🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục Khai Thác AI
🔎 Tìm kiếm ⬇️ Tải app Android
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google
← GACHA VẠN GIỚI

Ch.31: Ba trăm chiếc kẹp quần áo

~65 phút đọc · 12972 từ · · ⚠️ Báo cáo

Đầu thu gõ cửa thành Thanh Hà bằng những chuyển biến rất nhẹ nhàng. Nắng giữa trưa vẫn đủ gắt để con đường đất trước cổng Tây Sơn bốc bụi mù mịt mỗi khi có ngựa chạy qua, nhưng gió sáng sớm đã bắt đầu man mát. Trời sập tối nhanh hơn. Những cánh đồng ngoài Tây môn dần ngả sang màu vàng sậm, xe thồ chở nông sản nối đuôi nhau vào thành nườm nượp, còn sợi dây phơi quần áo phía sân sau thì liên tục bị gió mùa thu giật tung tới mức Mina phải lọ mọ đi nhặt đồ rơi tới hai bận chỉ trong vòng ba ngày.
Bận thứ ba rơi trúng vào buổi sáng có lượt quay mới.
Nam đang ngồi vắt chân uống trà dưới mái hiên thì một chiếc áo vải trên dây bị cơn gió lốc thổi bổng lên, lượn nửa vòng qua sân đất rồi đáp xuống ngay sát chân tường. Mina đang bê chậu gỗ đựng đồ ướt trên tay, dừng bước nhìn chiếc áo nằm dưới đất rồi quay đầu nhìn sang phía hiên nhà.
“Nam, ra nhặt hộ tôi cái áo!” Mina gọi với sang, một tay ghì chậu gỗ vào hông, tay kia giữ chặt tấm khăn mặt đang chực bay nốt.
Nam nhổm đầu ngó ra khỏi thành ghế mây. Chiếc áo nằm cách chỗ Mina đứng chưa tới ba bước chân:
“Bà bước thêm có hai bước là tới nơi rồi.”
“Còn anh chỉ việc nhấc cái mông khỏi ghế thôi.” Thấy hắn vẫn ngồi im bất động, Mina đành đặt chậu đồ xuống đất, bước tới nhặt chiếc áo lên phủi bụi rồi treo lại lên dây.
“Cái lý thuyết phân công lao động hợp lý của anh chỉ áp dụng cho người khác thôi nhỉ?”
“Tôi đang bận canh ấm trà mà.”
Nam nhấp một ngụm nước nóng, vừa định mở miệng bồi thêm vài lý lẽ nữa thì cảm giác quen thuộc từ giao diện hệ thống báo về. Hắn đặt chén sành xuống mặt bàn.
“À, tới giờ quay Gacha rồi.”
“Biết ngay mà.” Mina buộc tạm hai ống tay áo vào sợi dây cước. Thấy hắn còn đứng nhìn, cô hất cằm về phía sảnh.
“Anh vào mở trước đi. Tôi phải chằng nốt đống đồ này lại kẻo gió thổi bay sang tận ruộng người ta bây giờ.”
Nam đứng dậy phủi vạt áo:
“Bà không tò mò xem tháng này rơi ra thứ gì à?”
“Thứ đó có giữ hộ tôi đống quần áo này khỏi bay không?” Mina hỏi vặn lại mà chẳng buồn đợi câu trả lời, lấy khuỷu tay ghì chặt mép vải đang phồng lên vì gió.
Nam thong thả bước vào gian nhà chính. Vừa qua khỏi ngưỡng cửa, một chiếc thùng giấy vuông vức đã nằm sẵn giữa sàn gạch. Trải qua ba mươi tháng ròng rã, cả nhà đã quá quen với kiểu xuất hiện không đèn đóm phô trương này. Nam ngồi xổm xuống, rạch băng keo mở nắp thùng.
Bên trong chất đầy những túi bóng kính cỡ lớn, mỗi túi nhét chật cứng hàng chục chiếc kẹp nhựa đủ màu xanh đỏ. Nam thò tay nhặt một chiếc lên bóp thử. Hai mảnh nhựa cứng ghép qua một vòng lò xo thép ở giữa. Chẳng có linh khí lượn lờ, cũng chẳng có vi mạch điện tử nào ẩn bên trong. Đơn thuần là một chiếc kẹp phơi đồ gia dụng.
【Lượt quay thứ 31 hoàn tất. Phần thưởng: Kẹp quần áo bằng nhựa ×300.】
Nam đọc dòng thông báo lơ lửng trước mặt, rồi lại cúi nhìn đống túi nhựa sặc sỡ dưới đất. Đúng lúc ấy Mina từ ngoài sân bước vào, một bên ống tay áo vẫn còn sẫm nước giếng. Cô chẳng buồn hỏi xem món đồ này đem bán được bao nhiêu tiền, chỉ cúi xuống rút phăng một chiếc kẹp màu xanh rồi quay người bước thẳng ra sân.
Khi Nam ôm cái thùng giấy đi theo ra tới hiên sau, chiếc áo bị gió quật rơi ban nãy đã nằm phẳng phiu trên dây cước. Mina bấm chiếc kẹp nhựa ghim chặt phần vai áo vào dây, dùng tay giật nhẹ thử một cái. Cơn gió thu lại thổi tạt qua làm vạt áo phồng căng như cánh buồm rồi xẹp xuống, tuyệt nhiên không xê dịch nửa phân.
Mina quay lại, chìa bàn tay ra trước mặt hắn:
“Đưa thêm ba cái nữa đây.”
“Bà định xài hết sạch ba trăm cái kẹp ngay trong một buổi sáng đấy à?”
Nam ôm khư khư chiếc thùng giấy trước ngực, vẻ mặt xót của hệt như thể hắn vừa phải tự móc tiền túi ra chợ mua lẻ từng chiếc một.
Mina chỉ tay dọc theo mấy sợi dây phơi giăng ngang góc sân:
“Khăn lau bếp phải phơi riêng một dây. Giẻ lau dầu mỡ bên xưởng của Ciel giặt xong cũng mang ra đây treo. Mấy hôm trước gió thổi bay mất một chiếc tất của anh, cuối cùng ai là người phải đi lùng khắp bờ rào?”
“Chiếc tất đó tự quay về chân tôi rồi còn gì.”
“Là nhờ Soma đi tập về nhặt được ngoài bụi tre đấy.” Mina lại ngoắc ngón tay.
“Đưa ba cái đây.”
Nam đành rút ba chiếc kẹp đặt vào lòng bàn tay cô. Mina nhận đủ số lượng mới quay sang ghim tiếp tấm khăn vải lên dây, hoàn toàn bỏ ngoài tai mấy lời lải nhải của hắn về việc một lượt quay thần thánh mỗi tháng một lần đáng lý phải nổ ra thứ gì đó có giá trị trao đổi cao hơn. Nam cúi nhìn đống kẹp nhựa trong thùng, rồi lại ngước nhìn hàng quần áo đang bay phần phật mà không rơi. Hóa ra cái nhà này đang thiếu thứ này thật, chẳng qua bản thân hắn chưa từng phải đi nhặt tất rơi nên không để tâm.
“Nhưng một lúc cho tận ba trăm cái thì có hơi lố quá không?” Nam lẩm bẩm.
“Nhiều thật,” Mina vừa kẹp góc khăn vừa đáp.
“Nhưng tôi đang thiếu đồ giữ quần áo. Còn anh thấy thiếu thứ gì thì để tháng sau tự đi mà thương lượng với cái bảng hệ thống của anh ấy.”
Nam nhăn mặt. Câu trả lời chẳng xoa dịu được nỗi hụt hẫng của hắn là bao, có điều bảo hắn thò tay tháo lại mấy chiếc kẹp vừa đưa cho Mina thì hắn không đủ can đảm.
Lúc đầu Nam còn định bụng cãi rằng chiếc drone tháng trước hữu dụng hơn đống nhựa vụn này gấp trăm lần, nhưng chưa tới giờ cơm trưa, hắn đã thấy những chiếc kẹp đủ màu sắc bắt đầu bò đi khắp các ngóc ngách trong viện Tây Sơn.
Hứa An từ gian cổng đi vào xin một vốc đem ra bàn trực, dùng kẹp ghim chặt xấp phiếu ủy thác vào cạnh tấm bảng gỗ.
“Thứ đó vốn dùng để kẹp quần áo đấy,” Nam đứng tựa cửa nhìn, giọng không giấu nổi vẻ tiếc rẻ.
“Thế nó có giữ chặt được xấp giấy này không Nam huynh?”
Hứa An vừa hỏi vừa lật thử tờ giấy trên cùng, cả xấp đơn bên dưới vẫn nằm im phăng phắc.
“Giữ thì giữ được. Cơ mà...”
“Thế là tốt rồi.” Hứa An kẹp thêm tờ phiếu mới viết vào bảng, mắt đã quay lại cuốn sổ tính toán chi phí cho chuyến hàng chiều nay.
Lát sau, Ciel cũng sang bốc hai chiếc mang về xưởng cơ khí, dùng để cố định tạm đoạn dây dẫn dọc theo mép bàn thao tác. Mina đi ngang qua cửa xưởng thấy vậy liền dừng chân hỏi vọng vào: “Ciel, cô có định châm lửa hàn ở ngay chỗ đó không đấy?”
Ciel đang một tay giữ mối dây, nghe tiếng liền ngẩng đầu lên: “Không hàn ở góc này. Trước khi gia nhiệt tôi sẽ tháo kẹp nhựa ra trước.”
“Vậy thì cứ dùng đi. Làm chảy nhựa biến dạng thì chiều nay đừng có sang xin thêm đấy.”
“Trong thùng còn gần ba trăm chiếc cơ mà.”
“Chính vì có sẵn ba trăm chiếc nên mới phải rèn thói quen giữ gìn từ cái đầu tiên,” Mina đáp rồi bước đi thẳng trước khi Ciel kịp tìm ra lỗ hổng logic trong câu nói vừa rồi.
Ở dãy hành lang phía bắc, Ronan xin bốn chiếc để chặn các góc trang giấy tập viết chữ mỗi khi mở cửa sổ đón gió, còn Harpe cũng lấy hai chiếc để đánh dấu trang sổ đang tra cứu dở.
Buồn cười nhất là A Thạch. Thằng nhóc cầm chiếc kẹp màu vàng lên ngắm nghía cái lò xo thép một hồi, tò mò bóp mở ra rồi kẹp thử vào đầu ngón tay trỏ. Lò xo mới cứng bật mạnh làm cậu nhóc xuýt xoa rụt tay lại. Xoa đầu ngón tay đỏ ửng một lúc, chẳng hiểu trong đầu nảy ra suy nghĩ gì, A Thạch lại giơ chiếc kẹp lên bấm thử vào dái tai mình.
“Nam ca...” A Thạch mếu máo gọi.
“Đau lắm hả?”
“Đau điếng luôn.”
“Biết đau ở ngón tay rồi sao còn đưa lên tai thử làm gì?”
