký cổng ghi rõ ngày giờ cụ thể lúc người thợ săn tên Triệu Khải chạy tới báo tin. Harpe cầm cây bút chì lên, khoanh tròn hai mốc thời gian trên giấy nhưng vẫn thận trọng chưa vội vạch đường nối chúng lại với nhau. Tạ Vân cúi nhìn tờ giấy biên nhận tiền bạc của nhà người ta, buột miệng hỏi:
“Đến cả cái tờ giấy thu tiền công từ đời thuở nào thế này mà ngươi cũng kẹp chung vào hồ sơ điều tra ư?”
“Dạ, dù khách hàng đã thanh toán đủ bạc hay còn nợ lại thì sang tháng sau tiểu đệ vẫn phải giữ chứng từ để đối chiếu sổ quỹ.” Hứa An đẩy nhẹ trang sổ nhật ký cổng về phía vị trưởng lão để bà tiện quan sát. “Còn phần ghi chú chi tiết về ngày tháng phát hiện dấu vết ở góc trang là do anh Harpe dặn tiểu đệ phải chép bổ sung thêm vào ngay sau khi kết thúc vụ đó ạ.”
“Vậy có nghĩa là toàn bộ những mẩu tin tức thu thập được về sau trong tập hồ sơ này của các ngươi cũng đều có ghi rõ nguồn gốc người cung cấp hết?”
“Dạ vâng. Những tin nào có nhân chứng tận mắt nhìn thấy thì được ghi vào cột xác thực, còn những tin nào chỉ là nghe kể lại qua miệng người thứ ba thì tiểu đệ đều đánh dấu ký hiệu riêng để phân biệt.”
Harpe vừa nghe Hứa An giải thích vừa đưa tay gạt hẳn tờ biên bản lời khai qua trung gian của nhóm người hái thuốc thứ ba ra sát mép bàn gỗ, khẳng định lại một lần nữa:
“Một bản báo cáo chưa rõ nguồn gốc gốc gác như tờ này thì chưa được phép đặt nằm chung hàng với lời khai của những người đã trực tiếp nhìn thấy dấu chân tại hiện trường.”
Tạ Vân khẽ gật đầu. Một người làm việc thực tế như bà vốn chẳng cần hai người trẻ tuổi trước mặt phải mở miệng tự khen quy trình của mình chu đáo ra sao, thứ duy nhất bà cần là mỗi khi bà chỉ tay hỏi tới một vết mực đánh dấu trên bản đồ, lập tức có người trả lời rành rọt được cho bà biết cái dấu mực ấy xuất phát từ miệng của ai và vào ngày tháng năm nào.
Lúc này Harpe mới bắt đầu trải toàn bộ những trang giấy ghi chép thực địa còn lại vây xung quanh rìa tấm bản đồ lớn. Ngón tay hắn lần lượt điểm qua từng vị trí một:
“Đầu tiên là vị trí xuất hiện của con Thiết Bối Hùng.”
Đó là tọa độ thứ nhất.
“Tiếp theo là khu vực rừng rậm hoàn toàn vắng bóng chim chóc và thú nhỏ mà chúng ta từng đi ngang qua.”
Đó là tọa độ thứ hai.
“Kế đến là hai địa điểm đã được xác thực nơi nhóm người hái thuốc trực tiếp nghe thấy âm thanh lạ trong rừng.”
Thêm hai chấm chì nữa được khoanh rõ.
“Và cuối cùng là khu vực sườn núi vừa mới phát hiện ra hàng loạt dấu chân thú hoang tháo chạy cùng chiều.”
Một vùng địa hình thứ năm hiện lên trên mặt giấy. Hứa An cầm sẵn cây bút chì trên tay chờ lệnh, thế nhưng Harpe vẫn chưa bảo cậu kẻ đường nối ngay. Chàng cựu đội trưởng đứng chống hai tay xuống mép bàn, cúi đầu nhìn chằm chằm vào tổng thể năm khu vực nằm rải rác ở mạn bắc suốt một lúc lâu. Tạ Vân đứng đối diện ở bên kia bàn cũng giữ im lặng chờ đợi. Mãi một lát sau, Nam mới lên tiếng phá vỡ sự tĩnh lặng:
“Nhìn ra được quy luật gì chưa Harpe?”
Harpe vẫn không rời mắt khỏi mặt giấy, thận trọng đáp:
“Tôi vẫn chưa dám khẳng định chắc chắn một trăm phần trăm.”
“Thì cậu cứ nói thử cái phần suy đoán chưa chắc chắn đó ra cho mọi người cùng nghe xem nào.”
Harpe đặt đầu ngón tay trỏ chạm vào vị trí của con Thiết Bối Hùng năm xưa, bắt đầu bóc tách từng lớp dữ kiện:
“Nếu như đặt giả thuyết là có một con yêu thú săn mồi cực mạnh vừa mới di cư tới chiếm đóng vùng núi này, thì việc một kẻ thống trị địa bàn cũ như con Thiết Bối Hùng bị đánh đuổi phải dạt xuống vùng đồi thấp là chuyện hoàn toàn hợp lý.”
Ngón tay của hắn trượt nhẹ sang vùng rừng vắng lặng kế bên:
“Sau đó, việc cả một khoảnh rừng lân cận bỗng dưng vắng bóng các loài động vật nhỏ cũng vẫn có thể giải thích được là do chúng đánh hơi thấy mùi của kẻ săn mồi mới nên sợ hãi lẩn trốn đi nơi khác.”
Nam gật gù theo dõi mạch lập luận:
“Nghe vẫn rất khớp với giả thuyết có một con quái vật lớn đang đi săn mồi mà.”
“Đúng là nếu chỉ dừng ở hai dữ kiện đầu thì vẫn khớp.” Ngón tay của Harpe lập tức di chuyển chỉ thẳng vào các điểm nghe thấy tiếng động lạ và vùng có dấu chân thú tháo chạy mới nhất. “Thế nhưng toàn bộ những địa điểm mới phát sinh trong tháng này lại hoàn toàn không hề nằm trên một tuyến đường đi săn mồi có quy luật dễ hiểu nào cả.”
Tạ Vân hơi nhướng mày hỏi lại:
“Ý của ngươi cụ thể là sao?”
“Theo tập tính tự nhiên, nếu như có một sinh vật to lớn đang di chuyển càn quét qua cánh rừng để kiếm ăn, tôi sẽ kỳ vọng nhìn thấy các dấu hiệu xáo trộn dịch chuyển nối đuôi nhau dọc theo đúng trục đường đi của nó.”
Nói tới đây, Harpe bất chợt vươn tay rút một sợi dây rút nhựa từ trong cái bó nhỏ mà Hứa An treo ở ngay cạnh bàn. Nam ngồi trên ghế nhìn thấy động tác ấy thì ngạc nhiên hỏi:
“Ơ kìa, đang phân tích địa hình tự dưng cậu lại lôi cái dây buộc đồ ra làm gì thế?”
Harpe không trả lời câu hỏi của ông chủ. Hắn đặt phần đầu vuông có ngàm khóa của sợi dây rút đè lên một tọa độ trên bản đồ, còn phần đuôi nhọn của sợi dây thì xoay hướng chỉ thẳng ra phía rìa ngoài theo đúng chiều dấu chân thú chạy. Ngay sau đó, hắn lại rút tiếp sợi dây thứ hai đặt vào tọa độ khác. Rồi sợi dây thứ ba, sợi thứ tư.
Những sợi dây nhựa màu trắng nằm thẳng tắp trên mặt giấy hoàn toàn không hề chụm mũi nhọn chỉ về cùng một điểm đích duy nhất. Thế nhưng khi nhìn tổng thể từ trên cao xuống, gốc của các sợi dây lại vô tình vây quanh tạo thành một khoảng trống rộng lớn bị bỏ lại ở phía sau. Đàn thú rừng hoàn toàn không hề tháo chạy theo một hướng cố định. Chúng đang bung tỏa ra tứ phía. Điểm chung duy nhất giữa tất cả các loài vật đó là chúng đều đang tìm mọi cách để thoát ra càng xa khỏi khu vực vùng lõi phía bắc càng tốt.
Harpe chống tay nhìn những sợi dây nhựa đóng vai trò mũi tên chỉ hướng trên bản đồ, trầm giọng kết luận:
“Nếu như đây thực sự là hiện trường của một cuộc đi săn, thứ chúng ta nhìn thấy phải là dấu vết của một kẻ săn mồi đang tiến sâu vào trong vùng thức ăn. Đằng này, toàn bộ bức tranh trên bàn lại giống như thể đang có một thứ gì đó phát tán ra từ bên trong, ép tất cả các sinh vật sống phải đồng loạt tháo chạy ra ngoài.”
