🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục Khai Thác AI
🔎 Tìm kiếm ⬇️ Tải app Android
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google
← GACHA VẠN GIỚI

Ch.21: Khăn Bông

~66 phút đọc · 13068 từ · · ⚠️ Báo cáo

Cuối thu tìm đến Thanh Hà qua những biến chuyển nhỏ nhặt nối tiếp nhau từng ngày. Buổi sáng, mặt sân đất nện ở Tây Sơn mất nhiều thời gian hơn mới ráo nước sau khi cọ rửa. Nước giếng vừa kéo lên đã lạnh buốt tới mức Nam chỉ muốn vốc đại lên mặt vài cái cho xong chuyện rồi lùi ngay khỏi chiếc chậu đồng.
Ngoài cổng thành, những hàng cây ven đường bắt đầu trút lá thưa thớt. Trong chợ huyện, các gánh trái cây mùa nóng đã rút lui để nhường chỗ cho củ cải trắng, rau cải bẹ chịu lạnh, các bao hạt khô cùng những bó củi lớn chất cao quá đầu người.
Nhịp sinh hoạt ở Tây Sơn cũng tự động xoay chuyển theo thời tiết. Mina lôi đống chăn bông dày ra phơi nắng, tranh thủ những ngày cuối cùng trước khi nghỉ hẳn việc ở quán trà họ Lưu. Soma mỗi bận ra ngoài lúc sáng sớm đều bị nhắc khoác thêm áo ngoài. Hứa An dịch chiếc bàn gỗ ở gian cổng lùi sâu vào phía trong thêm một bước để tránh gió lùa, còn A Thạch vẫn đều đặn phóng ra đường từ lúc sương chưa tan, cái lạnh đầu ngày chỉ khiến cậu thiếu niên buộc chặt lại dây giày vải hơn trước.
Sáng hôm ấy, A Thạch quay về xưởng vào gần giữa giờ Thìn với chiếc túi vải khoác chéo vai, ống quần bám bụi đất lên tới quá mắt cá chân cùng vẻ mặt bực dọc của một người vừa bị con đường quen thuộc phản bội.
Hứa An đang ngồi rà soát lại một mảnh giấy nhắn của khách, thấy bộ dạng đó liền ngước lên hỏi có phải tiệm gỗ Phùng Ký hôm nay đóng cửa hay không. A Thạch lắc đầu, tự tay rót nửa chén nước nguội uống cạn một hơi rồi mới kể rằng con ngõ nhỏ phía sau miếu Đông Hà đã bị bịt kín do nhà họ Trần dỡ ngói sửa mái, hai cỗ xe chở gỗ xẻ nằm chắn ngang hết cả lối đi. Người đi bộ tay không thì còn lách qua kẽ hở được, đằng này cậu đang vác trên vai một bó thanh sắt dài do Lão Tề gửi sang cho Ciel nên đành chịu chết không sao chen lọt.
Nam vừa từ dưới bếp bước lên, nghe vậy liền hỏi cậu đã đi vòng qua ngả nào:
“Đệ phải vòng qua chợ cá. Biết trước cảnh này thì đệ đã rẽ vào ngõ Thập Tam ngay từ đầu cho xong. Giờ đó chợ cá đang lúc đông người mua bán nhất, chen qua được mất đứt thêm một đống thời gian.
Nam cúi nhìn đôi giày vải dính bùn cá tanh nồng của cậu nhóc, dặn ngày mai nếu còn phải qua mạn ấy thì nhớ chừa con đường cũ ra. A Thạch nhìn hắn với vẻ mặt hiển nhiên như thể chuyện đó chẳng cần ai phải nhắc:
“Đương nhiên rồi Nam ca.”
Những sự việc vụn vặt kiểu đó xuất hiện ngày một dày hơn trong sổ tay của xưởng. Đó đều là những chuyện chẳng đáng để Soma phải rút kiếm hay Zero phải bước chân ra khỏi cổng. Hôm thì một tiệm tạp hóa đổi giờ mở cửa, hôm thì một hộ dân sửa mái nhà làm tắc nghẽn nửa con hẻm, lúc lại có ông chủ kho chuyển sang bốc hàng ở cửa sau vì xe chở củi dồn ứ ngoài trục đường chính, hoặc một người thợ mộc vốn hay ngồi nhà buổi sáng nay lại nhận thêm mối việc bên nam thành nên muốn tìm gặp thì phải đi trước giờ Ngọ.