A Thạch vội vàng bóp tháo chiếc kẹp xuống, mặt đỏ bừng tới tận mang tai: “Tại đệ cứ tưởng thịt ở vành tai thì khác ở ngón tay.”
Nam gật gù với vẻ mặt của một vị học giả vừa nghiệm thu xong kết quả thực nghiệm quan trọng: “Giờ thì có kết luận thực tế rồi đấy. Đi ra giếng rửa tay đi, lát nữa còn ra cổng đối chiếu đường sá.”
A Thạch biết mình bị ông chủ đem ra làm trò cười, một tay ôm tai chạy biến ra sân sau. Tới chiều muộn, Mina gom toàn bộ số kẹp nhựa còn lại đổ vào một chiếc giỏ mây rồi cất lên tầng kệ cao nhất trong kho, tránh cảnh ai đi qua cũng tiện tay bốc vài chiếc rồi quăng quật khắp nơi. Tới sáng hôm sau đem chăn màn ra giặt giũ một mẻ lớn, cả nhà mới nhận ra con số ba trăm chiếc hóa ra cũng chẳng dư dả như họ tưởng lúc đầu.
Cùng thời gian đó, sau những đợt bay thử nghiệm hồi cuối hạ, Ciel đã nắm trọn các thông số an toàn của chiếc drone để đưa nó vào phục vụ công việc thực tế. Chẳng ai trong viện biết được cự ly bay xa tuyệt đối của nó là bao nhiêu dặm, bởi Ciel thẳng thừng bác bỏ cái ý tưởng cho máy bay thẳng một mạch tới khi mất sóng để đo giới hạn. Sức gió ngoài đồng làm thay đổi tốc độ tiêu hao pin. Đồi đất và rừng cây che khuất đường truyền. Những khu vực có trận pháp hoặc mạch linh khí hỗn tạp thỉnh thoảng lại làm khung hình chập chờn. Hơn nữa, ống kính máy quay nhìn thấy một con đường mòn nhưng chẳng thể tự biết con đường đó nền cứng hay bùn nhão, mùa mưa xe thồ đi qua có bị sa lầy hay không.
Chính cái nhược điểm cuối cùng ấy khiến Harpe ngày càng phải gọi A Thạch ngồi lại hỏi chuyện nhiều hơn.
Chiều hôm ấy, một vị thương nhân ghé vào gian cổng hỏi thuê người đi áp tải hai cỗ xe hàng tới một thôn nhỏ nằm về hướng tây bắc. Ông khách bảo đường đi chẳng xa xôi gì, cứ ra khỏi Tây môn, qua một cây cầu gỗ, thấy gốc cây cổ thụ bị sét đánh cháy đen thì rẽ phải là tới.
Hứa An vừa chấm bút định ghi phiếu nhận việc thì Harpe đã kéo chiếc ghế đẩu ngồi xuống cạnh bàn, trải một tờ giấy trắng ra trước mặt vị khách.
“Cây cầu gỗ mà ông nói nằm ở đoạn nào?” Harpe hỏi.
“Thì cây cầu gỗ bắc qua con mương ngoài Tây môn ấy. Cứ đi dọc đường cái là thấy ngay.”
Harpe chấm nhẹ đầu bút bi lên mặt giấy: “Gốc cây bị sét đánh nằm ở phía trước hay phía sau cây cầu đó?”
Vị thương nhân hơi nhíu mày: “Nằm ở phía sau cầu chứ. Ta đánh hàng đi lối ấy ba bận rồi, lẽ nào lại nhớ nhầm đường.”
“Khách đi quen thì không lạc, nhưng người của viện tôi đi thay ông nếu chỉ nghe tả miệng thì rất dễ rẽ nhầm,” Hứa An điềm đạm chêm vào. “Tôi cần hỏi rõ để còn tính xem xe hai trục chở hàng nặng có lăn bánh qua nổi cầu không, và nhỡ gặp mưa bất chợt thì mặt đường thế nào.”
“Có một đoạn hơi trũng dễ đọng bùn, cơ mà mấy hôm nay trời đang nắng ráo mà.”
Đúng lúc đó A Thạch vừa đi chạy tin ngoài phố về, đang ngồi bệt trước bậc cửa tháo đôi giày vải dính đầy đất cát. Nghe loáng thoáng thấy nhắc tới gốc cây sét đánh, cậu nhóc ngẩng đầu lên nói vọng vào: “Hứa huynh, có phải ông khách đang nói tới cái gốc cây cụt ngọn ở đầu bãi đá cũ không? Nếu là ngã rẽ chỗ ấy thì đừng cho xe hàng đi lối bên dưới nhé. Hôm kia đệ chạy ngang qua đấy, tận mắt thấy một chiếc xe bò bị sụt bánh xuống rãnh bùn ngập tới nửa vành gỗ đấy.”
Vị thương nhân quay ngoắt lại nhìn thằng nhóc: “Đúng là chỗ bãi đá đó đấy. Nhưng đi ngả dưới mới tiết kiệm được thời gian.”
“Lối đó chỉ ngắn hơn cho người đi bộ không mang vác gì thôi ông chủ ạ.” A Thạch nhặt một cành cây khô, vạch luôn một đường cong trên nền đất trước hiên cổng. “Hai xe chất đầy hàng nặng thì phải vòng theo sườn đất khô bên trên này. Đi xa hơn chừng hai dặm đường nhưng ngựa kéo đỡ kiệt sức mà không lo gãy trục.”
Harpe bước ra ngồi xổm xuống cạnh vệt đất A Thạch vừa vạch, mở cuốn sổ tay ghi lại cả hai nhánh đường, đồng thời đánh thêm một dấu hỏi chấm ngay cạnh vị trí cây cầu gỗ.
“Trong bản đồ địa giới quanh thành Thanh Hà có vẽ cây cầu nhỏ này không?” Harpe ngước lên hỏi Hứa An.
“Bản đồ quan phủ chỉ vẽ các trục đường cái lớn với sông ngòi chính thôi, mấy cây cầu gỗ dân tự bắc qua mương thế này không có trên giấy đâu,” Hứa An đáp. “Mỗi lần có khách mới tới thuê đi thôn lẻ, hỏi han xác nhận lại lộ trình cũng mất đứt cả buổi trời.”
Đợi tới khi vị thương nhân chốt xong phương án đi đường vòng và rời khỏi cổng, A Thạch đã tiện đế giày di phẳng luôn vệt bản đồ vẽ trên đất. Harpe vẫn đứng tần ngần nhìn khoảng sân trống. Hắn có thể giữ A Thạch lại hỏi thêm mười tuyến đường nữa ngay lúc này, nhưng nếu ngày mai có khách hỏi đường đúng lúc A Thạch đang bận chạy việc ngoài thành thì ở gian cổng vẫn chẳng có gì để tra cứu.
Harpe quay vào bàn, đặt một tờ giấy bản to lên mặt gỗ rồi chấm một điểm đen ở góc dưới: “Lấy điểm này làm xưởng Tây Sơn của chúng ta.”
A Thạch ghé mắt nhìn. Harpe chấm thêm một điểm thứ hai cách đó một quãng: “Chỗ này là Tây môn.”
“Vâng.”
“Con đường nối ra cầu gỗ chạy theo hướng nào?”
A Thạch đưa ngón tay trỏ di một đường chéo trên mặt giấy: “Nó uốn qua chỗ này này đại ca.”
Harpe cầm bút vẽ theo ngón tay cậu nhóc: “Thế vị trí cây cầu nằm ở đâu?”
“Ở khúc này.”
“Gốc cây bị sét đánh?”
“Qua khỏi cầu một đoạn ngắn.”
“Còn bãi đá cũ?”
A Thạch lại chỉ tay sang mé trái.
Chưa đầy năm phút sau, tờ giấy trắng trên bàn đã biến thành một mớ bòng bong vô cùng khó hiểu, những nét ngoằn ngoèo hoàn toàn lệch tỷ lệ, vài ký hiệu tự chế chẳng theo quy chuẩn nào, cùng một vòng tròn méo mó mà chính hai người vừa vẽ xong nhìn lại cũng bắt đầu lẫn lộn không nhớ nổi nó là gốc cây khô hay bãi đá.
Hứa An ngồi bên cạnh ngó sang, buông một câu gọn lỏn: “Vẽ sai cự ly rồi.”
Harpe ngước mắt nhìn cậu: “Sai ở đoạn nào?”
“Quãng đường từ Tây môn đi ra tới cây cầu gỗ dài gấp ba lần đoạn từ cây cầu rẽ vào bãi đá. Trên giấy huynh vẽ hai đoạn bằng chằn chặn nhau.”
Harpe cầm bút gạch chéo đường vừa vẽ. A Thạch đứng cạnh gãi đầu phân bua: “Cũng đâu đến nỗi xa gấp ba lần đâu Hứa huynh.”
Hứa An nhìn thẳng vào mặt cậu nhóc: “Đợt tháng trước chính miệng đệ báo với huynh là đi từ Tây môn ra tới cầu gỗ mất gần nửa canh giờ còn gì.”
“Đấy là thời gian đệ chạy bộ cắt qua bờ ruộng.”
“Còn khách thuê hộ tống thì đánh xe ngựa đi theo đường lớn.”
“À... thế thì đúng là khác thật.”
Nam đứng tựa lưng vào khung cửa gian cổng, khoanh tay nhìn ba con người đang chụm đầu cãi nhau bên tờ giấy nháp gạch xóa chi chít. A Thạch thì cứ lấy tốc độ đôi chân của mình ra làm thước đo, Hứa An thì quy đổi theo sức kéo của xe thồ hàng, còn Harpe cứ vẽ được một nét lại phải gạch bỏ một nét.
Nhìn một hồi ngứa mắt, Nam không nhịn được bèn lên tiếng: “A Thạch, cậu vỗ ngực kêu thuộc làu từng ngõ ngách quanh thành Thanh Hà mà bảo chỉ lên giấy lại rối tinh rối mù thế à?”
A Thạch quay phắt đầu lại kêu oan: “Nam ca nói thế thì oan cho đệ quá! Mấy con đường đó bảo đệ nhắm mắt chạy bộ đệ cũng tìm tới nơi được. Chứ bảo đệ ngồi trong phòng nhìn xuống mặt giấy phẳng lì rồi chấm xem khúc cua nó cong sang bên nào thì đệ chịu chết. Đệ chạy bằng hai chân dưới đất chứ có mọc cánh bay trên trời đâu mà nhìn toàn cảnh được!”
Câu nói buột miệng ấy khiến Harpe lập tức dừng ngòi bút. Hắn ngẩng đầu nhìn ra ngoài khoảng sân nắng, nơi Ciel đang đặt chiếc drone lên mặt bàn đá để hong khô lớp vỏ sau buổi lau chùi định kỳ.
Nam nhìn theo ánh mắt của Harpe, đọc thấu ngay lập tức ý định vừa lóe lên trong đầu vị chỉ huy này nên giơ tay chặn trước: “Khoan đã nhé. Đừng có ai đề xuất cái ý tưởng mang con drone kia bay đi vẽ bản đồ. Pin của nó không phải là vô tận đâu.”