Cả gian nhà chính lập tức chìm vào sự im lặng. Nam đứng dậy bước lại gần mép bàn, cúi đầu nhìn xuống tấm bản đồ. Ở chính giữa khoảng trống mà gốc những sợi dây rút nhựa đang vây quanh lúc này hoàn toàn chẳng có hình vẽ của một con yêu thú hung tợn nào, không có vòng tròn mực đỏ cảnh báo, cũng chẳng có lấy một dòng chữ ghi chú nguy hiểm. Tất cả chỉ là những sự việc rời rạc từng xảy ra ở những tháng khác nhau, được kể lại bởi những con người chẳng hề quen biết nhau, để rồi tới ngày hôm nay khi được xếp đặt nằm sát cạnh nhau trên cùng một mặt phẳng lại tự động ghép thành một hình hài bất thường.
Tạ Vân đứng nhìn những sợi dây nhựa trắng hồi lâu rồi mới chậm rãi cất lời:
“Các vị trưởng lão ở Lạc Hà Tông sau khi xem xét báo cáo cũng đều nhận định là vùng rừng phía bắc đang có vấn đề không bình thường.”
Nam ngước lên hỏi:
“Thế bên tông môn của Tạ trưởng lão đã tra ra được nguyên nhân cụ thể là cái thứ gì chưa?”
“Vẫn chưa xác định được.”
“Có khả năng nào là dấu hiệu báo trước của một đợt thiên tai sạt lở hay động đất ngầm không?”
“Người của ta đã đi kiểm tra địa mạch nhưng chưa thấy có đủ dấu hiệu của thiên tai tự nhiên.”
“Hay là có cái di tích cổ xưa nào dưới lòng đất chuẩn bị phát sáng mở cửa?”
“Quanh vùng núi đó từ xưa tới nay chưa từng có ghi chép nào về di tích cổ cả.”
“Thế còn nồng độ linh khí trong không khí ở khu vực đó thì sao?”
“Đã có đệ tử mang la bàn chuyên dụng tới đo đạc thử, tuy nhiên vẫn chưa ghi nhận được sự biến đổi linh khí nào đủ lớn và duy trì ổn định.”
Harpe đứng bên cạnh liền hỏi thêm một câu chốt chặn quan trọng nhất:
“Tính tới thời điểm hiện tại, ở quanh các xóm làng giáp ranh khu vực đó đã xảy ra trường hợp người dân nào bị mất tích chưa?”
“Vẫn chưa ghi nhận vụ mất tích nào mang tính chất có quy luật cả.”
Nam nghe xong câu trả lời đó thì gật đầu thở phào một tiếng. Thế là tốt rồi. Ít nhất thì cái sự việc kỳ quặc ngoài rừng sâu kia vẫn mới chỉ dừng lại ở chuyện chim muông thú vật tự dọn nhà đi chỗ khác, chứ chưa làm hại tới mạng người dân nào. Tạ Vân quay đầu sang nhìn biểu cảm nhẹ nhõm trên gương mặt Nam, hơi lấy làm lạ hỏi:
“Hôm nay nghe xong chừng ấy chuyện mà ngươi không định mở miệng nói câu gì à?”
Nam ngơ ngác chỉ tay vào mũi mình:
“Tôi phải nói câu gì cơ?”
“Theo thói quen mọi khi của ngươi, đáng lý ra lúc này ngươi phải lập tức xua tay tuyên bố là xưởng Tây Sơn tuyệt đối không nhận đi lên phía bắc mới đúng chứ.”
Nam bật cười thành tiếng:
“Xem ra qua mấy vụ làm việc chung, Tạ trưởng lão đã nắm thóp được tính nết của tôi rồi đấy.”
“Bản thân ta hôm nay mang hồ sơ tới đây cũng chưa hề có ý định mở miệng rủ người của xưởng các ngươi đi vào rừng ngay đâu.”
“Nghe được câu đó của Tạ trưởng lão là tôi yên tâm hẳn rồi.”
Trong khi hai người còn đang nói chuyện phiếm, ánh mắt của Harpe vẫn chưa hề rời khỏi khoảng trống trên tấm bản đồ. Hắn trầm ngâm lên tiếng:
“Muốn kết luận được chuyện gì đang diễn ra ở vùng lõi đó thì bấy nhiêu thông tin trên bàn vẫn còn mỏng quá. Chúng ta cần thu thập thêm dữ liệu thực địa.”
Tạ Vân quay sang hỏi hắn:
“Ngươi cần thêm loại dữ liệu cụ thể nào?”
“Thứ nhất là dấu vết ở các lối mòn giao thông cắt ngang qua rìa khu vực.”
“Khoản đó người của Lạc Hà Tông đang tiếp tục rà soát rồi.”
“Thứ hai là tình trạng thực tế bên trong những cái hang trú ẩn lâu năm của các loài thú lớn.”
Tạ Vân nhìn thẳng vào Harpe chờ nghe giải thích. Chàng cựu đội trưởng chỉ tay vào vùng sườn núi phía bắc, nói rõ lập luận của mình:
“Nếu như hàng loạt loài thú hoang cùng lúc rời bỏ vùng đất này, việc kiểm tra trực tiếp những cái hang đá mà chúng từng cư ngụ suốt nhiều năm sẽ cho chúng ta biết chính xác một điều. Đó là chúng đã chủ động thu dọn rời đi một cách có trật tự từ trước, hay là đã bị một thứ gì đó bất ngờ ập tới quét qua khiến chúng phải hoảng loạn bỏ chạy ngay trong đêm.”
Tạ Vân nghe xong phân tích ấy thì gật đầu:
“Ở mạn sườn núi phía bắc đúng là có sẵn vài cái hang đá cũ của bọn yêu thú từng làm ổ.”
Nam đang đứng nghe ở bên cạnh thấy câu chuyện bắt đầu lái sang hướng chui vào hang đá thì lập tức giơ tay lên cắt ngang:
“Khoan đã nào hai vị.”
Cả Tạ Vân lẫn Harpe đều cùng lúc quay đầu lại nhìn hắn. Nam chỉ thẳng ngón tay xuống tấm bản đồ trên bàn, nói rành rọt:
“Dù có định đi kiểm tra cái gì đi chăng nữa thì chắc chắn cũng không phải là xách đồ đi ngay trong ngày hôm nay đấy nhé.”
Harpe đáp gọn:
“Tất nhiên là không phải hôm nay rồi.”
Tạ Vân cũng bình thản xác nhận:
“Ta cũng chưa có ý định cử người đi sâu vào trong đó ngay vào dịp giáp Tết này.”
Nam nghe cả hai người đồng thanh xác nhận xong mới thực sự yên tâm hạ tay xuống. Quả nhiên quãng thời gian ba năm chung sống ở thành Thanh Hà đã rèn giũa được cho tất cả mọi người xung quanh hắn một thói quen làm việc hết sức đáng quý, đó là không bao giờ hấp tấp xách kiếm lao đầu vào trong rừng sâu chỉ vì vừa mới nhìn thấy một dấu chấm hỏi mơ hồ trên mặt giấy.
Sau khi Tạ Vân cáo từ rời khỏi xưởng Tây Sơn, Harpe vẫn tiếp tục ngồi nán lại ở bàn làm việc ngoài cổng cùng với Hứa An cho tới tận lúc trời sụp tối. Trong khoảng thời gian đó Nam có đi bộ ngang qua sân hai bận. Lần đầu tiên đi ngang qua, hắn thấy hai người đang cặm cụi sắp xếp lại toàn bộ xấp giấy tờ báo cáo theo đúng trình tự ngày tháng. Tới lần thứ hai đi ngang qua lúc đèn lồng đã thắp sáng, hắn lại thấy Hứa An đang cầm bút viết chép lại một danh sách dài những cái tên riêng ra một tờ giấy mới. Nam dừng bước bên cạnh mép bàn, cúi xuống hỏi:
“Hai cậu còn ngồi lập danh sách gì nữa đấy?”
Hứa An vừa đưa tay viết nốt dòng chữ vừa đáp:
“Đây là danh sách những người dân và thợ săn mà chúng ta cần phải tìm gặp để hỏi xác minh lại thông tin một lần nữa ạ.”
“Có tổng cộng bao nhiêu người trong danh sách đó?”
“Dạ có bảy người tất cả.”
“Mấy người đó có cần phải cử người đi tìm gặp ngay trong ngày mai không?”