Hứa An ngồi ở cổng có thể ghi chép chuẩn xác địa chỉ, giờ hẹn cùng lời nhắn. Nam có thể nhớ đường tới những tiệm buôn mình hay lui tới. Thế nhưng A Thạch lại nắm lòng Thanh Hà thành theo một kiểu hoàn toàn riêng biệt. Cậu biết rõ một cung đường vào ngày thường đi mất bao lâu, sáng họp chợ phiên cần né những ngã tư nào, trời vừa dứt cơn mưa thì đoạn đường lát đá nào trơn trượt dễ ngã, quán nước nào ven đường có thể gửi nhờ một bọc đồ mà không lo mất cắp, và nếu người cần tìm đi vắng thì nên gõ cửa hỏi thăm người hàng xóm nào gần nhất.
Nam thấm thía điều đó rõ nhất vào hôm cần chuyển lời nhắn tới cho Cao Phúc, một người chuyên thu mua đồ gỗ cũ ở mạn đông thành. Mảnh giấy do khách để lại ghi địa chỉ là căn nhà có cánh cửa màu xanh thứ ba nằm sau lưng miếu Thanh Trúc.
A Thạch vừa nghe đọc xong đã ngẩng lên hỏi lại:
“Cửa màu xanh hả Nam ca?”
Nam chìa mảnh giấy ra trước mặt cậu:
“Ừ, trên giấy ghi thế. Có vấn đề gì à?”
“Cánh cửa đó giờ đổi sang màu nâu sẫm rồi.”
“Họ chuyển sang nhà mới à?”
“Vẫn là căn nhà đó thôi, có điều tháng trước chủ nhà mới quét lại lớp sơn khác.”
Nam dừng lại, theo thói quen mở giao diện Wikia ở trong đầu ra. Hắn có thể tra cứu vanh vách cấu tạo khẩu súng của Zero, danh sách hàng trăm loài quái vật mà Soma từng chạm trán, hay biên niên sử của những thế giới xa xôi mà người dân Đại Càn chưa từng nghe tới. Thế nhưng toàn bộ thành Thanh Hà này lại hoàn toàn vắng bóng trong kho dữ liệu đó. Miếu Thanh Trúc không tồn tại, cái tên Cao Phúc không có, và chuyện một cánh cửa gỗ cách Tây Sơn chưa đầy nửa buổi đi bộ vừa đổi màu sơn từ xanh sang nâu lại càng mù tịt.
Nam lặng lẽ đóng bảng giao diện lại, phất tay bảo A Thạch:
“Cứ thế mà đi thôi.”
“Vâng, Nam ca.”
Cậu thiếu niên nhét mảnh giấy vào túi áo rồi quay người chạy biến ra cổng. Hứa An ngồi bên bàn nhìn theo bóng lưng cậu nhóc, tò mò hỏi Nam huynh vừa đứng ngẩn ra nghĩ chuyện gì. Nam thành thật đáp:
“Tôi vừa tự kiểm chứng lại một sự thật là việc biết tuốt chuyện trên trời dưới biển chẳng giúp tôi biết được con hẻm nào ngoài kia đang bị xe chở gỗ chặn đường.”
Lúc quay về xưởng và nghe Hứa An kể lại câu nói đó, A Thạch ôm bụng cười tới mức suýt sặc cả ngụm nước chè. Cậu nhóc chỉ mang máng biết Nam ca sở hữu một mớ kiến thức rất lạ lùng về quê cũ cùng những vùng đất xa xôi nào đó, chứ hoàn toàn mù tịt về bản chất của nguồn tri thức ấy. Nam cũng chẳng buồn giải thích thêm. Hắn chỉ hỏi xem Cao Phúc nhắn lại thế nào.
A Thạch lập tức thu lại nụ cười, thuật lại nguyên văn từng chữ của người thu mua gỗ, sau đó còn cẩn thận dặn thêm rằng tuần sau nếu muốn tìm gặp ông ta lần nữa thì phải tới trước giờ Tỵ, bởi Cao Phúc đang nhận thầu tháo dỡ khung gỗ cho một dinh thự lớn nên cứ quá trưa là không có mặt ở nhà. Hứa An ngồi nghe liền chấm mực ghi chú ngay dòng thông tin ấy vào bên cạnh cái tên Cao Phúc trong sổ. Chẳng cần ai phải đứng ra ra lệnh hay phân công. Người chạy ngoài đường mang về những chi tiết thực tế chỉ đôi chân mới chạm tới được, còn người ngồi giữ sổ lưu nó lại trên mặt giấy để lần sau cả xưởng Tây Sơn không phải tốn công mò mẫm lại từ đầu.
Hồi đầu tháng, Mina vẫn còn vướng hai ca làm việc cuối cùng ở quán trà họ Lưu kèm theo một buổi đứng chỉ việc cho người mới.