“Ta chỉ cần cho nó bay lên chụp lại hình dáng tương đối của vài nhánh đường hay có khách thuê thôi,” Harpe điềm tĩnh trình bày. “Có được khung đường nhìn từ trên cao rồi, phần việc chú thích chỗ nào lầy lội, chỗ nào xe lớn đi được sẽ do A Thạch điền vào sau.”
Hứa An gõ nhẹ cán bút bi xuống mặt bàn, gật gù tán thành: “Nếu chỉ để ghi tên mấy cái thôn xóm thì chẳng bõ công tốn điện. Nhưng nếu vẽ sẵn được các chướng ngại vật trên tuyến đường giao hàng, lúc khách tới cổng đặt cọc, tiểu đệ chỉ cần nhìn vào bản đồ là báo giá và chọn lộ trình được ngay, khỏi phải đợi tìm A Thạch về hỏi.”
Nam quay sang nhìn thằng nhóc chạy tin: “Cậu có muốn đi theo làm hoa tiêu vụ này không?”
“Muốn chứ Nam ca!” A Thạch gật đầu lia lịa. “Đệ cũng tò mò muốn xem cái ống kính trên trời kia có dòm xuyên qua được vòm cây chỗ cây cầu gỗ không.”
“Ống kính quang học không nhìn xuyên qua tán lá rậm được đâu,” giọng Ciel vang lên ngay từ ngoài bậc cửa, chẳng biết cô đã đứng nghe cuộc bàn bạc này từ lúc nào. Cô bước vào, đặt chiếc khăn lau kính xuống góc bàn. “Nhưng nếu chỉ bay khảo sát từng chặng ngắn ngoài Tây môn thì làm được. Tôi cần chốt trước khung giờ bay có nắng tốt và một người đi theo xách hộp pin dự phòng.”
Nam chỉ tay thẳng vào Harpe: “Ai khởi xướng dự án thì người đó tự đi mà cầm sổ ghi chép.”
Harpe lập tức cầm lấy cây bút bi và cuốn sổ nháp, thái độ hợp tác nhanh gọn tới mức khiến Nam đâm ra nghi ngờ không biết mình có vừa bị gài vào một công trình dài hơi nữa hay không. Mina bê giỏ quần áo vừa phơi khô đi ngang qua, liếc nhìn tờ giấy gạch xóa đen kịt trên bàn rồi phì cười: “Các người vẽ cái bùa chú gì mà xấu thế.”
“Đây mới là bản phác thảo ban đầu thôi,” Harpe nghiêm túc đính chính.
“Thế lúc mang ra đồng nhớ lấy mấy cái kẹp nhựa mà ghim chặt góc giấy vào bìa gỗ ấy,” Mina dặn với lại. “Tôi không rảnh đi lội ruộng nhặt bản đồ bay mất hộ mấy người đâu đấy.”
Dù tối hôm trước Nam đã tuyên bố mình đứng ngoài cuộc, sáng hôm sau hắn vẫn bị dựng dậy khỏi chiếc ghế mây. Người đứng chặn trước hiên nhà lần này là A Thạch. Cậu nhóc đã buộc gọn gấu quần, kiên nhẫn đứng đợi cho tới khi Nam uống cạn ngụm trà sáng cuối cùng.
“Nam ca, huynh đi cùng tụi đệ một đoạn ngắn thôi. Đệ cần có người đủ thẩm quyền đứng ra hô dừng lại đúng lúc.”
“Ciel cầm bộ điều khiển thì tự cô ấy biết lúc nào cần hạ cánh chứ sao.”
“Ciel tỷ chỉ canh vạch pin của cái máy thôi. Còn Harpe đại ca thì hễ thấy đường ngang ngõ tắt là lại muốn ghi thêm vào sổ. Nhỡ ra tới ngoài đồng hai người đó hứng lên cứ bàn nhau bay rướn sang thôn kế tiếp thì đệ lấy tư cách gì mà cản?”
Nam liếc mắt nhìn ra phía cổng chính. Harpe đang đứng kiểm tra lại túi đựng sổ sách, giả vờ ngó lơ lên ngọn cây hòe. Nam thở dài, biết tỏng mình đã bị thằng nhóc này bắt thóp. Mina từ trong bếp bước ra, đặt luôn bầu nước đun sôi để nguội vào tay hắn rồi thu dọn bộ ấm chén mang đi rửa, chẳng thèm hỏi xem ông chủ có đồng ý xuất hành hay không.
Chuyến khảo sát đầu tiên được giới hạn ở cự ly rất gần. Cả nhóm đi bộ từ xưởng Tây Sơn qua cổng Tây môn, men theo trục đường đất dẫn về hướng tây bắc mà A Thạch đã chạy mòn cả đế giày. Ciel đi giữa cầm bộ điều khiển, A Thạch dẫn đường chỉ mốc thực địa, Harpe cầm bảng gỗ kẹp giấy trắng theo sát bên cạnh. Hứa An ban đầu định ở lại trông cổng, nhưng nghĩ thế nào lại nhờ Ronan trông giúp hai canh giờ để đích thân đi theo chuyến đầu, cốt thống nhất quy chuẩn ký hiệu ngay từ gốc kẻo mấy người kia mang về một bản vẽ chỉ có người vẽ mới đọc hiểu. Nam lững thững đi khóa đuôi, trên vai khoác bầu nước, gương mặt viết rõ bốn chữ giám sát ngân sách.
Chiếc drone cất cánh từ một gò đất phẳng ngoài Tây môn. Khi lên tới độ cao ổn định, toàn bộ mạch đường đất bên dưới hiện lên trên màn hình điều khiển rõ ràng hơn hẳn tầm mắt người đứng dưới mặt đất. Những nhánh đường mòn rẽ vào ruộng lúa, mấy cụm nhà tranh, con mương dẫn nước và các lùm cây nối tiếp nhau thành một bố cục hoàn chỉnh mà trước nay Nam chỉ nhìn thấy từng mảnh rời rạc mỗi khi đi bộ ngang qua.
Trên màn hình nhỏ, tuyến đường dẫn sang thôn Phù hiện ra như một dải đất vàng cắt chéo qua hai cánh đồng. Harpe chỉ ngón tay vào nhánh đường rộng hơn nằm bên mé phải: “Cho xe thồ đi theo nhánh lớn này sẽ nhanh hơn chứ?”
A Thạch đứng nhón chân ngó qua vai Ciel, lắc đầu ngay tắp lự: “Mùa khô nắng ráo thì chạy tốt đại ca ạ. Chứ hễ có mưa rào là xe chở nặng sa lầy ngay ở cái hõm trũng phía trước kia kìa.”
“Trên màn hình nhìn mặt đường phẳng lì, đâu thấy cái hõm nào đâu.”
“Tại vòm cây dại mọc ven mương che khuất góc nhìn đấy. Hơn hai tháng trước đệ tận mắt thấy một xe chở gỗ mắc kẹt ở đúng đoạn đó. Tuần vừa rồi ngồi uống nước ở cổng thành, đệ nghe mấy bác đánh xe kháo nhau là dân trong thôn mới chở đá hộc ra lấp bớt ổ trâu, nhưng đệ chưa tự mình chạy qua kiểm tra lại.” Nói đoạn, A Thạch trèo lên một mô đất cao ven đường, chỉ tay về phía rặng cây xa xa. “Harpe huynh cứ ghi chú vào đấy, nhưng nhớ mở ngoặc là tin đắp đường mới chỉ nghe kể lại thôi nhé.”
Harpe gật đầu tán thưởng, dùng bút bi vạch hai ký hiệu khác nhau nằm dọc theo nét vẽ con đường. Hứa An nghiêng người nhìn vào trang sổ, bổ sung ngay quy tắc vận hành: “Nếu khách thuê chở hàng nặng mà đoạn đường đó chưa được người của viện mình tự mắt kiểm tra lại, tôi sẽ mặc định xếp nó vào tuyến không an toàn và hướng dẫn khách đi đường vòng.”
Ciel gạt nhẹ cần điều khiển cho drone xoay ống kính sang hướng khác, chỉ tay vào một vệt đường mòn hẹp luồn dưới rặng tre: “Trên hình thấy có lối đi tắt cắt qua đây, nhưng đoạn cuối bị bóng tre che mất rồi.”
“Chỗ đó bắc một cây cầu ván ghép bằng ba tấm gỗ thông đấy Ciel tỷ,” A Thạch đáp vanh vách. “Người đi bộ hoặc dắt ngựa không hàng thì lách qua được, chứ xe kéo thì chịu chết. Đến xe cút kít một bánh đẩy tới đấy còn phải hai người khiêng bổng qua khe cơ.”
“Cậu nhớ chuẩn chứ?” Ciel hỏi lại.
“Đệ tự tay dắt ngựa lội vòng qua cái khe cạn bên dưới cầu tới ba lần rồi mà. Mặt ván gỗ bên trên không có lan đâu, gặp sương sớm hay mưa phùn là trơn như đổ mỡ.” A Thạch nhìn chằm chằm vào màn hình, rồi quay sang hỏi Ciel. “Ciel tỷ cho máy bay hạ thấp xuống sát ngọn tre một chút được không? Đệ muốn ngó xem mấy tấm ván đầu cầu dạo này còn nguyên vẹn không.”
Ciel liếc nhìn vạch báo pin và cường độ sóng ở góc màn hình rồi lắc đầu dứt khoát: “Không hạ thấp được. Càng chúc xuống dưới tán tre rậm thì sóng điều khiển càng dễ bị cắt đứt. Phải giữ nguyên lượng pin dự phòng cho chặng bay ngược về nữa.”
“Vậy để hôm nào tiện đường đệ tự chạy bộ vào ngó lại bằng mắt cho chắc.” A Thạch vui vẻ chấp nhận ngay mà chẳng hề nài nỉ thêm. Cậu nhóc đội lại chiếc mũ vải lên đầu, chép miệng cảm thán. “Hóa ra nhìn từ tít trên giời xuống cũng chẳng thấy hết được mọi thứ dưới đất thật.”
Harpe dùng chiếc kẹp nhựa ghim chặt tờ giấy vừa vẽ xong vào tấm bìa cứng: “Còn những thứ nằm trong trí nhớ của đệ thì trước giờ lại chưa từng được vẽ ra giấy. Muốn dùng được việc thì phải ghép cả hai thứ đó lại với nhau.”
Nam đứng bên cạnh nghe xong, chờ xem vị cựu chỉ huy có định phát ngôn thêm một bài diễn văn khích lệ tinh thần nào nữa không, nhưng Harpe đã cất bút vào túi áo. Cùng lúc đó, Ciel thông báo dung lượng pin đã chạm ngưỡng phải quay đầu, gọi máy bay hạ cánh xuống bãi cỏ. Nam thở phào nhẹ nhõm, chí ít thì buổi sáng hôm nay đã khép lại đúng kế hoạch mà không có ai nổi hứng đòi bay khảo sát thông liền mười thôn xóm chỉ vì cảnh đồng quê nhìn từ trên cao khá đẹp mắt.