“Dạ không cần gấp thế đâu ạ, để qua Tết hỏi cũng được.”
“Chưa cần đi hỏi ngay thế sao cậu không cất đi để ban ngày hẵng viết mà lại ngồi chong đèn làm tối mịt thế này?”
Hứa An dừng bút ngước mắt nhìn ông chủ của mình, điềm tĩnh giải thích:
“Ngày mai là bước vào mấy ngày sát Tết rồi, khách khứa tới cổng thanh toán sổ sách với biếu quà cáp sẽ rất đông, để sang lúc đó mới ngồi lọc tên e là không có thời gian yên tĩnh mà làm đâu ạ.”
Nam ngẫm nghĩ một giây rồi gật đầu cái rụp:
“Ừ, cậu tính thế nghe cũng hợp lý đấy.”
Harpe đang ngồi đối diện bên kia bàn chợt ngẩng đầu lên hỏi Nam:
“Này anh Nam, anh có còn nhớ chính xác nguyên văn câu nói của người thợ săn tên Triệu Khải lúc anh ta kể về con Thiết Bối Hùng hồi trước không?”
Nam nhíu mày cố lục tìm lại ký ức trong đầu:
“Thời gian trôi qua lâu thế rồi tôi chỉ nhớ mang máng đại khái là anh ta bảo con gấu đó bị một thứ gì khác mạnh hơn ép phải rời bỏ địa bàn cũ thôi.”
“Đó là ấn tượng chung của anh, thế còn từng câu chữ chính xác lúc anh ta nói thì sao?”
“Chịu, ai mà nhớ nổi từng chữ một.”
Harpe liền quay đầu nhìn sang phía Hứa An. Cậu thư sinh chẳng cần đợi nhắc lời thứ hai đã lập tức lật mở đúng trang sổ ghi chép lời khai gốc đặt ngay trước mặt. Nam đứng nhìn sự phối hợp ăn ý như máy chạy của hai con người đó mà không nhịn được phải buột miệng khen:
“Công nhận là càng ngày anh càng thấy thích cái thói quen cái gì cũng ghi vào sổ của cậu rồi đấy Hứa An ạ.”
Hứa An không ngẩng đầu lên, chỉ thản nhiên đáp lại một câu:
“Tháng trước lúc dọn kệ thấy tốn tiền mua giấy, chính miệng Nam huynh vừa mới chê tiểu đệ ghi chép lắm giấy tờ quá còn gì.”
“Thì cả hai câu nhận xét đó của ta đặt vào từng thời điểm đều đúng cả mà.”
Trên trang sổ cũ, những dòng chữ ghi tốc ký của Hứa An phản ánh lại sự việc cụ thể và chuẩn xác hơn trí nhớ mang máng của Nam rất nhiều. Hóa ra vào thời điểm đó, bản thân người thợ săn Triệu Khải hoàn toàn không hề mở miệng khẳng định chắc chắn rằng có một con quái vật khác mạnh hơn đã xuất hiện. Anh ta chỉ nhận định dựa trên kinh nghiệm đi rừng rằng con Thiết Bối Hùng có những biểu hiện rời bỏ lãnh địa quen thuộc một cách hết sức bất thường và không tự nhiên.
Harpe cầm cây bút chì gạch chân một đường thẳng tắp ngay bên dưới dòng chữ “không tự nhiên” ấy, đoạn dặn Hứa An:
“Khi trích lục sang hồ sơ tổng hợp, cậu nhớ giữ nguyên đúng mức độ xác thực dừng ở chữ này thôi nhé.”
Nam đứng cạnh nhìn thấy thế liền hỏi:
“Cậu không định nối thẳng nó vào giả thuyết vụ động vật tháo chạy lần này luôn à?”
“Không. Dữ kiện thực tế chỉ tới đâu thì chúng ta ghi nhận đúng tới đó, tuyệt đối không tự ý tô đậm thêm để ép nó khớp với suy đoán của mình.”
“Tốt, làm thế chuẩn đấy.”
Hứa An ngước mắt nhìn Nam với vẻ mặt hơi kỳ quặc:
“Bộ Nam huynh tưởng là anh Harpe sẽ tự mình bịa thêm tình tiết vào trong sổ để hù dọa mọi người chắc?”
“Đâu có, anh chỉ đứng hỏi kiểm tra lại quy trình một chút thôi.”
Harpe nghe vậy thì bật cười thành tiếng:
“Xem ra dạo này cách suy nghĩ của anh cũng bắt đầu nhiễm bệnh nghề nghiệp giống hệt tôi rồi đấy.”
Nam lập tức xua tay phủ nhận ngay tắp lự:
“Không hề nhé, tôi với cậu khác nhau hoàn toàn.”
Khoảng hai ngày sau đó, khi không khí Tết Nguyên Đán đã tràn ngập khắp các con phố, Hứa An được một người hàng xóm sống ở khu đất liền kề tìm tới tận cổng nhờ nói chuyện riêng về phần đất mà xưởng Tây Sơn đang thuê. Hóa ra người đàn ông ấy nghe phong thanh tin đồn ngoài chợ rằng ông chủ xưởng Tây Sơn sắp sửa bỏ bạc ra mua đứt toàn bộ dãy đất này, trong bụng đâm ra lo lắng rằng nếu như xưởng xây dựng thêm nhà kho lớn mở rộng ra phía sau thì sẽ vô tình bít mất lối đi của xe bò kéo nông sản từ ngoài đường cái vòng ra khu ruộng của mấy hộ dân bên trong.
Lúc mới nghe Hứa An vào bẩm báo lại câu chuyện, phản ứng đầu tiên của Nam là thấy hơi buồn cười, bởi bản thân hắn tính tới giờ phút này còn chưa mua được lấy một tấc đất nào trên giấy tờ thì việc gì phải đứng ra giải thích quy hoạch xây dựng với ai. Thế nhưng sau khi nghe Hứa An phân tích thiệt hơn, Nam vẫn đồng ý để cậu thư sinh kéo mình ra quán nước chè ở đầu ngõ, nơi đã có sẵn người quản việc của chủ đất, đại diện hai hộ gia đình có ruộng sát ranh giới cùng với lão Tề đang ngồi chờ.
Trên mặt bàn gỗ của quán nước, người quản việc trải rộng tờ bản vẽ địa chính cũ kỹ đã ố vàng ra cho mọi người cùng xem, trong khi một bác nông dân chuyên đánh xe bò ở địa phương thì cầm luôn một cành cây khô vạch trực tiếp lên nền đất dưới chân để mô tả lộ trình di chuyển thực tế của xe thồ. Theo như ranh giới vẽ trên tờ giấy địa chính thì con đường đi chung vốn chạy ép sát vào bờ ruộng phía ngoài, hoàn toàn không phạm vào đất của xưởng. Ngặt nỗi cứ mỗi độ vào mùa mưa dầm, phần nền đất sát bờ ruộng kia lại bị ngấm nước trở nên nhão nhoét và sụt lún, buộc những người đánh xe chở nặng muốn không bị sa lầy đều phải chủ động đánh tay lái vòng rộng sang phần đất gò cứng cáp nằm ngay sát góc sau của xưởng Tây Sơn. Lão Tề sau khi đứng ngắm nghía địa thế thực tế cũng thẳng thắn thừa nhận rằng nếu sau này xưởng Tây Sơn mà dựng thêm một dãy nhà kho chặn đúng vào cái góc đất trống dùng làm chỗ mở cua quay đầu xe đó, thì dù xét về mặt lý lẽ trên giấy tờ xưởng chẳng hề lấn chiếm một phân đường đi nào của thôn xóm, việc đi lại làm ăn của bà con hàng xóm phía sau chắc chắn sẽ gặp cảnh kẹt xe vô cùng chật vật.
Nam ngồi nghe đôi bên trình bày rõ ràng đầu đuôi chỉ mất đúng một tuần trà, đoạn đặt chén nước xuống mặt bàn, phán một câu gọn lỏn:
“Nếu cái góc đất đó là chỗ bà con dùng để mở cua quay xe mùa mưa, vậy thì sau này xưởng chúng tôi cứ chừa trống chỗ đó ra, không dựng kho ở góc ấy nữa là xong chứ gì.”
Hứa An đang ngồi bên cạnh nghe ông chủ chốt hạ nhanh gọn tới mức ấy thì không giấu được vẻ ngạc nhiên. Nam quay sang nhìn cậu thư sinh, giải thích lý do hết sức thực tế của mình:
“Tôi nói thật, tôi hoàn toàn không muốn sau này cứ mỗi buổi sáng vừa mới mở mắt ngủ dậy đã phải nghe tiếng người ta đứng ngoài cổng cãi cọ hay gõ cửa hỏi thăm xem tại sao xe bò của họ lại bị mắc kẹt ngay trước mũi nhà mình đâu. Phiền phức bỏ xừ.”