Vào buổi sáng làm việc cuối cùng, Soma định bụng sẽ đi bộ đưa cô vào tận trong thành, nhưng Mina xua tay bảo cậu còn đống việc ở xưởng, bản thân cô đã hẹn trước với bác đánh xe chở lá trà như mọi ngày rồi.
Chuyến xe thồ lọc cọc lăn bánh tới đúng giờ. Con đường từ cổng Tây môn dẫn vào khu phố trung tâm vẫn ồn ã y hệt những tháng ngày qua. Mấy bà bán rau đứng cãi nhau vì lệch một văn tiền, những xửng bánh bao hấp bốc khói trắng xóa ngay cạnh trạm gác, bác phu chở củi phải ghì càng xe đứng nép vào lề đường nhường lối cho hai cỗ xe ngựa đi ngược chiều. Mina ngồi trên thành xe nhìn ngắm từng góc phố quen mắt, chợt nhận ra kể từ chiều nay trở đi mình sẽ không còn phải vừa làm vừa nhẩm tính xem lúc tan ca nên đi ké chuyến xe hàng nào để về nhà nữa. Ý nghĩ ấy làm lòng cô nhẹ nhõm hẳn đi, song cũng vương lại một chút bâng khuâng khó tả.
Ở trong quán trà, cô gái học việc mới tuyển đã biết cách bưng khay trà đặt đúng bàn khách gọi và nhớ được vị khách quen ngồi góc cửa sổ thích châm thêm nước sôi, chỉ còn hay quên trừ tiền phần bánh ngọt mà khách gói mang về. Mina đứng khoanh tay quan sát, kiên nhẫn đợi tới lúc vị khách bước hẳn ra khỏi cửa quán mới nhẹ nhàng chỉ tay vào dòng ghi thiếu trên trang sổ.
Lưu chưởng quầy đứng sau quầy tính tiền nghe hai người trao đổi liền lên tiếng dặn dò rằng sau này có chỗ nào không hiểu thì cứ gửi lời nhắn ra ngoài kia hỏi, tuyệt đối đừng vì thiếu một con số lẻ mà bắt người ta phải chạy bộ từ Tây Sơn vào tận đây. Mina mỉm cười bảo chưởng quầy chỉ cần nhắc con bé kiểm tra đối chiếu cả số bánh trên khay lẫn số ấm trà trước lúc khóa sổ cuối ngày là ổn.
Đến giờ tan tầm cuối buổi chiều, Lưu chưởng quầy mở hòm gỗ lấy tiền đồng ra đếm từng ngày công còn lại rồi đẩy sang trước mặt cô. Mina cầm cọc tiền đếm lại một lượt rõ ràng ngay tại quầy như thói quen suốt hơn một năm qua. Lão già chẳng hề phật ý, còn hỏi thêm xem có thiếu đồng nào không để lão bù ngay tại chỗ.
Lưu chưởng quầy lấy giấy dầu gói cho cô một đùm bánh nướng bị vỡ vụn ở đáy khay nhưng vẫn còn thơm phức, bảo mang về mà ăn dọc đường. Mina chỉ nhận phần bánh vỡ lão cho, còn mấy chiếc bánh nguyên vẹn cô lấy thêm thì nhất quyết rút tiền lẻ ra trả sòng phẳng.
Bước chân ra khỏi ngưỡng cửa quán trà, cô còn đứng nán lại dưới mái hiên thêm một lúc. Phía bên trong, Lưu chưởng quầy đã quay sang sai bảo cô bé học việc đi dọn ấm chén, tiếng bàn ghế gỗ xê dịch cọt kẹt trên nền gạch vẫn vang lên đều đặn như cũ. Sự rời đi của một người làm chẳng khiến quán trà ngừng mở cửa lấy một ngày.
Thấy bóng cô vẫn còn đứng ngoài hiên, lão già liền cất giọng gọi với ra:
“Sau này ở nhà rảnh rỗi có nướng được mẻ bánh nào mới thì đem vào đây cho lão nếm thử một miếng. Nhớ đừng có mang cái loại mà Nam tiểu tử khen ngon tới đây, cái mồm nó chỉ biết khen thứ nào giá rẻ thôi.”
Mina bật cười thành tiếng, đáp vọng vào rằng hôm nào làm được mẻ bánh ra hồn nhất định sẽ xách một hộp tới biếu chưởng quầy, còn chuyện có đem ra bán kiếm lời hay không thì để tính sau. Cô vẫy tay chào lần cuối rồi xoay người bước xuống phố.
Chiều hôm ấy A Thạch tiện chuyến vác một bó giấy bản từ trong phố ra, hai chị em liền sóng bước đi cùng nhau suốt chặng đường ngoài cổng thành. Tới ngã ba rẽ về xóm nhỏ, Mina bảo cậu nhóc cứ đi thẳng về nhà nghỉ ngơi, không cần phải vòng qua cổng xưởng tiễn cô làm gì.