Về tới gian cổng Tây Sơn, Harpe tháo chiếc kẹp nhựa ra, trải tấm bản đồ thực địa đầu tiên lên mặt bàn gỗ. Nhìn về mặt mỹ thuật thì nó vẫn chẳng giống một bức họa đồ địa hình chính quy chút nào, nhưng A Thạch chỉ cần liếc qua đã chỉ trúng phóc ba vị trí trọng yếu, cây cầu ván hẹp, đoạn đường trũng đang chờ xác minh việc đổ đá và ngã ba rẽ về bãi đá cũ. Hứa An xem xong liền bảo chỉ cần chú thích rõ loại xe nào đi lọt và ngày tháng kiểm tra gần nhất, còn nét vẽ cong hay thẳng thì chỉnh sửa dần sau cũng được.
“Thế là chốt đưa bản vẽ ngoằn ngoèo này vào sử dụng đấy à?” Nam chống tay lên mép bàn hỏi.
“Dùng làm tài liệu đối chiếu nội bộ để hỏi kỹ khách lúc nhận đơn thôi Nam huynh,” Hứa An đáp. “Chứ thứ này không phát cho người ngoài xem.”
Ciel ngồi ở ghế bên cạnh đang dùng khăn mềm lau bụi bám trên cánh quạt drone, hoàn toàn đồng tình với cách làm đó. Cô cầm bút chấm thêm hai dấu nhân nhỏ vào góc bản đồ nơi tín hiệu hình ảnh bị chập chờn lúc bay qua gò đất. Nam thấy tờ giấy cứ phập phồng theo gió lùa qua cửa cổng, bèn tiện tay nhặt thêm hai chiếc kẹp quần áo màu đỏ trên bàn bấm chặt các góc giấy vào thanh gỗ nẹp dưới đáy. Harpe nhìn hai chiếc kẹp nhựa đỏ chói nằm chễm chệ trên tấm bản đồ lộ trình mà không bình luận nửa lời, nhưng ánh mắt của hắn khiến Nam biết chắc chắn tới bữa cơm trưa nay mình sẽ lại bị Mina đem ra trêu một trận.
Kể từ buổi thử nghiệm hôm ấy, nhóm làm bản đồ ở gian cổng dẹp bỏ hoàn toàn ý định vẽ đúng tỷ lệ thước tấc. Ở cái đất Đại Càn này làm gì có hệ thống định vị vệ tinh hay phần mềm ghép ảnh tự động. Chiếc drone chỉ đảm nhận việc cung cấp hình dáng tương đối của các ngã rẽ và những cột mốc lớn nhìn từ trên không. Phần việc cốt lõi còn lại được xử lý theo lối thực dụng triệt để.
Đường lớn cho xe hai trục đi lọt được vạch bằng nét bút đậm. Đường cho xe kéo nhỏ đi được vẽ nét vừa. Lối mòn chỉ dành cho người đi bộ hoặc ngựa thồ được kẻ bằng nét đứt mảnh. Các cây cầu, khe nước, miếu hoang, bến đò hay những gốc cây cổ thụ dễ nhận diện đều được đóng khung đánh dấu. Ngay bên cạnh từng chặng đường là những dòng ghi chú ngắn gọn bằng chữ viết tắt của Hứa An: mưa lầy, cấm xe nặng, cầu ván hẹp, đường tắt dốc, chưa kiểm thực địa.
Hứa An phụ trách ghi ngày tháng cập nhật. Harpe kiểm soát nguồn tin đối với những đoạn đường do phu xe ngoài thành kể lại mà người của Tây Sơn chưa tự mình đi qua. Ciel khoanh vùng những khu vực sóng điều khiển ổn định và những điểm mù bị nhiễu linh khí. Còn A Thạch nghiễm nhiên trở thành tổng biên tập chỉnh sửa thực địa nhiều nhất.
“Harpe huynh, nhánh đường này ngoài đời thực đâu có chạy thẳng băng thế này.”
“Thế nó uốn đi đâu?”
“Nó lượn vòng qua chân gò đất chỗ này cơ.”
“Trên màn hình lúc bay qua nhìn thấy vệt đất nối thẳng mà.”
“Vệt thẳng đó là rãnh thoát nước mưa bị cỏ che mất một nửa đấy, xe lăn vào là lật ngửa ngay.”
Hoặc có những cuộc đối đáp ngắn gọn hơn:
“Đoạn đường bờ kênh này huynh ghi là xe hàng đi tốt rồi mà.”
“Đúng là xe đi tốt.”
“Thế sao đệ còn bảo phải sửa lại?”
“Chỉ đi tốt vào mùa khô thôi. Sang tháng mưa nước kênh dâng lên là ngập mất mặt đường.”
“Vậy để ta ghi thêm ba chữ chỉ mùa khô vào bên cạnh.”
Qua vài ngày làm việc chung, A Thạch dần nắm được cấu trúc đặt câu hỏi truy gốc của Harpe. Ngược lại, vị cựu chỉ huy Existor cũng ngộ ra rằng một câu khẳng định "đường ấy đi được" thốt ra từ miệng người dân bản địa luôn ẩn chứa hàng tá điều kiện ngầm về thời tiết và tải trọng mà người nói mặc định đối phương phải tự hiểu.
Bước sang tuần thứ hai, việc bồi đắp thông tin cho tấm bản đồ không còn bó hẹp trong nhóm bốn người ở gian cổng nữa.
Soma vừa hoàn thành một chuyến hộ tống ngắn ngày trở về, lúc đi ngang qua bàn trực thấy tấm giấy rộng liền dừng chân đứng ngó vài giây, sau đó chỉ tay vào một khoảng trống ở mạn nam: “Chỗ vách đá này có một lối đi tắt cắt thẳng sang đường cái bên kia, tiết kiệm được gần một khắc đồng hồ đấy.”
A Thạch ngước lên nhìn theo ngón tay Soma, lắc đầu quầy quậy: “Lối tắt đó không vẽ vào bản đồ chung được đâu Soma đại ca.”
“Sao lại không tính?”
“Lúc đi qua cái khe đá sâu ba thước ở giữa dốc, đại ca dùng năng lực đạp không trung nhảy vọt qua đúng không?”
Soma ngẩn người ra mất hai giây: “À... ừ nhỉ.”
Harpe lập tức thu ngòi bút lại, xóa luôn cái chấm vừa mới đặt lên giấy.
Zero lại đóng góp dữ liệu theo một góc nhìn hoàn toàn khác. Chàng chiến binh áo đỏ chỉ nhìn lướt qua ký hiệu con dốc đất ở phía tây nam rồi nhận xét ngắn gọn rằng độ nghiêng của nền đất chỗ đó cho phép xe chở nặng đổ dốc lúc lượt đi, nhưng lượt quay về nếu gặp trời mưa phùn thì vó ngựa sẽ không có điểm bám để kéo xe ngược lên. A Thạch nghe xong gật đầu xác nhận ngay, còn Hứa An lập tức ghi bổ sung dòng chữ chiều về kỵ mưa vào lề giấy.
Về phần Ronan, vị thiếu gia nhà Erudon không mấy bận tâm tới các lối mòn dân sinh nhỏ lẻ, nhưng hễ thấy trên bản đồ có tuyến đường hộ tống nào đi xuyên qua hẻm núi hẹp hoặc rừng thưa hai bên cao hơn mặt đường, anh sẽ chỉ rõ những vị trí có tầm nhìn che khuất dễ bị phục kích và điểm cao thuận lợi để bố trí người cảnh giới. Những thông tin mang tính chiến thuật phòng ngự này được Harpe ghi chép riêng vào một cuốn sổ cá nhân, tuyệt nhiên không đưa lên tấm bản đồ treo ở gian cổng vì Nam kiên quyết phản đối chuyện biến bảng chỉ đường dân sự thành sa bàn quân sự.
“Những thông tin nào phục vụ việc chọn đường báo giá cho khách thì mới được vẽ lên tờ giấy ngoài này,” Nam gõ ngón tay lên mặt bàn gian cổng. “Còn mấy thứ đánh dấu chỗ nấp chỗ đánh nhau thì cất vào ngăn kéo của Hứa An ấy.”
Harpe hỏi lại: “Anh lo khách ra vào cổng nhìn trộm được bố trí phòng vệ của chúng ta à?”
“Không,” Nam đáp. “Tôi lo các người cứ nhét hết mọi thứ lên cùng một tờ giấy thì cuối tháng cái bản đồ nó to bằng cả bức tường, không có chỗ mà treo.”
Hứa An gật đầu: “Nam huynh lo đúng đấy. Viết chi chít quá lúc cần tra nhanh lại hoa cả mắt.”
Ciel đi ngang qua nghe thấy liền góp ý: “Chúng ta có thể dùng giấy mỏng can thành nhiều lớp bản đồ chồng lên nhau theo từng mục đích sử dụng.”
Nam quay ngoắt sang nhìn cô gái tóc vàng: “Dẹp ngay.”
“Tôi mới chỉ nêu ý tưởng thôi mà.”
“Nghe tới chữ chia lớp là tôi đã ngửi thấy mùi tốn giấy và đẻ thêm việc rồi.”
Ciel nhìn thẳng vào mặt hắn: “Nam, thực chất là anh chỉ đang lười suy nghĩ thôi.”
Từ phía hiên nhà bếp, tiếng cười khanh khách của Mina vọng sang rõ to. Nam quay đầu lại lườm: “Mina, bà lại truyền bá tư tưởng nói xấu tôi cho Ciel đấy phải không?”
“Tôi chẳng dạy câu nào cả,” Mina vừa lau bát vừa chối biến.
“Chắc chắn là có nhồi sọ.”
Mina nhún vai, chẳng buồn đôi co thêm.
Tới khoảng giữa tháng, tấm bản đồ khu vực phía tây thành Thanh Hà đã hoàn thiện tới mức đưa vào vận hành thực tế được ngay. Khi có một chủ hàng tìm tới cổng hỏi thuê người đi giao đồ ở thôn nhỏ mạn tây, Hứa An không còn phải chạy đi gọi A Thạch về để hỏi đường như trước nữa. Cậu chỉ việc rút tấm bản đồ kẹp trên khung gỗ ra, hỏi rõ khách đi xe hai trục hay ngựa thồ, tổng trọng lượng hàng bao nhiêu cân, muốn ưu tiên đi nhanh hay đi đường bằng phẳng.
Lát sau khi A Thạch từ ngoài phố chạy về, Hứa An chỉ cần gọi cậu nhóc lại xác nhận đúng một nhánh rẽ nhỏ chứ không phải bắt cậu tả lại toàn bộ lộ trình từ cổng thành nữa.
A Thạch cúi nhìn tấm bản đồ, điểm ngón tay vào một đường nét vừa: “Nếu đoàn chỉ đi hai xe kéo nhỏ thì cứ rẽ vào nhánh này là tiện nhất.”