Bác nông dân hàng xóm nghe câu trả lời thẳng ruột ngựa ấy của ông chủ xưởng thì bật cười ha hả, tảng đá đè nặng trong lòng suốt mấy hôm nay lập tức được trút bỏ sạch sẽ. Bác ta vui vẻ đề nghị rằng nếu như ra giêng xưởng Tây Sơn thực sự tiến hành mua đứt mảnh đất này, trước khi đóng cọc xây thêm bất cứ công trình gì thì đôi bên cứ mời người tới đo đạc lại một lần và ghi chú rõ ràng phần lối đi mở cua chung vào trong tờ giấy thỏa thuận để về sau con cháu hai bên khỏi mất lòng. Người quản việc của chủ đất thấy thái độ thiện chí của các bên cũng gật đầu đồng ý ngay rằng sẽ tạm gác chuyện chốt giá lại cho qua hết dịp lễ, hẹn tới khi hết kỳ nghỉ Tết sẽ cùng nhau ra tận hiện trường cắm mốc đo lại ranh giới thực địa.
Buổi gặp mặt ở quán nước đầu ngõ kết thúc êm đẹp trong tiếng cười nói vui vẻ mà chẳng có bất kỳ tờ hợp đồng ràng buộc vội vàng nào phải ký kết. Đối với một người cẩn trọng như Hứa An, kết quả thu được ngày hôm nay còn đáng giá hơn cả chuyện ép giảm được vài lạng bạc tiền đất. Dù xưởng Tây Sơn mới chỉ vừa bắt đầu bước chân vào câu chuyện đàm phán quyền sở hữu lâu dài, nhưng cách hành xử của ông chủ đã cho những người dân bản địa xung quanh thấy rõ rằng tập thể này xác định sẽ chung sống hòa thuận bên cạnh hàng xóm láng giềng, chứ hoàn toàn không phải là kiểu người cậy có tiền mua đứt một khoảng đất trống trên giấy tờ rồi muốn đóng cửa làm gì mặc kệ thiên hạ thì làm.
Sang ngày hai mươi bảy tháng Chạp, nhân dịp công việc xây sửa cuối năm đã vãn bớt, lão Tề đứng ra mời một nhóm thợ mộc và thợ nề từng nhiều lần nhận việc làm thuê cho xưởng Tây Sơn ghé qua sân uống chén trà nóng, tiện thể hỏi thăm xem trong suốt ba năm qua lúc tới đây làm việc họ thường gặp phải điều gì bất tiện nhất. Một anh thợ mộc thật thà nhắc tới chuyện khu vực mái che để gỗ nguyên liệu ở góc tây hễ cứ vào mùa mưa phùn là lại bị hơi ẩm dưới đất bốc lên khá nặng. Một người thợ khác thì góp ý rằng những hôm đội thợ đi giao hàng hoặc lắp đặt đồ ở xa quay về xưởng lúc đêm muộn thường không biết phải cất trả đống dụng cụ mượn tạm vào ngăn nào cho đúng quy định vì kho chính đã khóa. Thằng nhóc A Thạch đứng nghe ở bên cạnh cũng nhanh miệng bổ sung thêm rằng mấy bác phu đánh xe chở vật liệu mới tới xưởng lần đầu rất hay đi nhầm từ lối cửa kho phụ sang thẳng khu vực sân tập vũ khí phía sau.
Hứa An ngồi ghi chép đầy đủ từng ý kiến một, sau đó liền đứng dậy mang ra một xấp thẻ ghi tên phân loại dụng cụ được làm bằng bìa giấy cứng có luồn sẵn những sợi dây rút nhựa của tháng này. Cậu thư sinh thử treo mẫu mấy tấm thẻ lên thanh giá gỗ đặt ngay dưới mái hiên gian cổng rồi hỏi mọi người xem cách đánh dấu vị trí để đồ như vậy đã đủ thuận tiện chưa. Một anh thợ nề vừa mới dỡ gạch ngoài sân xong liền bước tới, dùng chính bàn tay vẫn còn đang lấm lem bụi đất của mình cầm thử vào tấm thẻ kéo nhẹ một cái. Chỉ mới qua một lần chạm tay, mặt giấy trắng đã lập tức bị dính vệt bẩn nhòe nhoẹt. Anh thợ nhìn tấm thẻ rồi thẳng thắn đề nghị rằng đối với những khu vực giá để đồ nằm ở ngoài trời hoặc nơi thợ thuyền tay chân dính bùn đất thường xuyên qua lại, tốt nhất là xưởng nên tìm loại vật liệu nào chống thấm nước để bọc thẻ lại, hoặc cứ dùng thẳng những mảnh thẻ gỗ khắc chữ chìm lên trên thì mới bền lâu được.
Ciel lúc đó tình cờ đi ngang qua hiên nhà, nghe thấy lời nhận xét thực tế của người thợ bản địa thì gật đầu tán thành ngay:
“Anh ấy nói rất đúng đấy. Sợi dây rút nhựa của chúng ta có thể giữ cho tấm thẻ treo cực kỳ chắc chắn và gọn gàng, nhưng bản thân phần mặt thẻ ghi chữ mới là bộ phận phải trực tiếp chịu đựng điều kiện môi trường sử dụng hằng ngày.”
Đúng lúc câu chuyện bàn bạc đang rôm rả, Mina từ trong gian bếp bưng ra một khay trà nóng nghi ngút khói đặt lên bàn, mỉm cười nhắc khéo rằng những người thợ đã vất vả lao động chân tay suốt cả một năm trời hôm nay được mời tới đây là để ngồi nghỉ ngơi uống nước, chứ đâu phải cứ bước chân qua cổng xưởng Tây Sơn là lại bị lôi vào cuộc họp bắt đóng góp ý kiến cải tiến kỹ thuật. Mấy người thợ nghe cô chủ nhỏ nói vậy thì cùng nhau bật cười sảng khoái, vui vẻ xin nếm thử mỗi người một miếng bánh ngọt mới làm cho dịp cuối năm rồi mới thong thả đứng dậy cáo từ ra về.
Nam ngồi tựa lưng trên chiếc ghế mây ở góc hiên lặng lẽ lắng nghe toàn bộ cuộc trò chuyện từ đầu tới cuối. Hắn chợt nhận ra rằng một cơ ngơi đã tồn tại và vận hành suốt ba năm trời ở mảnh đất này vốn dĩ không chỉ được định nghĩa bằng tấm ảnh chụp các thành viên trong nhà vào mỗi dịp Tết đến xuân về, mà nó còn được bồi đắp nên bởi chính những con người bình dị vẫn thường xuyên ghé qua đây làm việc, góp từng giọt mồ hôi công sức và có chung một mong muốn thật lòng là nhìn thấy nơi này ngày càng vận hành tử tế hơn.
Tới ngày hai mươi tám tháng Chạp, chỉ còn đúng hai ngày nữa là bước sang năm mới, phía trưởng lão Tạ Vân lại cho người mang tới thêm một mẩu tin nhắn ngắn gọn. Lần này bản thân vị trưởng lão không đích thân ghé qua mà chỉ cử một đệ tử đi đường chuyển giấy tới bàn cổng. Nội dung trên mảnh giấy báo rằng một cái hang đá vốn là ổ trú ngụ lâu năm của yêu thú ở mạn rừng phía bắc vừa được nhóm thợ săn địa phương tiến hành kiểm tra sơ bộ từ phía bên ngoài cửa hang. Kết quả quan sát cho thấy bên trong hang hoàn toàn im ắng không có tiếng động, xung quanh cửa hang không hề có dấu phân thú mới, và trên nền đất trước cửa cũng tuyệt nhiên không có dấu chân ra vào nào trong khoảng thời gian gần đây.
Hứa An nhận mẩu giấy ngoài cổng xong liền mang vào đưa tận tay cho Harpe. Chàng cựu đội trưởng cầm mảnh giấy đọc kỹ hai lượt. Hắn vẫn giữ nguyên tắc thận trọng, không vội vàng đưa ra kết luận cuối cùng mà chỉ cầm bút chì đánh thêm một dấu ký hiệu nhỏ lên vị trí cửa hang trên tấm bản đồ. Nam đứng ngó nghiêng ở ngay bên cạnh, lên tiếng hỏi:
“Con thú chủ ổ đã bỏ cái hang đó đi chỗ khác rồi à?”