Mina thong thả bước đi một mình trên con đường đất quen thuộc, đôi bàn chân hôm nay hoàn toàn thoát khỏi sự thúc ép của giờ giấc giao ca. Lúc cô đẩy cổng bước vào sân Tây Sơn, Soma đang ngồi xổm trước cửa bếp cặm cụi cạo vỏ một rổ củ cải, bàn tay vốn quen cầm kiếm giữ con dao bài nhỏ trông còn hơi ngượng nghịu nhưng nét mặt lại vô cùng tập trung.
Ciel từ bên gian xưởng ngó đầu ra hỏi có cần cô ra giữ hộ cánh cửa để bê đồ vào không. Mina lắc đầu bảo túi đồ hôm nay nhẹ tênh, tự cô xách được.
Nam bước ra hiên nhìn cô đặt chiếc túi vải đựng tiền lên mặt bàn, cất tiếng hỏi hôm nay đã chính thức rút lui khỏi quán trà rồi đấy à. Mina gật đầu xác nhận.
“Thế sáng mai thức dậy cô tính làm việc gì?”
“Ngủ nướng thêm một lúc cho bõ những ngày dậy sớm,” Mina đáp ngay không cần nghĩ, “sau đó lúc nào thích thì xách giỏ ra chợ. Còn những việc khác cứ để tới trưa mai hẵng tính.”
Nam gật gù tỏ vẻ rất tán thưởng kế hoạch đó, cho tới khi Mina bồi thêm một câu rằng chuyện cô nghỉ làm ở quán trà hoàn toàn tách biệt với chuyện cô sẽ ôm đồm hết việc vặt của cả cái nhà này. Chậu bát bẩn ai ăn người nấy vẫn phải tự giác rửa, lịch đi đong gạo vẫn chia đều theo lượt, và những đợt Soma đi áp tải hàng xa nhà thì bản thân cô sẽ tự quyết định xem có nhận làm bánh ngọt theo đơn đặt trước hay chỉ đóng cửa nằm nghỉ ngơi.
Soma đặt con dao nhỏ xuống thớt, cầm một củ cải vừa cạo xong đưa lên cho cô nghiệm thu xem đã đạt yêu cầu chưa. Mina đón lấy xoay tròn một vòng trên tay, chỉ vào một hốc nhỏ còn sót vỏ đất rồi đưa trả lại. Cậu lặng lẽ cầm lấy gọt tiếp.
Bữa tối hôm đó, khoản tiền lương cuối cùng ở quán trà được Mina cất gọn vào túi riêng trong phòng, phần tiền cô tự nguyện đóng góp vào bữa ăn chung thì đưa qua cho Hứa An ghi sổ, chẳng ai trong nhà bày vẽ chuyện lập thêm một khoản phụ cấp nội trợ mới cho cô. Gói bánh vỡ của Lưu chưởng quầy được bày ra đĩa làm món tráng miệng bên bàn trà. Ăn uống xong xuôi, Soma chủ động bê chồng nồi bát ra giếng cọ rửa vì nồi canh củ cải tối nay do chính tay cậu nấu. Mina đứng dựa cửa bếp nhìn theo mà không hề giành làm, cô chỉ nhắc cậu nhớ dội nước vừa phải kẻo lãng phí nước giếng.
Ranh giới giữa một người chạy vặt được gọi theo từng chuyến với một thành viên sáng nào cũng có mặt ở sân xưởng để nhận lộ trình của A Thạch cứ thế xóa nhòa đi lúc nào không hay.
Tiền công của cậu thiếu niên vẫn được thanh toán dựa trên số chuyến chạy thực tế bởi có những ngày Tây Sơn chẳng có mẩu thư nào cần gửi đi, thế nhưng gần như sáng nào cậu cũng tự giác đảo qua cổng xưởng một lượt. Hứa An gom sẵn những đầu việc nằm trên cùng một tuyến đường lại thành một xấp cho cậu. Khi thì lời nhắn của Ciel gửi sang lò rèn Lão Tề, lúc lại hỏi thăm giờ giấc rảnh rỗi của Ngô Thành, chuyển khoản tiền đặt cọc nhỏ sang quán trà họ Lưu, lấy hộ gói nguyên liệu Mina đã dặn trước ngoài chợ, hoặc mang giấy hồi âm tới cho khách hàng.