Hứa An đối chiếu trên giấy: “Sao không đi thẳng theo trục đường cái lớn bên trên?”
“Đi đường cái xa hơn nhiều đấy huynh.”
“Nhìn trên bản đồ thấy hai đường dài gần bằng nhau mà.”
“Lăn bánh ngoài thực địa mới thấy chênh xa.”
Harpe ngồi ở bàn bên cạnh lập tức ngẩng đầu lên: “Chênh là do đâu?”
A Thạch nhăn mặt: “Đấy, Harpe đại ca lại bắt đầu truy rồi.”
“Thì đệ cứ giải thích rõ xem nào.”
“Tại trục đường cái phải lượn vòng theo chân quả đồi thấp để giữ mặt đường phẳng, còn nhánh đường nhỏ này cắt thẳng qua sườn đồi luôn.”
Harpe gật đầu, cầm bút ghi thêm hai chữ đường dốc vào nhánh nhỏ. A Thạch chống cằm nhìn vị chỉ huy cắm cúi viết: “Harpe đại ca làm cái việc hỏi cung đường sá này trông có vẻ vui lắm đúng không?”
“Cũng khá thú vị,” Harpe mỉm cười đáp.
“Nhìn mặt đại ca là đệ biết ngay mà.”
Tuy miệng than thở bị hai ông anh ở gian cổng xoay như chong chóng, nhưng chính A Thạch cũng bắt đầu nhìn những con đường mòn quen thuộc dưới một lăng kính hoàn toàn mới. Trước kia cậu nhóc nhớ đường bằng phản xạ của đôi chân, chạy tới gốc đa thì rẽ trái, qua khỏi bãi cỏ lầy thì nhảy qua mương, khát nước thì ghé cái giếng làng đầu dốc. Chưa bao giờ cậu hình dung toàn bộ những mảnh đường vụn vặt ấy khi đặt cạnh nhau từ trên cao sẽ nối thành một mạng lưới như thế nào.
Có buổi sáng Nam đi ra hiên tập vươn vai, thấy A Thạch đang ngồi khoanh tay nhìn chằm chằm vào tấm bản đồ kẹp trên giá gỗ suốt cả khắc đồng hồ.
“Ngồi ngắm gì mà đăm chiêu thế?” Nam hỏi.
A Thạch chỉ ngón tay vào một cái chấm tròn trên mặt giấy: “Nam ca, trước giờ đệ cứ đinh ninh cái thôn Hạ này phải nằm lệch tít lên mạn bắc cơ.”
“Thế hóa ra nó nằm ở đâu?”
“Khi ghép ảnh từ cái máy bay của Ciel tỷ xuống thì nó lại nằm chếch hẳn về phía đông.”
“Tôi tưởng cậu thuộc đường quanh vùng như lòng bàn tay cơ mà.”
“Thuộc lối chạy tới nơi với việc biết nó nằm ở góc nào trên giấy là hai chuyện khác hẳn nhau đấy ca.”
Nam gật gù. Cơ thể nhớ theo từng bước chạy, còn tờ giấy thì nhớ theo phương hướng đất trời.
Harpe tuyệt nhiên không ép A Thạch phải học cách cầm thước vẽ bản đồ. Thay vào đó, hắn dần nâng cấp độ các câu hỏi dành cho cậu nhóc mỗi ngày:
“Trên suốt đoạn đường đồng đó, cột mốc nào dễ nhìn thấy nhất khi trời sương mù?”
“Nếu đi vào ngày âm u không thấy bóng mặt trời thì dựa vào cái gì để khỏi rẽ nhầm?”
“Dân chạy xe thồ ở vùng khác tới thường gọi cái ngã ba ấy bằng tên gì?”
“Chỗ đó có điểm nào dễ bị người lạ nhìn nhầm với thôn bên cạnh không?”
Ban đầu A Thạch còn phải vắt óc suy nghĩ mới trả lời được, nhưng chỉ sau chừng mười ngày, thằng nhóc đã tự động thu thập sẵn dữ liệu trước cả khi Harpe kịp mở miệng hỏi.
Một buổi chiều nọ, A Thạch đi chuyển thư về tới gian cổng, vừa đặt chiếc ba lô xuống ghế đã báo cáo liền một mạch: “Tuyến đường phía bắc thôn Phù vừa bị sạt lở một mảng bờ đất sau trận mưa đêm qua! Đệ tự mắt nhìn thấy lúc chính Ngọ hôm nay. Xe đẩy nhỏ và người đi bộ vẫn lách qua sát mép trong được, nhưng xe ngựa chở nặng thì bắt buộc phải tránh. Đệ đã hỏi xác nhận thêm hai bác phu xe vừa đi ngược chiều từ hướng đó ra.”
Báo cáo xong xuôi, A Thạch chống hai tay lên hông, ngẩng cao đầu nhìn Harpe và Hứa An: “Thông tin thế đã đủ chuẩn chưa hai đại ca?”
Harpe bật cười thành tiếng: “Đủ hết các mục rồi đấy.”
Hứa An cầm bút bi sẵn trên tay, điểm nhẹ vào cuốn sổ: “Còn thiếu ngày tháng ghi nhận.”
A Thạch ngửa cổ nhìn lên xà nhà rồi hét lên: “Thì đệ vừa mới bảo là trưa ngày hôm nay xong còn gì!”
“Báo miệng là hôm nay, nhưng đọc cho người chép sổ thì phải đọc rõ ngày tháng ra,” Hứa An điềm nhiên viết số vào cột.
Nam nằm đung đưa trên chiếc ghế mây ngoài hiên nghe trọn màn đối đáp, cười tới mức A Thạch phải thò đầu qua cửa sổ cổng kêu ca: “Nam ca cười gì đệ đấy?”
“Đâu có, tôi đang mừng vì thấy cậu ngày càng chuyên nghiệp lên đấy chứ.”
“Đệ chỉ thấy Hứa huynh với Harpe đại ca đang bắt tay nhau để hành đệ thì có!”
Hứa An vẫn cắm cúi viết sổ, chẳng buồn ngẩng lên phủ nhận lời buộc tội ấy.
Bước sang nửa cuối tháng, phạm vi của tấm bản đồ bắt đầu vươn ra khỏi những con đường mà người của Tây Sơn tự chân đi tới. Và người đầu tiên nhìn thấy tấm bản đồ ấy rồi thẳng thừng buông lời chê bai chính là Lưu chưởng quầy.
Hôm ấy Nam cầm theo một bản vẽ thu gọn của khu vực phía tây vào quán trà để nhờ Lưu chưởng quầy giải đáp giúp Harpe vài thắc mắc về các bến bãi cũ. Lão chủ quán trà cúi đầu săm soi tờ giấy hồi lâu rồi gõ ngón tay xuống bàn: “Vẽ xấu quá.”
A Thạch đang ngồi cắn hạt dưa ở bàn bên cạnh lập tức giơ tay thanh minh: “Tờ này không phải do cháu cầm bút vẽ đâu nhé chưởng quầy!”
Harpe quay đầu nhìn thằng nhóc một cái. A Thạch lập tức bưng bát trà lên che kín nửa mặt, giả vờ uống nước.
Lưu chưởng quầy di đầu ngón tay gầy guộc dọc theo một nét vẽ mảnh chạy ven sườn núi: “Con đường mòn này hiện giờ đám trẻ các ngươi vẫn còn dùng để đi lại à?”
“Thỉnh thoảng đi bộ cắt đường cháu vẫn chạy lối đó ạ,” A Thạch hạ bát trà xuống đáp.
“Hơn mười lăm năm về trước, con đường này mới là trục giao thương chính dẫn ra mạn tây đấy.”
Harpe lập tức hỏi: “Tại sao về sau người ta lại bỏ không dùng làm đường chính nữa vậy chưởng quầy?”
“Do một trận lũ quét,” Lưu chưởng quầy thong thả kể. Mười mấy năm trước có một mùa mưa lớn kéo dài, nước lũ từ khe núi phía bắc bất ngờ đổ ập xuống cuốn phăng cả một đoạn nền đường đá cũ. Quan phủ và các phường buôn thấy việc kè lại bờ vực quá tốn kém nên mới mở một tuyến đường mới lượn vòng xuống vùng đất thấp hơn. Tuyến đường cũ trên cao từ đó bị bỏ hoang cho cỏ mọc, người đi bộ hoặc xe thồ nhẹ vào mùa khô vẫn đi tắt qua được, nhưng đám phu xe trẻ tuổi mới vào nghề sau này thì gần như chẳng mấy ai còn biết tới.
Harpe chăm chú lắng nghe rồi hỏi tiếp một câu rất đúng bệnh nghề nghiệp: “Lần gần nhất chưởng quầy tự mình đi qua con đường cũ đó là từ bao giờ?”
Lưu chưởng quầy nheo mắt nhìn gã thanh niên ngoại tộc: “Tiểu tử ngươi hỏi câu đó để bắt bẻ trí nhớ của lão già này đấy à?”
“Tại hạ chỉ muốn xác định xem thông tin về mặt đường ở đó đã cách nay bao lâu để ghi chú độ an toàn thôi.”
Lưu chưởng quầy nhìn Harpe chằm chằm mấy giây, đoạn bật cười khà khà: “Lần cuối ta ngồi xe đi qua đó cách đây khoảng ba năm rồi.”
A Thạch nhanh nhảu chêm vào: “Hồi đầu xuân năm nay cháu vừa mới chạy bộ qua đó xong.”
“Thế thì ghi theo lời thằng nhóc A Thạch ấy,” Lưu chưởng quầy đẩy tờ giấy trả lại phía Harpe. “Phần của lão chỉ là kể cho các ngươi nghe gốc gác vì sao lại có hai con đường song song ở đó thôi.”
Harpe cúi đầu ghi chép lại đúng tinh thần ấy. Hắn không hề lấy ký ức từ mười mấy năm trước của ông lão để đè lên thông tin thực địa mới nhất của A Thạch, mà chỉ ghi chú thêm nguy cơ lũ quét từ khe núi phía bắc vào mùa mưa lớn.
Nam ngồi nhâm nhi chén trà nóng bên cạnh, nhìn những dòng chữ vừa được viết thêm lên mặt giấy mà thầm cảm thán. Lúc này đây, tấm bản đồ thô sơ của Tây Sơn đã bắt đầu sở hữu một chiều kích mà chiếc ống kính drone hiện đại đến mấy cũng không tài nào chụp lại được, chiều thời gian. Qua màn hình drone, con đường cũ kia chỉ là một vệt đất mờ lẫn trong cỏ dại. Nhưng qua trí nhớ của Lưu chưởng quầy, nó mang theo lịch sử của một trận lũ quét. Qua đôi chân của A Thạch, nó là lối đi tắt hiện tại. Qua sổ sách của Hứa An, nó gắn liền với nhu cầu của từng vị khách hàng. Và qua bàn tay tổng hợp của Harpe, mọi mảnh ghép quá khứ lẫn hiện tại đều nằm đúng vị trí của nó.