“Rất có khả năng là nó đã bỏ hang rời đi.”
“Đã khẳng định chắc chắn là bên trong trống không chưa?”
“Chưa thể khẳng định chắc chắn một trăm phần trăm được, vì nhóm thợ săn mới chỉ đứng quan sát ở ngoài cửa hang chứ chưa ai dám chui sâu vào bên trong.”
“Thế theo ý cậu là chúng ta có cần phải đích thân lên đó ngó thử bên trong một chuyến không?”
Harpe quay đầu lại nhìn thẳng vào ông chủ của mình, đáp gọn:
“Sang tháng sau hẵng đi.”
Nam đưa tay lên day nhẹ hai bên thái dương. Hắn biết ngay câu trả lời sẽ là như vậy mà. Thế nhưng điều kỳ lạ là lần này bản thân hắn lại không hề mở miệng gạt phắt đi như mọi khi. Sự thay đổi thái độ ấy hoàn toàn chẳng phải vì đột nhiên Nam nổi máu hiếu kỳ muốn đi thám hiểm hang động, mà đơn giản là bởi trên mặt bàn lúc này đã gom đủ nhiều những mảnh ghép dữ liệu thực tế để việc cử người đi kiểm tra một cái hang đá không còn là hành động mù quáng chạy theo những lời đồn thổi vô căn cứ nữa.
Harpe nhìn nét mặt của Nam, chủ động lên tiếng tính toán phương án nhân sự và trang bị:
“Chuyến đi khảo sát cái hang đó không cần thiết phải kéo cả nhà đi theo đâu.”
“Chuyện đó thì tất nhiên rồi.”
“Khi chui vào bên trong lòng hang đá hẹp và tối, chiếc Drone của anh sẽ không phát huy được tác dụng gì mấy.”
“Tôi biết cái hạn chế đó rồi.”
“Sóng liên lạc của mấy chiếc bộ đàm cầm tay nhiều khả năng cũng sẽ bị vách núi đá che chắn làm mất tín hiệu.”
“Khoản đó tôi cũng lường trước được luôn.”
“Và quan trọng nhất là muốn đi sâu vào kiểm tra lòng hang thì bắt buộc phải có thiết bị chiếu sáng đủ tốt.”
Nam dừng tay day thái dương, ngước mắt lên nhìn Harpe. Harpe cũng đứng im nhìn lại hắn. Hai người đàn ông im lặng đối diện nhau mất vài giây đồng hồ. Trong đầu Nam bất chợt nảy lên một quy luật vô cùng đáng ghét của cái hệ thống vòng quay mỗi tháng một lần kia. Lượt quay Gacha của tháng Giêng năm sau hiện vẫn còn nằm ở thì tương lai chưa tới, và một người làm việc đầu óc tỉnh táo thì không bao giờ được phép xây dựng kế hoạch tác chiến thực địa bằng cách ngồi cầu may vào một món phần thưởng chưa biết mặt mũi ra sao. Hắn lập tức mở miệng chốt hạ:
“Cứ lên danh sách chuẩn bị đồ đạc dựa theo đúng những thứ đang có sẵn trong kho hiện tại của mình đi.”
“Vâng.”
“Mang theo đèn dầu chống gió và chuẩn bị sẵn cả đuốc tẩm nhựa thông nữa.”
“Tôi hiểu rồi.”
“Còn nhỡ đâu sang đầu tháng sau trời thương lại có thêm món đồ chiếu sáng nào hiện đại hơn rớt xuống thì lúc đó chúng ta bổ sung vào ba lô sau.”
Harpe khẽ gật đầu hài lòng. Tại xưởng Tây Sơn này, tuyệt đối không có bất kỳ ai ngây thơ tới mức đem tính mạng và sự an toàn của đồng đội ra đặt cược vào những món đồ còn nằm trong vòng quay tương lai cả.
Buổi chiều ngày hai mươi chín Tết, Nam thong thả đi bộ ra ngoài sân sau, bắt gặp cảnh tượng Ciel đang cúi người dùng liền một lúc ba sợi dây rút nhựa để bó cố định một đường dây cáp chạy dọc theo mép chiếc bàn thử nghiệm cơ khí. Hắn bước lại gần, khoanh tay hỏi:
“Tính từ hôm mở thùng tới giờ, một mình bà đã xài hết nhiều dây rút chưa đấy?”
Ciel vừa dùng chiếc kìm cắt gọn phần đuôi nhựa thừa vừa đáp mà không cần ngẩng đầu:
“Tôi dùng hết khoảng sáu mươi sợi rồi.”
Nam nghe con số xong thì giật nảy mình:
“Bà dùng hết sáu mươi sợi chỉ trong vòng chưa đầy một tháng trời thôi á?”
“Ừ.”
“Trong cái xưởng này có bao nhiêu thứ đâu mà bà buộc cái gì hết tận sáu mươi sợi liền thế?”
Ciel thản nhiên vươn tay chỉ một vòng quanh gian phòng làm việc của mình. Nam đưa mắt nhìn theo hướng tay cô chỉ. Khắp các góc bàn máy, kệ sắt, những bó dây dẫn điện, các tấm thẻ phân loại linh kiện cho tới mấy đoạn ống dẫn cỡ nhỏ và cả một cơ số những món chi tiết máy móc mà hắn chẳng biết gọi tên là gì đều đang xuất hiện bóng dáng của những vòng dây nhựa màu trắng thắt gọn gàng. Nam nhìn cảnh tượng đó mà cạn lời, chép miệng phán:
“Tôi nhìn ra rồi nhé, bà đang bị nghiện cái trò rút dây nghe kêu tạch tạch này chứ gì.”
“Hoàn toàn không có chuyện nghiện ngập gì ở đây cả.”
“Rõ ràng là bà đang nghiện dùng nó.”
“Tôi dùng nhiều đơn giản vì nó tiện lợi cho việc sắp xếp xưởng thôi.”
Nam chỉ biết lắc đầu ngao ngán. Đúng lúc ấy, thằng nhóc A Thạch vừa mới đi chạy việc từ ngoài ngõ bước vào sân, nghe loáng thoáng cuộc nói chuyện giữa hai người liền nhanh chân chạy lại gần, lễ phép chìa tay ra:
“Nam ca ơi, tiện đây huynh cho đệ xin thêm mười sợi dây rút nữa nhé.”
Nam lập tức quay ngoắt đầu sang nhìn cậu nhóc, cảnh giác hỏi:
“Cậu lại định lấy thêm mười sợi nữa để đem đi làm cái trò gì?”
“Dạ đệ xin về để buộc gọn đồ đạc thôi mà.”
“Nói rõ ra xem là buộc vào những món đồ nào.”
“Dạ đệ dùng để bó mấy cái dây đai còn thừa trên chiếc ba lô đi đường, với cả dùng để treo mấy tấm thẻ đánh dấu lên khung tập bản đồ nhỏ ở bàn cổng ạ.”
Nam đứng nhìn bộ dạng ngoan ngoãn của cậu nhóc mất mấy giây, cuối cùng vẫn phải gật đầu dặn với theo:
“Vào trong thùng mà lấy, nhưng nhớ là phải dùng cho thật tiết kiệm đấy.”
A Thạch lập tức nhoẻn miệng cười tươi rói:
“Dạ vâng, đệ nhớ rồi ạ!”
Mina đang bưng rổ đồ khô đi ngang qua sân nghe thấy màn tra khảo từng sợi dây nhựa của ông chủ xưởng thì không nhịn được buột miệng trêu một câu:
“Đúng là cái đồ keo kiệt.”
Nam lập tức quay đầu sang phân trần ngay:
“Bà đừng có nói thế, cả thùng có đúng một nghìn sợi thôi, cứ đà ai đi qua cũng bốc từng nắm dùng như phá thế này thì chẳng mấy chốc mà nhẵn túi đâu.”
Mina dừng bước, quay lại hỏi hắn:
“Thế hiện giờ ở trong thùng còn lại bao nhiêu sợi tất cả?”
Nam ớ người ra vì bản thân hắn cũng chẳng buồn đếm lại. Hắn liền đưa mắt nhìn cầu cứu sang phía Ciel. Cô kỹ sư trẻ lập tức đọc ra con số ước lượng cực kỳ chuẩn xác:
“Tính tổng các túi chưa bóc trong thùng thì hiện vẫn còn khoảng bảy trăm sợi nữa.”
Nam nghe thấy con số bảy trăm thì thở phào một cái, lập tức ưỡn ngực quay sang nói với Mina:
“Đấy, bà nhìn thấy chưa, nhờ tôi quản lý chặt chẽ nên mới giữ lại được từng ấy đấy.”