Có buổi sáng A Thạch đứng giữa sân cầm bốn mảnh giấy nhỏ trên tay, tự mình đảo thứ tự các tờ giấy rồi báo cáo rành mạch rằng việc lấy sắt của Ciel phải đi đầu tiên, từ lò rèn của Lão Tề rẽ sang mạn đông tiện đường ghé qua chỗ ông Cao Phúc, đợi tới xế chiều chợ vãn bớt người mới lượn qua quán Lưu chưởng quầy, cuối cùng trên đường về xưởng thì tạt vào sạp thịt lấy đồ cho Mina.
Nam đứng nghe liền hỏi sao không ghé quán trà ngay từ buổi sáng cho gọn một vòng. A Thạch giải thích rằng mặt đường trước cửa quán trà vào giờ Thìn luôn bị hai dãy xe chở rau củ chiếm hết lối, để tới chiều đi sẽ nhanh hơn hẳn một nửa thời gian. Nam nhướng mày hỏi cậu nhóc nhớ được hết ngần ấy thứ trong đầu thật à. A Thạch chỉ cười đáp:
“Ngày nào đệ chẳng lượn qua mấy con phố đó.”
Nam chẳng có nhu cầu gắn cho công việc của thằng bé một cái chức danh nào cả. Hắn chỉ cảm thấy vô cùng khoan khoái khi một phần việc tốn sức trước kia hay rơi xuống đầu mình nay đã có người gánh vác trơn tru hơn gấp bội.
Một buổi chiều nọ, Mina nghe hắn mở miệng nói câu “A Thạch rành đường hơn thì cứ để A Thạch đi” tới lần thứ ba liên tiếp liền đặt rổ đỗ xuống bàn, hỏi thẳng xem có phải hắn đang tìm cách đùn đẩy sạch sành sanh mọi việc vặt ra khỏi người hay không.
Nam vẫn ngồi ung dung bóc vỏ mấy hạt dẻ rang mua rẻ ở cuối chợ, bình thản trả lời:
“Một việc mà người khác làm nhanh và chuẩn hơn tôi thì lý do gì tôi phải tự vác xác đi?”
Mina chống hai tay lên mép bàn:
“Lý do là vì có những việc vốn thuộc phần trách nhiệm của anh đấy, đồ lười.”
“Trách nhiệm của tôi là đảm bảo đầu việc đó được hoàn thành đúng hạn.”
“Nghe chẳng khác gì lời ngụy biện trốn việc cả.”
“Nhưng kết quả cuối cùng vẫn trôi chảy đấy thôi.”
Soma ngồi uống trà ở chiếc ghế bên cạnh, mắt vẫn nhìn chén nước mà không ngẩng lên:
“Cách lập luận này nghe rất quen tai.”
Nam lập tức chỉ tay sang phía cậu bạn cùng phòng cũ:
“Cô thấy chưa? Người có tầm nhìn thực tế nói chuyện một câu là hiểu nhau ngay.”
Mina lắc đầu bảo đúng là hai kẻ lười biếng đã tìm được tiếng nói chung, còn Soma điềm đạm đính chính lại rằng bản thân cậu chỉ đơn giản là không thích áp dụng một phương án tốn sức lực khi trước mặt đã có sẵn một con đường ngắn gọn hơn. Nam vỗ đùi cái đét, tuyên bố dõng dạc rằng câu nói đó chính là kim chỉ nam sống của cuộc đời hắn.
Công việc ở Tây Sơn ngày một nhiều lên cũng làm khu vực bàn tiếp khách ngoài cổng bắt đầu bộc lộ những chỗ bất cập mới.
Hồi mới dọn về, khách khứa ghé thăm còn thưa thớt, Hứa An chỉ việc ngồi hỏi dăm ba câu, ghi lại cái tên, đầu việc cần nhờ cùng mức tiền công rồi chạy vào trong báo cho đúng người. Thế nhưng kể từ ngày các chuyến áp tải hàng hóa, việc sửa chữa cơ khí, dự án đóng hòm giữ mát cùng những mối khách do Lưu chưởng quầy giới thiệu dồn dập đổ về, có những buổi sáng ngoài hiên cổng có tới hai ba tốp người cùng ngồi chờ một lúc.
Người đến tìm Soma bàn chuyện đi đường rừng thì chẳng mảy may quan tâm Ciel đang gò hàn thứ gì trong xưởng. Người ôm món đồ hỏng tới thì chỉ nhấp nhổm muốn biết bao giờ mới tới lượt mình được kiểm tra. Lại có những vị khách chỉ nghe phong thanh người ta đồn rằng xưởng Tây Sơn nhận giải quyết việc khó nên mò tới, đến lúc hỏi ra thì chính bản thân họ cũng chưa biết phải tìm gặp ai. Phiền phức nhất là kiểu khách vừa bước chân qua bậc cửa đã đòi gặp bằng được chủ nhà, tới khi Hứa An lễ phép hỏi nội dung công việc thì chỉ buông một câu cộc lốc rằng gặp mặt trực tiếp rồi mới nói. Nếu cứ mỗi lần gặp vị khách kiểu đó Nam lại phải bỏ dở việc chạy ra ngồi nghe từ đầu chí cuối, thì ý nghĩa của việc thuê Hứa An ngồi gác cổng coi như bay biến mất một nửa.