Tối hôm đó, khi Nam từ quán trà thong thả đi bộ về tới Tây Sơn, hắn bắt gặp ba tấm bản đồ khổ lớn đang được trải nối tiếp nhau chiếm trọn một nửa chiếc bàn dài ở gian cổng. Gió thu từ ngoài sân thổi lùa qua khung cửa sổ làm một góc giấy tốc ngược lên. Harpe vội đưa bàn tay trái ra đè xuống. Ngay lập tức góc giấy phía đối diện lại phập phồng bay lên. Hứa An đành nhấc chén trà đang uống dở đặt đè lên góc thứ hai, còn A Thạch thì vơ vội hộp đựng bút chặn lên góc thứ ba.
Nam đứng khoanh tay ở bậu cửa, nhìn cảnh tượng ba người sáu tay giữ giấy: “Nhìn tác phong làm việc chuyên nghiệp gớm nhỉ.”
Hứa An mắt vẫn dán vào đường kẻ, đáp gọn: “Đang thiếu đồ chặn giấy Nam huynh ạ.”
Mina vừa hay bưng đĩa hoa quả cắt sẵn đi ngang qua hành lang. Cô liếc nhìn mặt bàn một cái, chẳng nói chẳng rằng quay vào kho chứa đồ, một lát sau bước ra với một vốc lớn những chiếc kẹp quần áo bằng nhựa.
Cô bước tới cạnh bàn, thoăn thoắt bấm từng chiếc kẹp nhựa ghim chặt các mép bản đồ vào những thanh nẹp gỗ mỏng lót bên dưới. Một chiếc, hai chiếc, rồi mười chiếc liên tiếp. Chưa đầy nửa phút đồng hồ, toàn bộ ba tấm bản đồ lớn đã nằm phẳng lì trên mặt gỗ mặc cho gió ngoài hiên thổi lồng lộng.
Harpe thử dùng ngón tay gẩy nhẹ mép giấy, gật đầu tán thưởng: “Dùng thứ này giữ bản đồ rất tiện.”
Hứa An thu lại chén trà của mình, gật đầu đồng tình. A Thạch cũng vớ lấy một chiếc kẹp màu xanh bấm thêm vào góc sổ nháp của mình: “Công nhận cái kẹp này sinh ra để dùng ở bàn làm việc hợp thật đấy!”
Nam đứng ngay sát bên cạnh mà cả bốn con người trong phòng không một ai thèm quay sang nhìn hắn lấy một cái. Hắn đành tự hắng giọng lên tiếng: “Này, đống đó là của tôi đấy nhé.”
Mina quay đầu lại nhìn hắn: “Thì sao?”
“Mấy người trưng dụng tài sản của tôi trông hơi bị tự nhiên quá mức đấy.”
“Đồ để trong nhà thì người trong nhà lấy ra dùng chứ sao.”
“Ít ra trước khi lấy cũng phải hỏi qua chủ nhân của nó một câu cho phải phép chứ.”
“Hồi sáng lúc tôi hỏi anh có muốn ra sân phụ tôi phơi quần áo không, anh trả lời thế nào nhỉ?”
“Chuyện phơi quần áo với chuyện làm bản đồ là hai phạm trù hoàn toàn khác nhau.”
Mina nhướng mày nhìn hắn: “Đúng là đồ keo kiệt.”
Dứt lời, Harpe lập tức cúi thấp đầu nghiên cứu đường kẻ trên giấy. Hứa An chăm chú ghi sổ. A Thạch thì quay ngoắt mặt sang phía vách tường.
Nam đảo mắt nhìn một lượt ba cái gáy đang cố tình né tránh ánh nhìn của mình: “Mấy người muốn cười thì cứ việc cười to lên xem nào.”
Cả ba người vẫn giữ im lặng tuyệt đối. Nam hừ mũi một tiếng rồi xoay người bước về nhà chính. Ngay khi bước chân hắn vừa khuất qua bậu cửa, phía sau lưng lập tức vang lên một tiếng phì cười bị nén lại rất đáng ngờ từ chỗ A Thạch. Nam quyết định đi thẳng, không thèm quay đầu lại bắt quả tang làm gì cho mất mặt.
Tới cuối tuần thứ ba của tháng đầu thu, tấm bản đồ tổng thể quanh thành Thanh Hà về cơ bản đã thành hình, dù trên mặt giấy vẫn còn không ít những khoảng giấy trắng bỏ trống. Chẳng ai trong viện có ý định lấp đầy toàn bộ những khoảng trắng ấy. Ngay từ ngày đầu khởi động, Nam đã đóng đinh nguyên tắc, chỉ vẽ những khu vực nào có đường giao thương hoặc có khách thuê việc đi qua. Nếu một vùng đồi hoang vu chẳng có thôn xóm, chẳng có tuyến xe thồ nào chạy tới, hắn tuyệt đối không cho phép đốt pin drone và sức người chỉ để tô cho kín mặt giấy.
Cả Harpe, Hứa An lẫn Ciel đều hoàn toàn tán thành nguyên tắc tiết kiệm đó. Với Hứa An, mỗi một địa danh vẽ thêm lên bản đồ đồng nghĩa với việc cậu phải theo dõi và cập nhật tin tức định kỳ cho nó. Với Ciel, mỗi giờ bay của drone đều là hao mòn linh kiện không thể thay thế. Bởi vậy, mảng bản đồ phía bắc thành Thanh Hà vẫn là nơi có nhiều khoảng trống nhất. Ngoài vài tuyến đường hái thuốc quen thuộc dẫn về phía Khê Bắc và mấy trạm dừng chân mà thương đội của Triệu Khải hay đi qua, phần lớn diện tích rừng núi nằm kẹp giữa các lối mòn đều được để trắng.
Gần tới những ngày cuối tháng, Hứa An nhận một ủy thác nhỏ nằm ở rìa vùng đồi phía bắc đó. Công việc hoàn toàn chẳng liên quan gì tới yêu thú hay cướp bóc, một hộ nông dân sống ở thôn ven rừng nhờ tìm giúp hai con bò cày bị đứt dây thừng đi lạc khỏi bãi chăn thả từ chiều hôm trước. Cả gia đình họ đã tỏa đi tìm suốt một ngày trời mà không thấy tăm hơi. Xét thấy địa hình đồi cỏ trải rộng rất phù hợp để dùng góc nhìn từ trên cao, Ciel đồng ý mang chiếc drone đi thực địa một chuyến.
Chuyến đi tìm bò nhỏ nhặt ấy Nam hoàn toàn không tham gia. Hắn nằm ở nhà đánh một giấc ngon lành tới tận trưa thì nhóm của Ciel, Harpe và A Thạch đã hoàn thành nhiệm vụ trở về, báo tin đã tìm thấy hai con bò đang đứng gặm cỏ dưới một khe suối cạn nằm khuất sau đám ruộng hoang.
Nam nghe xong định bụng gật đầu cho qua chuyện, nào ngờ Harpe lại bước tới đặt một tờ bản đồ phụ lên mặt bàn trước mặt hắn.
“Có một khu vực nhỏ ở phía bắc ta muốn xin bay kiểm tra lại một lần nữa,” Harpe mở lời.
Nam ngước mắt lên: “Nhà người ta vẫn còn con bò nào chưa tìm thấy à?”
“Bò thì tìm đủ cả đôi rồi.”
“Thế còn bay lại làm gì?”
Harpe đặt ngón tay trỏ vào một khoảnh rừng nhỏ nằm lệch về phía đông bắc của bãi chăn bò: “Chỗ cánh rừng này lúc nãy bay ngang qua có điểm hơi lạ.”
Nam lập tức nhíu mày, hắn vốn dị ứng bẩm sinh với hai chữ "hơi lạ":
“Lạ cụ thể là như thế nào?”
“Hiện tại chưa xác định được nguyên nhân.”
“Chưa biết là cái gì thì đừng có dùng mấy chữ nghe rợn tóc gáy thế.”
Harpe khẽ gật đầu nhận góp ý: “Được, vậy ta diễn đạt lại theo đúng dữ kiện thực tế, trong suốt quãng thời gian chiếc drone bay lướt qua phía trên vòm cây của khu rừng đó, trên màn hình hoàn toàn không ghi nhận được bóng dáng bất kỳ loài chim chóc hay thú nhỏ nào.”
Nam chống cằm chờ đợi: “Rồi sao nữa? Chỉ có thế thôi à?”
“Chỉ có thế thôi.”
“Rừng núi mênh mông, bay lướt qua vài phút không nhìn thấy con thú nào chạy ra bãi trống là chuyện hết sức bình thường mà.”
“Đúng là có khả năng đó,” Harpe đáp.
“Hoặc tiếng cánh quạt máy bay kêu vo vo làm đàn chim sợ bay đi chỗ khác từ trước rồi.”
“Cũng có thể.”
“Hoặc trời nắng nên thú rừng chui hết xuống dưới gốc cây rậm ngủ trưa.”
“Cũng hợp lý.”
Nam nhìn Harpe chằm chằm: “Sao tôi đưa ra giả thuyết nào anh cũng gật đầu đồng ý hết thế?”
“Bởi vì tất cả các khả năng anh vừa nêu đều có xác suất xảy ra trên thực tế.”
Cách trả lời phẳng lặng và tôn trọng xác suất ấy làm Nam dịu bớt vẻ bài xích ban đầu. Hắn chuyển tầm mắt sang phía A Thạch đang đứng tần ngần bên cạnh mép bàn, sắc mặt cậu nhóc trông có vẻ băn khoăn hơn hẳn vẻ điềm tĩnh của Harpe: “Thế còn A Thạch? Cậu thấy cái gì ở chỗ đó?”
A Thạch gãi đầu, ngập ngừng một lát rồi đáp: “Đệ cảm giác khu rừng chỗ ấy nó cứ im ắng kiểu gì ấy Nam ca.”
“Trước đây cậu từng chạy vào khu rừng đó chưa?”
“Đệ từng đi cắt qua rìa rừng đó vài bận rồi, nhưng đều là chuyện từ mấy tháng trước.”
“Lần gần nhất cách đây bao lâu?”
A Thạch nhẩm tính theo đúng thói quen báo cáo đã bị Harpe rèn giũa suốt cả tháng nay: “Lần cuối cùng đệ tự chân đi qua đó là khoảng hơn hai tháng trước, hồi giữa mùa hạ.”
“Lúc đó khung cảnh thế nào?”
“Hồi đó chim rừng kêu râm ran suốt dọc khe nước, thỉnh thoảng còn thấy thỏ hoang với sóc phóng qua bụi cây nữa.”
“Giờ nhìn qua màn hình máy bay không thấy bóng con thỏ nào nên cậu đâm ra nghi ngờ à?”
“Không phải chỉ ở trên màn hình đâu ca.” A Thạch nhíu chặt đôi lông mày. “Lúc nãy đứng ở gò đất sát bìa rừng để đón máy bay hạ cánh, đệ dỏng tai nghe kỹ lắm mà tuyệt nhiên không nghe thấy lấy một tiếng chim hót hay tiếng côn trùng kêu từ hướng đó vọng ra.”