Mina nhìn vẻ mặt đắc ý của hắn, hỏi ngược lại một câu:
“Cả một cái thùng vẫn còn nguyên bảy trăm sợi dây buộc, thế rốt cuộc từ nãy tới giờ anh đang đứng đây lo lắng cái nỗi gì hả?”
Nam cứng họng không trả lời được. Mina bật cười lắc đầu rồi bưng rổ đồ đi thẳng xuống bếp. Ngay lúc đó, Hứa An cũng vừa mới ôm cuốn sổ theo dõi quỹ đất đi ra tới dưới mái hiên, ngón tay cậu thư sinh chỉ thẳng vào con số ngân lượng dự phòng mà cậu đã cẩn thận khoanh tròn bằng mực đỏ từ hồi sáng. Nam cầm cuốn sổ giở lướt qua mấy dòng tính toán chi tiết bên dưới, nhận thấy ngay rằng nếu như bây giờ mình vội vàng rút tiền mặt ra đóng khoản đặt cọc lớn cho chủ đất thì khoản ngân sách để dành cho việc dặm vá lại mái ngói trước mùa mưa năm sau chắc chắn sẽ bị thiếu hụt. Hắn dứt khoát gấp cuốn sổ lại:
“Cứ thống nhất là để qua Tết rồi mới ngồi xuống bàn chuyện giá cả tiếp. Trước mắt đệ tuyệt đối đừng có vội hứa hẹn bất cứ điều khoản gì với người quản việc bên kia đấy.”
“Dạ, tiểu đệ vẫn chưa hề hứa hẹn câu nào đâu ạ.” Hứa An nhận lại cuốn sổ, đoạn lấy đầu bút chấm nhẹ vào tấm bản đồ đang trải trên chiếc bàn con ở góc hiên. “Thế còn cái kế hoạch đi kiểm tra hang đá ở mạn rừng phía bắc thì tính sao hả huynh?”
Nam đưa mắt nhìn vệt chì xám mà Harpe đã đánh dấu bên cạnh ký hiệu cửa hang trống, đáp:
“Chuyện đó cứ đợi sang tháng Giêng nhờ bên chỗ Tạ trưởng lão cử một người thông thuộc địa hình vùng núi đó dẫn đường cùng đi. Nhất định phải có thợ săn bản địa rành đường đi theo, chứ anh hoàn toàn không muốn tới lúc vào rừng lại phải nghe cậu Soma phán câu chỗ vách đá nào cậu ấy cũng bay nhảy qua được đâu.”
Hứa An liền rút tờ giấy lịch trình làm việc của tháng Giêng năm mới đẩy dịch tới sát bàn tay của Nam:
“Vậy tiểu đệ ghi lịch khởi hành vào ngày mùng mấy trên tờ lịch này đây ạ?”
“Giờ đã biết ngày nào nắng ráo ngày nào mưa gió đâu mà ghi, đệ cứ để trống dòng đó ra đấy.” Nam đẩy tờ lịch trả lại về phía cậu thư sinh, khoát tay nói: “Ngày mai là ba mươi Tết rồi, cả nhà lo nghỉ ngơi ăn Tết cho đầm ấm trước đã.”
“Dạ được. Vậy phiền Nam huynh ký xác nhận vào khoản tiền khoanh giữ riêng cho việc thương lượng đất đai ở góc trang này đi ạ. Huynh ký xong một cái là đệ đem sổ đi cất khóa tủ ăn Tết luôn.”
Nam cúi nhìn cây bút lông đã được Hứa An chấm sẵn mực đặt ngay ngắn trước mặt mình mà không nhịn được phải bật cười. Ngay khi hắn vừa hạ bút ký xong chữ tên của mình lên mặt giấy, từ dưới gian bếp đã vang lên tiếng của Mina gọi vọng lên giục mọi người vào phụ dọn nốt đồ đạc chuẩn bị cho ngày cuối năm. Hứa An cẩn thận thổi khô vết mực, gấp cuốn sổ lại cất vào tay áo rồi cũng đứng dậy sải bước đi xuống bếp phụ việc. Nam thong thả bước theo sau lưng cậu thư sinh, thầm nghĩ mọi chuyện rắc rối từ cái hang đá ngoài rừng sâu cho tới chuyện mặc cả giá đất cứ để mặc cho qua khỏi bữa cơm tất niên ngày mai rồi tính tiếp.
Buổi chiều ngày ba mươi Tết, tranh thủ lúc nắng chiều cuối đông ngoài sân vẫn còn đủ độ sáng để lấy nét rõ gương mặt từng người, cả đại gia đình xưởng Tây Sơn lại lục tục thu xếp công việc để tụ tập chụp chung một bức ảnh kỷ niệm trước khi bước vào bữa cơm tất niên. Việc lưu giữ lại một khung hình chung vào ngày cuối cùng của năm cũ giờ đây đã trở thành một nếp sinh hoạt quen thuộc không thể thiếu của cả nhà. Nhớ lại năm đầu tiên khi mới có vài thành viên quây quần bên nhau, họ từng nhờ thợ vẽ lại một bức chân dung gia đình để làm cột mốc kỷ niệm, dù vào thời điểm ấy bản thân Nam cũng chẳng ngờ mình sẽ gắn bó với mảnh đất này lâu đến vậy. Kể từ sau khi chiếc máy ảnh kỹ thuật số xuất hiện ở lượt quay Gacha thứ mười sáu, qua mỗi năm công việc ghi lại hình ảnh của cả đại gia đình đã trở nên tự nhiên và thuận tiện hơn rất nhiều.
Mina là người chủ động nhắc cả nhà ra sân chụp ảnh sớm trước khi A Thạch xin phép nghỉ làm hai hôm để về quê ăn Tết cùng gia đình vào sáng sớm ngày mùng một. Thằng nhóc vốn tính hay ngại ngùng mỗi khi phải đứng nghiêm chỉnh trước ống kính, ban đầu còn định kiếm cớ lẩn ra cổng thu dọn đồ đạc để trốn chụp hình, thế nhưng Hứa An đã nhìn thấu ý đồ của cậu đệ từ trước nên cố tình chừa sẵn một khoảng trống ngay sát bên cạnh vị trí đứng của mình.
Đến lúc tất cả mọi người đã lục tục kéo nhau ra đứng tụ hội đầy đủ ở khoảng sân đất trước hiên nhà chính, Nam phóng tầm mắt nhìn một lượt mới chợt nhận ra rằng một bức ảnh chụp tập thể vào ngày cuối năm hóa ra lại có thể đo đếm được sự thay đổi của xưởng Tây Sơn rõ ràng hơn bất kỳ cuốn sổ kế toán nào. Những con người đang trực tiếp chung sống và làm việc dưới mái nhà này hiện giờ đã có mặt đầy đủ từ Nam, Mina, Ciel, Soma, Zero, Ronan, Harpe, Shiroma cho tới Hứa An và A Thạch, thậm chí cả Cloppe cũng đang vỗ cánh bay lơ lửng ngay bên cạnh bả vai màu đỏ của Zero. Những người hàng xóm và thợ thuyền thân thiết như lão Tề, Ngô Thành, Lưu chưởng quầy ở quán trà hay Lương đại phu bên y quán tuy gắn bó mật thiết với công việc của xưởng nhưng vốn có gia đình riêng không ăn ở tại đây nên không xuất hiện trong khung hình chiều ba mươi này.
A Thạch lúc mới bước vào hàng vẫn theo thói quen định lùi ra đứng ở tít ngoài rìa, lập tức bị Hứa An vươn tay túm lấy vạt áo kéo dịch vào đứng ngay bên cạnh mình. Ở phía đối diện, Ciel cẩn thận đặt chiếc máy ảnh kỹ thuật số lên trên mặt giá gỗ cố định, căn chỉnh lại khung hình lần cuối, bấm nút kích hoạt chế độ chụp hẹn giờ rồi vội vàng chạy lúp xúp quay về vị trí đứng của mình trước khi cái đèn báo hiệu màu đỏ nhỏ xíu phía trước thân máy kịp tắt phụt.
Đúng vào giây cuối cùng trước khi màn trập nhảy số, Harpe đứng ở hàng sau nghiêng đầu nhìn sang phía Ronan rồi nhoẻn miệng cười nhắc khẽ:
“Thiếu gia cười tươi lên một chút đi kìa.”