Giữa tuần hôm ấy, tình huống phiền toái đó lặp lại tới ba lần chỉ trong một buổi sáng.
Vị khách đầu tiên muốn thuê Soma đi kèm một đoàn xe hàng nhưng bản thân lại chưa chốt được ngày giờ khởi hành. Vị khách thứ hai khệ nệ bê tới một ổ khóa đồng to tướng bị gãy lẫy bên trong, nghe ai đó mách rằng cô thợ ở Tây Sơn sửa được bách bệnh cơ khí nên mang đại tới thử vận may.
Vị khách thứ ba ăn vận áo gấm khá sang trọng, vừa tới nơi đã chắp tay sau lưng yêu cầu được bàn công chuyện trực tiếp với chủ sự Tây Sơn. Hứa An hỏi nội dung việc gì thì ông ta ngậm miệng không nói. Hỏi muốn tìm gặp đích danh ai trong xưởng thì ông ta bảo cứ gọi chủ nhà ra đây. Tới lúc cậu thiếu niên hỏi công việc này là thuê mướn có trả thù lao hay chỉ nhờ vả giúp đỡ, vị khách kia lập tức cau có ra mặt, gắt lên rằng chuyện còn chưa bàn bạc câu nào thì lấy đâu ra giá cả.
Hứa An không hề đôi co cãi vã, song cậu cũng kiên quyết không chạy vào gọi Nam ra ngay. Cậu thiếu niên rót nước mời vị khách áo gấm ngồi chờ ở ghế phụ, ưu tiên giải quyết xong xuôi giấy tờ cho hai người khách đến trước rồi mới cầm sổ bước vào nhà chính.
Nam nghe báo cáo xong chỉ hỏi lại đúng một câu:
“Ông ta đã chịu hé răng nói mình tới đây vì việc gì chưa?”
“Dạ chưa nói một chữ nào.”
“Thế thì tôi bước ra ngoài đó để làm cái trò gì?”
Hứa An đứng ngẫm nghĩ một thoáng rồi gật đầu quay trở ra gian cổng.
Sau một hồi ngồi uống trà chờ đợi và thấy sự kiên quyết của cậu bé giữ cổng, người đàn ông mặc áo gấm đành phải xuống nước nói rõ rằng mình muốn hỏi xem phía Tây Sơn có nhận việc đi truy tìm một kiện hàng bị thất lạc trên đường vận chuyển hay không.
Hứa An lập tức hỏi tiếp theo đúng quy trình về địa điểm mất hàng, mặt hàng bên trong là gì, lúc mất có xảy ra xô xát làm ai bị thương hay mất tích không, và mức thù lao dự kiến chi trả ra sao. Nghe tới câu hỏi tiền nong cuối cùng, ông khách lại nhăn trán khó chịu nhưng vẫn gật đầu xác nhận là có trả công đàng hoàng.
Đến lúc Nam thong thả bước ra khỏi nhà chính, toàn bộ những phần mù mờ rườm rà đã được gọt tỉa gọn gàng, chỉ còn lại đúng hai vấn đề cốt lõi cần làm rõ. Cuộc trao đổi nhờ vậy kết thúc chóng vánh chỉ sau vài phút.
Phi vụ đó rốt cuộc Tây Sơn từ chối không nhận, bởi vị khách kia chỉ biết mang máng rằng kiện hàng bị rơi rớt ở đâu đó trên tuyến đường phía nam, hoàn toàn không xác định được điểm dừng chân cuối cùng còn nhìn thấy món hàng, lại càng không muốn chi trả tiền công tính theo ngày cho việc đi dò tìm dấu vết. Nam lắc đầu từ chối một cách hết sức bình thản.
Đợi bóng vị khách khuất hẳn ngoài ngõ, hắn mới quay sang dặn Hứa An:
“Từ lần sau cứ giữ đúng nguyên tắc đó mà hỏi trước. Bản thân người tới còn không nói nổi mình muốn gì thì có ngồi đối diện nhau thêm nửa ngày trời chuyện cũng chẳng tự sáng tỏ ra được.”
Buổi chiều hôm ấy, Hứa An tạm gác cuốn sổ ghi chép sang một bên. Cậu thiếu niên đứng khoanh tay trước gian cổng, nhìn chằm chằm vào tấm bảng gỗ cũ kỹ treo cạnh mép bàn.