Nam trầm ngâm. Chiếc drone bay trên cao không có chức năng thu âm môi trường dưới mặt đất, nhưng đôi tai của một đứa trẻ lớn lên nơi rừng rú ngõ ngách như A Thạch thì hiếm khi cảm nhận sai sự khác biệt về âm thanh tự nhiên.
Harpe lúc này mới nói tiếp: “Ta muốn ngày mai cho máy bay khảo sát lại một lượt. Tuyệt đối không cử người lội vào trong rừng, chỉ cho drone bay dọc theo rìa ngoài để đối chiếu trực tiếp mật độ sinh vật với cánh rừng nằm sát bên cạnh.”
Nam quay sang hỏi ý kiến chuyên gia kỹ thuật: “Bà Ciel thấy phương án đó thế nào?”
“Nếu sáng mai trời quang và gió nhẹ như hôm nay thì bay được,” Ciel đáp gọn.
“Chỉ bay kiểm tra đối chiếu thôi đấy, đừng có đốt cạn cả ba cục pin.”
“Tôi tự biết căn giờ mà.”
“Và nhớ đừng có cho máy bay rướn vào chỗ mất sóng đấy nhé.”
Ciel quay sang nhìn hắn bằng ánh mắt không chút biểu cảm: “Nam.”
“Rồi rồi, tôi biết là bà nhớ quy tắc đó hơn tôi mà.”
Sáng hôm sau, Nam chủ động xỏ giày đi theo cùng nhóm khảo sát. Lần này chẳng cần A Thạch phải đứng chầu chực trước hiên nhà để nài nỉ, chính bản thân hắn muốn tự mắt đi xem sao. Một khoảnh rừng vắng tiếng chim hót chưa đáng để hắn phải huy động toàn bộ lực lượng chiến đấu của Tây Sơn kéo đi càn quét, nhưng nếu họ chuẩn bị khoanh một vòng tròn cảnh báo lên tấm bản đồ làm việc ở gian cổng, Nam cần phải chắc chắn cái vòng tròn ấy được vẽ ra từ dữ kiện đáng tin cậy chứ không phải từ trí tưởng tượng phong phú của mấy người ở nhà.
Tiết trời cuối tháng trong xanh, gió thu chỉ thổi hiu hiu qua ngọn cỏ. Cả nhóm dừng chân trên một sườn đồi thoai thoải có tầm nhìn bao quát xuống toàn bộ dải rừng phía bắc.
Ciel bật công tắc khởi động drone. Harpe đứng bên phải cầm sổ, A Thạch đứng bên trái ngó màn hình, còn Nam thì giơ chiếc ống nhòm hai mắt lên ngang trán, dù hắn thừa biết đứng từ khoảng cách này nhìn bằng ống nhòm chỉ thấy toàn một màu xanh rì của lá cây.
Theo đúng quy trình đối chiếu mà Harpe đề xuất, Ciel điều khiển cho chiếc drone bay lượn qua cánh rừng bình thường nằm ở phía tây trước. Chỉ mới bay vào sâu chừng vài trăm thước, tiếng cánh quạt vo vo trên không trung đã làm một đàn chim sẻ rừng giật mình đập cánh bay vọt lên khỏi vòm lá.
A Thạch lập tức chỉ tay vào màn hình: “Đấy, Nam ca nhìn thấy chưa!”
Bay thêm một đoạn ngắn nữa qua trảng cỏ thưa, ống kính máy quay tiếp tục bắt được cảnh một bóng thú nhỏ màu nâu vội vã phóng vọt từ bụi gai này sang bụi gai khác. Chẳng cần biết đích xác đó là con chồn hay con thỏ, Harpe lập tức hạ bút ghi vào cột thứ nhất: Khu rừng phía tây có hoạt động của chim và thú nhỏ bình thường.
Tiếp đó, Ciel gạt cần điều khiển đưa chiếc drone bay ngang sang khu vực rừng nằm bên mé đông mà họ đã đi qua ngày hôm qua.
Trên màn hình truyền về, cảnh vật bên dưới nhìn qua chẳng có bất kỳ điểm gì bất thường: vẫn là những tán cây cổ thụ xanh um, những tảng đá phủ rêu nằm dọc theo lòng suối cạn và các vạt cỏ dại mọc ven sườn đất. Ciel chủ động hạ độ cao của máy bay xuống thấp hơn hôm qua một chút nhưng vẫn giữ khoảng cách an toàn phía trên ngọn cây.
Một phút rồi hai phút trôi qua.
Dù tiếng cánh quạt vẫn rít gió vo vo ngay sát phía trên vòm lá, tuyệt nhiên không có lấy một cánh chim nào vỗ cánh bay lên. Những trảng cỏ trống bên dưới lòng suối cạn hoàn toàn tĩnh lặng, không một bóng thú nhỏ chạy qua. Nam hạ chiếc ống nhòm xuống rồi lại đưa lên soi kỹ dọc theo rìa rừng. Nhìn từ hướng mặt đất, cây cối không hề bị gãy đổ, không có vết cháy xém, không có khói sương độc khí, cũng chẳng có dấu chân quái vật khổng lồ nào cày xới mặt đất.
“Cũng không loại trừ khả năng đúng lúc máy bay đi qua thì lũ thú ở khu này đang ở trong hang,” Nam buông một câu nhận định khách quan.
“Vâng, vẫn có xác suất đó,” Harpe đáp.
A Thạch đứng bên cạnh mím chặt môi không nói gì. Nam quay sang hỏi cậu nhóc: “Đứng ở đầu gió thế này cậu có ngửi thấy mùi máu tanh hay mùi hôi thối gì bất thường không?”
A Thạch hít sâu hai hơi liền rồi lắc đầu: “Chỉ có mùi đất ẩm với mùi lá mục như mọi khi thôi ca ạ.”
“Thế còn dao động linh khí thì sao?”
Câu hỏi vừa buột ra thì cả bốn người nhìn nhau. Chẳng ai trong nhóm đi thực địa sáng nay là tu sĩ bản địa để có thể đứng ngoài bìa rừng phóng thần thức vào cảm nhận linh khí cả. Ciel vừa nhìn màn hình vừa nói: “Trên thân chiếc drone này không được trang bị cảm biến đo nồng độ linh khí.”
“Tôi hỏi cho có lệ thế thôi,” Nam thở dài.
Đúng như giao kèo trước lúc xuất phát, họ dừng lại ở ranh giới quan sát. Không ai mạo hiểm điều khiển drone chui luồn xuống dưới tán rừng rậm, không ai tự ý bước chân vào trong tìm dấu vết, cũng chẳng ai vội vã bấm bộ đàm gọi Soma hay Zero mang vũ khí tới ứng cứu, càng không viết thư cấp báo cho Tạ Vân bên Lạc Hà rằng phương bắc sắp có đại họa yêu thú. Khi vạch pin trên màn hình chạm tới vạch giới hạn an toàn, Ciel lập tức kéo cần gạt gọi thiết bị quay đầu hạ cánh.
Trong lúc Ciel tháo pin cất máy vào hộp, Harpe quay sang hỏi A Thạch một câu: “Nếu hôm qua không có chiếc máy bay này quay cảnh từ trên cao xuống, chỉ một mình đệ chạy bộ ngang qua con đường mòn ngoài bìa rừng kia như mọi bận thì đệ có phát hiện ra sự khác lạ này không?”
A Thạch đứng ngẫm nghĩ một lúc khá lâu rồi mới thành thật lắc đầu: “Chắc là không nhận ra đâu đại ca.”
“Vì sao?”
“Tại bình thường đệ chỉ cắm đầu chạy dọc theo đường mòn để kịp giao tin thôi. Nếu không phải đi vào rừng đặt bẫy hay săn thỏ thì mấy khi đệ ngửa cổ lên đếm xem trên cành cây có chim đậu hay không.”
Harpe khẽ gật đầu. Nam đứng cạnh liền hỏi vặn lại Harpe: “Thế ngược lại, nếu hôm qua chỉ có một mình cái máy bay của bà Ciel mà không có thằng nhóc A Thạch đi cùng thì sao?”
Harpe nhìn Nam, đáp ngay không cần nghĩ: “Thì chúng ta chỉ nhìn thấy một khu rừng có cây cối trên màn hình, hoàn toàn không biết được rằng hai tháng trước khu vực đó vốn có rất nhiều chim thú sinh sống.”
Quay trở về gian cổng Tây Sơn, Ciel bật lại đoạn hình ảnh vừa ghi được trên màn hình nhỏ của bộ điều khiển, đặt nằm ngay cạnh cuốn sổ ghi chép của A Thạch và bản vẽ tay của Harpe. Nhìn hai đoạn hình ảnh quay ở hai cánh rừng sát vách nhau, sự chênh lệch hiện lên rất rõ: một bên có chim bay thú chạy, bên kia chỉ có lá cây lay động theo gió.
A Thạch cúi nhìn tấm bản đồ phác thảo, dùng đầu ngón tay trỏ khoanh nhẹ vào khúc uốn của con suối cạn: “Đệ nhớ rõ mồn một hồi giữa hạ đi qua cái vũng nước đọng chỗ khe suối này, chim rừng tụ tập xuống uống nước đông nghịt. Vậy mà hai hôm nay bay qua nhìn xuống chỉ thấy toàn đá khô.”
Hứa An cầm cây bút bi trên tay, ngước mắt hỏi ý kiến ông chủ: “Dữ kiện này nên vẽ thẳng lên tấm bản đồ giao hàng ngoài cổng hay ghi vào tờ giấy theo dõi riêng hả Nam huynh?”
“Ghi ra tờ giấy riêng cất vào kẹp hồ sơ ấy,” Nam quyết định ngay. “Tấm bản đồ treo ngoài kia là để chỉ đường cho các chuyến xe. Đừng có khoanh bừa lên đấy rồi làm khách khứa nhìn vào lại đồn ầm lên là rừng phía bắc xuất hiện yêu ma, trong khi tất cả những gì chúng ta thấy mới chỉ là vắng bóng mấy con chim sẻ.”
Harpe gật đầu đồng tình, rút một tờ giấy rời kẹp vào sổ lưu trữ, nắn nót viết xuống dưới bản vẽ phác thảo: Khu vực khe suối cạn phía đông bắc bãi chăn thả thôn Phù, Quan sát từ trên không trong hai ngày liên tiếp thấy mật độ chim thú thấp hơn hẳn cánh rừng liền kề phía tây. A Thạch xác nhận hai tháng trước nơi này vẫn có nhiều chim thú tụ tập. Hiện tại chưa đủ dữ kiện để kết luận nguyên nhân.
Viết tới đó, Harpe để trống hoàn toàn phần kết luận ở cuối trang.
Nam cúi đầu đọc lướt qua một lượt, ngón tay gõ nhẹ vào khoảng giấy trắng cuối dòng: “Viết thêm bốn chữ chưa phát hiện nguy hiểm vào cạnh đấy nữa.”