Ronan vẫn giữ nguyên tư thế đứng thẳng lưng nghiêm nghị, đáp rằng bản thân mình hiện đang cười rồi đấy chứ, khiến cho Harpe phải bật cười bảo nhìn gương mặt ngài lúc này chẳng giống người đang cười lấy một chút nào. Câu đối đáp của hai thầy trò làm cho Shiroma đứng ở hàng trước không nhịn được bật cười thành tiếng đầu tiên, kéo theo A Thạch đứng bên cạnh cũng toe toét cười hưởng ứng, trong khi Soma vẫn còn đang quay hẳn đầu sang phía Mina để nói dở một câu gì đó thì tiếng màn trập của chiếc máy ảnh đã vang lên cái tách.
Bức ảnh kỷ niệm cuối năm thứ ba của xưởng Tây Sơn bởi thế mà hoàn toàn chẳng hề ngay ngắn chuẩn mực chút nào. Trong khung hình hiện lên trên màn hình nhỏ, cái đầu của A Thạch đang hơi nghiêng sang một bên, cánh tay của Ciel lúc vừa chạy về chỗ vẫn còn chưa kịp hạ xuống hết, Harpe thì rõ ràng đang quay sang cười trêu chọc Ronan, Zero vẫn giữ nguyên gương mặt điềm tĩnh gần như không đổi sắc, Hứa An đứng nghiêm trang thẳng tắp hệt như đang đi chụp hình làm giấy thông hành, còn bản thân ông chủ Lê Mai Nam đứng ở giữa lại mang một vẻ mặt trông có phần bất đắc dĩ hơn hẳn so với tâm trạng thực tế của hắn.
Mina bước lại gần ngó vào màn hình xem lại bức ảnh vừa chụp xong, chỉ mỉm cười gật đầu chốt một câu:
“Được rồi đấy, cứ giữ nguyên tấm hình tự nhiên như thế này đi.”
Nam cầm chiếc máy ảnh trên tay, đứng nhìn chăm chú vào màn hình lâu hơn mọi người một chút. Phía sau lưng hàng người đang đứng cười nói trong bức ảnh giờ đây đã không còn là khung cảnh hoang tàn của cái xưởng nhuộm vải dột nát cách đây hơn hai năm nữa. Mái ngói phía trên đầu họ đã được lợp lại kín đáo phẳng phiu, sợi dây phơi căng ngang góc sân đang treo mấy bộ quần áo sạch sẽ đón nắng chiều, sát bờ tường là dãy giá gỗ xếp đầy vật liệu ngăn nắp, và xuyên qua khung cửa mở rộng còn có thể nhìn thấy thấp thoáng chiếc bàn tiếp khách ngoài cổng cùng một góc gian xưởng cơ khí của Ciel. Bức tranh vẽ tay của năm đầu tiên, tấm ảnh chụp của năm thứ hai và bức hình kỹ thuật số vừa mới bấm máy chiều nay thực chất chẳng cần phải đem đặt nằm sát cạnh nhau trên mặt bàn cũng đã quá đủ để nhắc cho Nam nhớ rõ mảnh đất này cùng những con người nơi đây đã thay đổi nhiều tới nhường nào.
Mina thấy Nam cứ đứng im cầm chiếc máy ảnh nhìn mãi không nói năng gì thì nhẹ nhàng hỏi xem hắn có muốn gọi mọi người xếp hàng chụp lại một tấm khác ngay ngắn hơn không. Nam khẽ lắc đầu, đậy nắp ống kính lại rồi trao chiếc máy ảnh trả về tận tay cho Ciel, miệng đáp gọn hai chữ:
“Ảnh đẹp.”
Ciel nhận lại máy, mỉm cười hiểu ý không gặng hỏi gì thêm.
Khi màn đêm của ngày cuối năm chính thức buông xuống, Mina cùng mọi người kê nối thêm một chiếc bàn gỗ gấp vào ngay sát đầu chiếc bàn ăn cũ ở gian nhà chính để đủ chỗ ngồi cho cả đại gia đình. Do chiều cao của hai mặt tấm ván gỗ vốn không thật sự khít bằng phẳng với nhau, bất kỳ chiếc bát nào vô tình đặt đè lên đúng đường khe nối ở giữa cũng sẽ bị kênh nghiêng đi một góc. Nam đứng bên cạnh thấy vậy liền lấy ngón tay đẩy thử một chiếc bát canh đang múc lưng chừng trượt ngang qua đường gờ nối đó. Mina đứng đối diện lập tức nhanh tay giữ chặt miệng bát lại trước khi nước canh nóng bên trong kịp sánh đổ ra mặt bàn, lườm hắn một cái:
“Anh định cứ đứng đẩy thử như thế cho tới lúc bát canh đổ lênh láng ra bàn thật mới chịu thôi đấy à?”
“Tôi đẩy thử là để kiểm tra xem cái chân bàn nào đang bị hụt để còn biết đường mà chêm vào chứ.”
“Biết chỗ hụt rồi thì anh cúi xuống chêm luôn đi cho tôi nhờ.”
Nam ngoan ngoãn cúi gập người xuống gầm bàn, nhặt một mẩu gỗ vụn gấp đôi lại rồi nhét chặt vào dưới gầm chiếc chân bàn bị ngắn. Mãi cho tới khi cái bát sứ đặt ngay trên đường nối giữa hai mặt bàn đã đứng im vững chãi không còn lúc lắc nữa, ông chủ xưởng mới chính thức được cấp phép kéo ghế ngồi xuống.
Ở phía đầu bàn bên kia, Shiroma đang tất bật phụ Mina bưng từng đĩa thức ăn nóng hổi từ dưới bếp lên bày ra mâm, trong khi Soma thì vừa mới xách chậu nước rửa rau từ ngoài giếng đi vào. Cậu chàng vừa mới đặt cái chậu xuống góc hiên xong, đi ngang qua bàn ăn thấy đĩa thịt luộc thái sẵn bày trên mâm liền tiện tay thò hai ngón tay định nhón lấy một miếng bỏ vào miệng. Ngay lập tức, chiếc cán muôi gỗ trên tay Mina đã gõ nhẹ một cái chuẩn xác lên ngay mu bàn tay của cậu:
“Thức ăn còn phải bày biện lên mâm cúng tất niên xong xuôi đã.”
Soma rụt tay lại, cười chống chế:
“Tôi chỉ định nếm thử một miếng để kiểm tra giúp cô xem thịt đã chín kỹ chưa thôi mà.”
“Thịt chín mềm từ đời nào rồi. Anh đi ra chậu rửa sạch tay ngay đi.”
Ở ngoài mái hiên phía trước, Zero đang đứng treo nốt chiếc đèn lồng giấy màu đỏ cuối cùng lên móc gỗ. Cloppe thấy ánh đèn sáng ấm áp cứ thế bay lượn vòng quanh sợi dây treo làm vướng tầm tay, khiến cho chàng chiến binh áo đỏ phải kiên nhẫn dừng tay lại tới hai bận để chờ cho cái sinh vật nhỏ xíu kia tự giác bay tránh sang một bên rồi mới thắt nút dây tiếp được. Từ phía hành lang nhà sau, Ciel vừa mới từ trong xưởng cơ khí bước sang, trên cổ tay áo vẫn còn dính một vệt dầu máy màu đen chưa kịp chùi. Cô vừa mới bước tới gần cửa bếp đã bị Mina đứng chắn ngay trước mặt. Chẳng cần đợi cô quản gia phải lên tiếng nhắc nhở, Ciel tự cúi xuống nhìn hai bàn tay của mình rồi ngoan ngoãn xoay người đi thẳng ra bể nước rửa tay, hoàn toàn không hề mở miệng tranh cãi lấy nửa lời.
Ronan là người bước vào bàn ăn muộn hơn cả do phải nán lại ngoài sân phụ lão Tề khuân cất nốt mấy bó gỗ nguyên liệu còn để ngoài trời vào dưới mái che trước khi ông lão về nhà ăn Tết. Harpe ngồi ở bàn thấy vậy liền chủ động kéo sẵn chiếc ghế trống bên cạnh ra cho thiếu gia của mình, thế nhưng khi nhìn thấy trên vạt áo khoác của Ronan vẫn còn vương đầy những vụn mùn cưa vàng ươm thì không nhịn được phải lắc đầu nhắc khéo:
“Thiếu gia à, vào ngày tất niên cuối năm thế này là người trong nhà cấm tiệt chuyện mang nguyên cả cái xưởng mộc lên ngồi trên bàn ăn đấy nhé.”
“Ta vừa mới ở ngoài sân phụ lão Tề vác cất mấy bó gỗ vào kho thôi mà.” Ronan vừa đáp vừa đưa hai bàn tay phủi mạnh vào vạt áo, vô tình làm cho một ít bụi mùn cưa còn sót lại rơi lả tả xuống nền gạch.