Tấm bảng này sau mấy lần xóa sửa trước đây giờ trông khá lộn xộn. Đứng ngắm nghía một lúc lâu, Hứa An quyết định tháo tấm bảng xuống, lấy giẻ ướt lau sạch mặt gỗ rồi cầm thỏi than gọt nhọn kẻ lại bố cục mới.
Nam đi ngang qua sân thấy cậu nhóc chia mặt bảng thành bốn ô lớn rất thoáng đãng liền hỏi đang bày trò gì đấy. Hứa An vừa tô đậm nét chữ vừa đáp:
“Tiểu đệ kẻ lại thế này để đỡ phải mở miệng hỏi đi hỏi lại những câu giống hệt nhau.”
Trên mặt gỗ hiện lên bốn dòng chữ lớn rõ ràng gồm tên người tới, muốn tìm gặp ai, tới vì việc gì, và công việc có trả thù lao hay không.
Nam đứng đọc lướt qua một lượt rồi buột miệng trêu xem cậu có cần kẻ thêm các cột ghi giá tiền cụ thể, ngày giờ hẹn gặp, mức độ nguy hiểm, số lượng nhân sự, lộ trình di chuyển, tên người giới thiệu cùng gia phả ba đời của khách vào đấy luôn không.
Hứa An thừa biết Nam huynh đang nói kháy mình nên chỉ điềm nhiên đáp:
“Không cần đâu ạ. Mấy chi tiết sâu đó phải đợi mời vào bàn trong rồi mới hỏi kỹ. Bảng treo ngoài này chỉ cần lọc đủ thông tin để biết có đáng bước vào trong gọi người ra tiếp hay không thôi.”
Nam gật đầu tán thưởng ngay tắp lự. Cách tư duy gọn gàng ấy hợp ý hắn hơn bất kỳ một bộ quy tắc rườm rà nào.
Tấm bảng mới treo lên dĩ nhiên không thể biến cổng xưởng Tây Sơn thành công đường nha môn, càng không làm khách khứa tự động xếp hàng răm rắp. Người nào biết chữ thì tự đọc trước, người nào mù chữ thì Hứa An vẫn phải dùng miệng hỏi từng câu.
Có vị khách bước vào nhìn thấy dòng chữ hỏi chuyện có trả thù lao hay không liền bật cười ha hả, trêu rằng bộ xưởng Tây Sơn túng thiếu tiền bạc tới mức phải viết trắng trợn ra mặt bảng thế này cơ à. Hứa An giữ nét mặt nghiêm ngắn, giải thích rằng chuyện sang nhờ vả tình cảm và chuyện bỏ tiền thuê người làm việc là hai việc hoàn toàn khác biệt, làm rõ ngay từ ngoài cửa sẽ giúp đôi bên đỡ mất lòng nhau về sau.
Lại có một bà thím hàng xóm sang tìm Mina chỉ để gửi biếu một đùm khoai lang mới dỡ, đứng trước tấm bảng cứ tần ngần mãi vì không biết ở mục trả thù lao phải báo thế nào. Hứa An vội vàng đứng dậy đỡ lấy đùm khoai, giải thích rằng chuyện thăm hỏi cá nhân thì không cần nhìn bảng.
Hai ngày sau, cậu thiếu niên chủ động sửa lại vài chữ trên mặt gỗ cho mềm mại hơn nhằm tránh việc người ngoài nhìn vào lại lầm tưởng hễ bước chân qua cổng Tây Sơn là phải móc hầu bao trả tiền. Tấm bảng cứ thế hoàn thiện dần theo đúng cái cách mà mọi thứ ở căn xưởng này vẫn vận hành. Cứ đưa vào sử dụng thực tế, thấy chỗ nào vướng víu thì gọt sửa chỗ đó, tuyệt đối không ai ngồi không vẽ ra một bộ luật lệ hoàn mỹ rồi ép cả nhà phải rập khuôn làm theo.
A Thạch cực kỳ ưng ý với cách làm việc mới này vì nó giúp cậu phân biệt ngay được mảnh giấy nào cần ưu tiên chạy trước. Hứa An bắt đầu có thói quen đánh một dấu gạch chéo nhỏ ở góc những tờ giấy nhắn có hẹn giờ gấp hoặc bắt buộc phải mang câu trả lời về ngay trong ngày, còn những việc thong thả thì xếp riêng sang một bên. Cậu không bao giờ gom cả xấp giấy dúi vào tay A Thạch rồi giục chạy cho nhanh. Trước mỗi lần A Thạch xuất phát, hai đứa nhỏ luôn dành ra vài phút chụm đầu vào nhau để ghép các điểm đến thành một đường vòng hợp lý nhất.