Harpe ngước mắt nhìn hắn: “Cần phải ghi rõ cả câu đó vào sao?”
“Cần chứ. Tôi không muốn vài tháng nữa có ai lật tờ giấy này ra đọc, thấy cái vòng tròn khoanh đỏ lại tự biên tự diễn ra một câu chuyện kinh dị đâu.”
Hứa An lập tức cầm bút ghi bổ sung câu đó vào cuối dòng.
Vừa lúc ấy Ronan hoàn thành chuyến hộ tống buổi sáng bước qua gian cổng, thấy cả đám đang chụm đầu bên bàn trực liền ghé lại xem qua tờ ghi chú vừa viết xong.
“Quanh khu rừng có con suối cạn đó có thôn xóm nào của dân thường sinh sống sát bên cạnh không?” Ronan hỏi.
A Thạch lắc đầu: “Không có đâu đại ca, thôn gần nhất cũng cách đó cả một quả đồi rộng.”
“Có tuyến đường buôn bán bắt buộc nào phải đi xuyên qua cánh rừng ấy không?”
“Không ạ, đường xe thồ đều chạy vòng ở tít phía dưới chân đồi.”
“Gần đây ở thành Thanh Hà có tin báo người hái thuốc hay thợ săn nào mất tích ở mạn đó không Hứa An?”
Hứa An lật nhanh cuốn sổ tiếp nhận thông tin trong tháng rồi lắc đầu: “Hoàn toàn không có tin báo mất tích nào cả.”
Ronan gật đầu, trả tờ giấy lại lên mặt bàn: “Vậy cứ ghi nhận thông tin để lưu hồ sơ theo dõi trước đã.”
Harpe nhìn vị thiếu gia nhà mình, hơi nhướng mày hỏi khẽ: “Thiếu gia không định mang kiếm đi lên đó kiểm tra thử một chuyến sao?”
Ronan khẽ mỉm cười: “Nảy sinh lòng hiếu kỳ muốn biết và việc thực sự cần thiết phải xách kiếm đi kiểm tra là hai chuyện tách biệt hoàn toàn mà, Harpe.”
“Nếu là ở Kanavan trước kia, hẳn thiếu gia đã đích thân dẫn đội đi tuần tra ngay trong chiều nay rồi.”
“Ở Kanavan trước kia đôi lúc ta còn rảnh rỗi hơn ở cái xưởng nhuộm này đấy.”
Harpe bật cười thành tiếng. Giữa hai người họ là sự thấu hiểu tự nhiên của đôi anh em đã kề vai sát cánh qua nửa đời người, chẳng cần phải gồng mình giữ kẽ trước mặt nhau.
Nam đứng nghe câu trả lời của Ronan mà thấy mát lòng mát dạ vô cùng, liền vỗ tay chỉ thẳng vào chàng kỵ sĩ: “Đấy, mọi người trong nhà nên học tập tư duy làm việc của Ronan đi.”
Harpe quay sang nhìn Nam: “Ta cứ tưởng Nam huynh sợ nhất là cảnh mọi người trong viện hăng hái nhận thêm việc về nhà cơ mà?”
“Thì chính vì thế nên tôi mới bảo anh phải học cái phần biết lúc nào nên ngồi im không làm gì của anh ấy đấy.”
Ronan bật cười lắc đầu. Nam xoay người dặn dò Hứa An câu cuối trước khi rút lui về ghế mây:
“Cứ kẹp tờ giấy đó vào sổ. Sau này nếu có thợ săn hay người hái thuốc nào từ hướng đó chạy về báo tin lạ thì mới lôi ra đối chiếu tiếp. Hoặc hôm nào Tạ Vân bên Lạc Hà có ghé qua hỏi thăm động tĩnh mạn bắc thì tiện miệng nhắc một câu. Còn hiện tại thì ai làm việc nấy.”
“Tiểu đệ nhớ rồi Nam huynh,” Hứa An đáp.
Tờ giấy có khoanh vòng tròn bằng mực bút bi được kẹp gọn vào góc sổ lưu trữ bằng một chiếc kẹp nhựa màu xanh.
Sang ngày hôm sau, guồng quay của xưởng Tây Sơn lại trở về đúng quỹ đạo thường nhật. Soma khoác áo lên đường đi một cuốc hộ tống ngắn ngày. Zero ngồi lì trong xưởng cơ khí suốt nửa buổi sáng để phụ Ciel giữ các phôi thép nặng. Ronan nhận lời đi bảo vệ một đoàn xe chở lụa. Còn Harpe vẫn ngồi đĩnh đạc bên bàn trà gian cổng cùng Hứa An, tỉ mẩn điền thêm những ký hiệu mới vào các nhánh đường trên tấm bản đồ chung.
A Thạch chạy việc vào nội thành từ sớm rồi phóng về viện trước giờ cơm trưa. Dưới sân sau, Mina vừa giặt xong một chậu lớn vỏ chăn và quần áo mùa thu.
Nam nằm dài trên chiếc ghế mây dưới mái hiên. Gió thu thổi lồng lộng qua khoảng sân đất nện, làm hàng quần áo treo trên dây cước phồng căng lên rồi hạ xuống nhịp nhàng, tuyệt nhiên không còn chiếc nào bị hất văng xuống đất nữa.
Mina bưng chậu gỗ đi ngang qua hiên, dừng chân nhìn kẻ đang nằm ườn trên ghế: “Nam.”
“Ơi, gì đấy?”
“Đứng dậy ra phụ tôi căng tấm vỏ chăn lớn lên dây.”
“Tôi đang bận làm nhiệm vụ trông nhà mà.”
“Ngoài cổng đã có Hứa An với Harpe ngồi trấn giữ rồi.”
“Thế thì tôi đang trông coi khoảng sân giữa này.”
“A Thạch vừa mới đứng ở giữa sân xong.”
“Thì tôi...”
Mina đứng chống một tay lên hông, im lặng nhìn hắn chằm chằm. Nam thở dài một hơi, ngoan ngoãn chống tay ngồi dậy bước xuống bậc thềm: “Rồi, đi thì đi.”
“Biết điều thế ngay từ đầu có phải đỡ tốn nước bọt không,” Mina tủm tỉm cười.
Hai người đứng hai đầu giũ mạnh tấm vỏ chăn vải thô cho phẳng nếp rồi vắt lên sợi dây phơi dài nhất góc sân. Nam vừa mới kéo căng được một góc vải thì Mina đã chìa sang trước mặt hắn hai chiếc kẹp quần áo màu đỏ chói.
“Bấm giữ chặt đầu bên ấy vào. Nhớ lựa chỗ mép vải dày mà kẹp, đừng có bấm vào cái đường chỉ đang bị sờn nhé.”
“Tới cả thao tác dùng kẹp phơi chăn của tôi mà bà cũng phải chỉ đạo từng ly từng tí thế à?”
“Anh mà kẹp bừa làm toạc đường chỉ меp chăn ra thì tối nay tôi bắt anh tự cầm kim mà khâu lại đấy.”
Nam cúi nhìn đường chỉ viền hơi sờn ở góc chăn, lập tức dịch ngón tay sang bên cạnh hai phân rồi mới bấm chiếc kẹp nhựa xuống. Trong đầu hắn thoáng nảy ra ý định hỏi xem trong chiếc giỏ mây cất trên kệ kho hiện giờ còn sót lại bao nhiêu chiếc trong tổng số ba trăm chiếc ban đầu, nhưng nghĩ thế nào lại thôi. Nhìn qua khung cửa sổ gian cổng đằng kia, riêng việc ghim ba tấm bản đồ lên bảng gỗ đã ngốn đứt của hắn gần hai chục chiếc, trong xưởng của Ciel dùng một ít, trên dây phơi khăn bếp một ít, chưa kể bốn chiếc đang nằm chặn giấy tập viết trong phòng của Ronan. Chẳng có món đồ nào trong cái viện này chịu nằm yên một chỗ đủ lâu để hắn ngồi kiểm kê số lượng cả.
Mina đứng ở đầu dây bên kia kéo nhẹ mép vải về phía mình: “Kéo căng tay thêm chút nữa đi.”
“Căng cỡ này được chưa?”
“Được rồi. Đấy, động chân động tay vào làm một tí có chết ai đâu.”
Nam vừa mới phủi tay đi về lại tới chiếc ghế mây dưới hiên thì bóng A Thạch đã từ ngoài cổng lớn chạy bổ vào, trên tay phất phơ một mảnh giấy ghi chú: “Hứa huynh ơi! Đoạn đường trũng ở phía bắc thôn Phù người ta đắp đá sửa xong thật rồi nhé! Sáng nay đệ tự mắt chạy qua đấy kiểm tra, nền đá nện chặt lắm, hai cỗ xe ngựa chở nặng đi tránh nhau qua ngon lành!”
Hứa An ở trong gian cổng lập tức lật sổ mở bút: “Xác nhận thông đường tính từ ngày nào?”
“Tính từ sáng ngày hôm nay luôn!” A Thạch đáp dõng dạc không cần nghĩ. Thấy bóng Harpe vừa bước ra tới cửa gian cổng, thằng nhóc lập tức quay sang giơ tay chặn họng trước: “Chuyến này là chính mắt đệ nhìn thấy! Lúc đệ đứng ở đó có ba bác đánh xe chở lúa đi qua cùng một lúc. Còn tên tuổi của ba bác đánh xe đó thì... đệ quên chưa kịp hỏi!”
Harpe còn chưa kịp mở miệng nói chữ nào thì A Thạch đã hít sâu một hơi, xoay gót chân chạy vọt ngược ra phía cổng lớn:
“Đệ nhớ rõ cỗ xe cuối cùng rẽ vào nghỉ ở quán nước đầu Tây môn rồi! Để đệ chạy ù ra đó hỏi nốt tên nhà xe rồi về báo cáo luôn thể!”
Nam ngả lưng nằm xuống chiếc ghế mây, nhìn theo cái bóng nhỏ nhắn vừa biến mất sau cánh cổng gỗ.
Mina đứng bên dây phơi cũng bật cười nhìn theo, bấm nốt chiếc kẹp nhựa cuối cùng lên mép khăn rồi quay sang hỏi hắn: “Anh có uống thêm nước trà không để tôi châm?”
“Có chứ. Cơ mà ấm trà để ngay trên bàn cạnh tay rồi, tôi tự rót được.”
“Thế thì tốt.” Mina cúi xuống bê chiếc chậu gỗ rỗng trên sân, xoay người đi vào gian bếp.
Ngoài sân rộng, những cơn gió đầu thu vẫn thổi lướt qua tán cây hòe, còn trên mặt bàn gian cổng, tấm bản đồ chung của Tây Sơn vẫn còn để chừa lại nhiều khoảng giấy trắng chờ ngày điền tiếp. Nam nghiêng đầu nhìn ra góc sân sau một lần nữa, thấy tấm vỏ chăn lớn được ghim dưới hàng kẹp nhựa đỏ xanh vẫn đang nằm im phăng phắc giữa làn gió.

💬 Bình luận (1)

📚 Truyện tương tự