Harpe nhìn xuống dưới chân ghế, tủm tỉm cười:
“Vâng, nhìn phần chứng cứ vật chất đang rơi đầy dưới sàn nhà kia là biết ngay ngài vừa đi làm việc tốt về rồi.”
Trong khi mọi người đã lục tục ngồi vào vị trí, Hứa An vẫn chưa vội kéo ghế ngồi xuống ngay. Cậu thư sinh còn đang đứng ngó quanh sân để tìm bóng dáng của A Thạch nhằm giao tận tay cho cậu đệ chiếc túi vải đựng quà Tết mà người nhà của cậu ở trong thành vừa gửi nhờ mang về quê. Đúng lúc ấy, bóng dáng của A Thạch mới từ ngoài cổng chạy tọt vào sân, hai bàn tay cậu nhóc nâng niu bưng một đĩa bánh nướng vẫn còn bốc khói nóng hổi, cái miệng liến thoắng khoe với cả nhà rằng bà chủ tiệm bánh ở đầu phố thấy hôm nay cậu mang trả lại chiếc giỏ mây mượn từ tháng trước tử tế quá nên đã hào phóng biếu thêm cho hẳn hai chiếc bánh mới ra lò. Hứa An đưa chiếc túi vải cho A Thạch, dặn cậu cất gọn vào hành lý để sáng sớm mai mang về quê cho gia đình, xong xuôi việc đó rồi cậu thư sinh mới chịu gấp cuốn sổ ghi chép lại và ngồi vào bàn. Dù đã ngồi vào mâm cơm tất niên, thế nhưng tới giữa bữa ăn, khi ngoài con ngõ nhỏ vẳng vào tiếng người đi đường gọi nhau ơi ới, ánh mắt của Hứa An vẫn theo phản xạ nghề nghiệp liếc nhanh về phía chiếc bàn làm việc ngoài cổng một lần. Nam ngồi bên cạnh nhìn thấy động tác ấy liền gắp một miếng chả bỏ vào bát cậu, bảo cứ yên tâm ngồi ăn Tết đi, tối ba mươi này nhỡ có vị khách nào gõ cửa hỏi việc gấp thật thì tự khắc ông chủ như hắn sẽ đứng dậy đi ra tiếp chuyện. Hứa An hơi nhướng mày ngạc nhiên, nhưng rồi cũng mỉm cười gật đầu ngồi yên tại chỗ.
Trong lúc cả bàn ăn đang rôm rả gắp thức ăn và chúc tụng nhau, Hứa An chợt nhớ ra một chuyện liền thò tay vào trong nếp áo khoác rút ra một phong thư bọc giấy kín đáo đặt lên góc bàn:
“À phải rồi, bên phía chủ đất vừa mới cho người gửi sang mức báo giá mới đấy Nam huynh.”
Nam đang cầm đôi đũa trên tay lập tức đặt xuống mặt bàn, ngạc nhiên hỏi:
“Họ gửi báo giá mới sang ngay vào chiều ngày ba mươi Tết hôm nay luôn á?”
“Dạ, người quản việc của họ đích thân mang qua đưa lúc chiều muộn. Lúc đó ngoài sân đang có mặt mấy người thợ tới nhận tiền công nên tiểu đệ vẫn chưa tiện bóc ra xem trước mặt khách.”
“Chuyện đất đai đã hẹn để ra giêng mới bàn tiếp, đệ hoàn toàn có thể cất cái phong thư này đi đợi tới ngày mai ngày kia đưa cho anh xem cũng được mà.”
“Ban đầu tiểu đệ cũng định để qua ngày mùng một mới trình lên. Có điều hồi chiều lúc đứng ngoài hiên chính miệng Nam huynh vừa mới nhắc tới chuyện tiền thuê đất trước mặt tất cả mọi người trong nhà rồi, nên đệ nghĩ cứ đưa ra báo lại một tiếng cho rõ ràng.”
Nam đưa mắt liếc nhanh sang phía Mina. Cô quản gia lúc này đang bận múc thêm một muôi canh nóng vào bát cho Shiroma, vẻ mặt hoàn toàn bình thản như thể không có ý định can thiệp vào chuyện công việc của hai người đàn ông. Nam liền cầm phong thư bóc nhẹ mép giấy, rút tờ báo giá bên trong ra đọc lướt qua con số vừa được viết lại rồi lập tức gấp gọn tờ giấy trả về tay cho Hứa An cất đi. Con số mới mà phía chủ đất đưa ra đã chịu nhượng bộ lùi xuống thấp hơn một bậc so với lời phát giá đầu tiên hôm giữa tháng, thế nhưng tính toán kỹ ra thì nó vẫn còn cao hơn một chút so với hạn mức an toàn mà xưởng Tây Sơn có thể chi trả một lần mà không làm ảnh hưởng tới quỹ dự phòng. Hắn điềm tĩnh chốt lại đúng một câu:
“Cứ giữ nguyên kế hoạch là để qua Tết mới ngồi xuống đàm phán tiếp. Trước khi hai bên ra thực địa đo đạc lại ranh giới và thống nhất xong cái lối quay đầu xe bò với hàng xóm thì tuyệt đối chưa đặt cọc một đồng nào hết.”
“Dạ, tiểu đệ nắm rõ rồi ạ.” Hứa An cẩn thận gấp chiếc phong thư cất sâu trở lại vào trong ngực áo.
Nam cầm đôi đũa lên, gắp một miếng thịt kho tàu béo ngậy định đưa lên miệng. Ngay trước khi miếng thịt kịp chạm tới môi, Mina đã nhẹ nhàng đẩy chiếc bát canh nóng hổi tới ngay trước mặt hắn, lên tiếng nhắc:
“Tranh thủ lúc canh còn đang nóng thì ăn đi đã. Còn cái chuyện mua bán đất cát kia, anh cứ để cho người ta ăn hết mấy ngày Tết xong xuôi rồi hẵng tính.”
Nam vừa đón lấy bát canh vừa gật gù hưởng ứng:
“Thì chính bản thân tôi vừa nãy cũng nói y hệt cái ý đó còn gì.”
Mina liếc xéo hắn một cái, buông một câu chuẩn xác tới từng chữ:
“Cứ mỗi lần có cớ để được hoãn việc rút hầu bao tính tiền ra là y như rằng anh lại nảy ra cái ý đó nhanh lắm.”
Ở phía bên kia bàn ăn, thằng nhóc A Thạch ngồi nghe lỏm được câu nói móc máy của chị Mina thì không nhịn được bật cười thành tiếng quá to, làm cho chiếc bánh nướng đang cầm dở trên tay trượt khỏi ngón tay rơi bộp xuống lòng đĩa. Ronan ngồi ngay bên cạnh liền điềm đạm rút một chiếc khăn vải sạch đưa sang cho cậu nhóc lau tay. Harpe nghiêng người nói thầm một câu trêu chọc gì đó rất khẽ bên tai khiến cho chàng hiệp sĩ phải lập tức quay đầu sang nhìn người cận vệ của mình, trong khi ở đầu bàn bên này Shiroma đang nhân lúc Mina quay đi chỗ khác liền lén gắp thêm hai đũa rau xanh bỏ vào trong bát cơm của Soma.
Hai chiếc bàn gỗ kê nối tạm bợ vẫn chưa thật sự thẳng hàng, chỗ ngồi xung quanh mâm cơm cuối năm thứ ba này đã trở nên chật chội hơn năm ngoái rất nhiều, tới mức mỗi lần Nam muốn gắp một miếng cá kho ở đĩa phía xa đều phải rướn dài cả cánh tay ra mới với tới nơi. Hắn vừa nhai cơm vừa thầm quyết định trong bụng rằng sang năm tới, nếu như cả đám vẫn còn tiếp tục sinh sống ở mảnh đất Tây Sơn này, việc đầu tiên hắn làm sẽ là đóng thêm một chiếc bàn ăn mới. Một khi bước qua được suôn sẻ cái vụ thương lượng mua đất vào mùa xuân tới, nhất định hắn sẽ nhờ lão Tề chọn gỗ tốt đóng cho cả nhà một cái bàn ăn nguyên khối thật dài và thật phẳng phiu. Còn ngay trước mắt, nhiệm vụ tối thượng của ông chủ xưởng trong đêm giao thừa này là phải tự giác đứng dậy bê chồng bát đĩa bẩn dưới mâm đi xuống bếp rửa trước khi để cho Mina phải mở miệng gọi tên mình tới lần thứ hai.