Có hôm A Thạch chỉ tay vào ba mảnh giấy trên bàn, nói thẳng rằng nếu chạy theo đúng thứ tự Hứa huynh vừa xếp thì đệ sẽ phải lội qua cây cầu đá ở phố Đông tới hai lần. Hứa An liền hỏi lại xem nên đảo thế nào. A Thạch tráo vị trí hai tờ giấy cho nhau, giải thích rằng lão chủ tiệm tạp hóa ở mạn bắc có thói quen ăn cơm trưa rất muộn, đẩy việc đó xuống chạy sau cùng thì tới nơi vẫn gặp được người như thường. Hứa An lập tức sửa lại thứ tự ghi trong sổ.
Lại có buổi chiều nọ, Hứa An kiên quyết giữ lại một bức thư ở trên bàn dù địa chỉ người nhận nằm ngay sát con đường A Thạch sắp đi qua, bởi người gửi đã dặn đi dặn lại là chỉ được phép trao tận tay sau giờ Ngọ. A Thạch chẳng hề thắc mắc tại sao phải máy móc như thế, cậu nhóc chỉ lẳng lặng gật đầu rồi điều chỉnh lại ngả rẽ của mình. Hai thiếu niên bắt đầu biết cách dựa vào phần hiểu biết chuyên biệt của đối phương để làm việc, hoàn toàn từ bỏ ý định tự mình ôm đồm mọi thứ.
Giữa tháng có một ngày A Thạch bất ngờ vắng mặt.
Buổi sáng trôi qua quá nửa canh giờ so với lệ thường, Hứa An ngồi ở bàn cổng đã phải ngước mắt ngó ra con đường đất phía trước tới hai lần. Mãi tới gần giữa trưa mới có một đứa trẻ con trạc mười tuổi ở cùng xóm với A Thạch chạy sang truyền lời rằng cậu bị đau bụng quặn thắt từ nửa đêm qua, bệnh tình không nguy hiểm nhưng bà mẹ ở nhà kiên quyết bắt nằm yên trên giường nghỉ ngơi.
Cả xưởng Tây Sơn tất nhiên không thể vì vắng mặt một cậu nhóc chạy việc mà đình trệ mọi hoạt động, có điều guồng quay chung bị chậm hẳn lại thấy rõ.
Nam nhân tiện chuyến đi vào trong thành đành tự mình cầm giấy nhắn ghé qua quán trà họ Lưu. Hứa An phải nhờ một người quen đi chợ ngang qua cổng chuyển giúp một mảnh giấy tới khu phố gần Tây môn. Ciel đành phải gác lại việc sang lò rèn Lão Tề lấy bộ khung sắt sang tận ngày hôm sau. Một bọc linh kiện nhỏ đáng lẽ phải giao tới tận tay Ngô Thành ngay trong buổi chiều cũng đành nằm im trên góc bàn.
Nam cuốc bộ hết một vòng lớn quanh các con phố rồi lê bước về tới xưởng, vừa đặt mông ngồi xuống chiếc ghế đẩu ngoài hiên đã thở hắt ra tuyên bố rằng tiền công trả cho A Thạch hàng ngày hóa ra rẻ hơn giá trị thực tế rất nhiều.
Mina đang ngồi nhặt rau gần đó liền ngước lên hỏi bộ hôm nay hắn mới phát hiện ra sức lao động của người khác là thứ đáng quý đấy à. Nam vừa đấm bóp bắp chân vừa đáp rằng bản thân hắn lúc nào chẳng tôn trọng sức lao động, chỉ có điều phải tới tận hôm nay hắn mới định giá chính xác được đôi cẳng chân của mình đáng giá bao nhiêu văn tiền.
Sáng sớm hôm sau, A Thạch đã xuất hiện ở cổng xưởng sớm hơn cả giờ quy định, sắc mặt tuy đã hồng hào trở lại nhưng vẫn bị Hứa An đứng chặn ngay trước bậc thềm để tra hỏi xem bụng dạ đã êm hẳn chưa:
“Đệ khỏi hẳn rồi Hứa huynh.”
“Sáng nay ở nhà đã ăn lót dạ thứ gì chưa?”
“Ăn hết một bát cháo nóng rồi.”
“Chân cẳng đã đủ sức chạy việc lại chưa đấy?”
“Sáng nay đệ vừa chạy bộ một mạch từ nhà ra tới đây để thử chân rồi mà.”
Hứa An nhìn cậu em bằng ánh mắt bất lực không biết nên khen ngợi tinh thần trách nhiệm hay nên mắng cho một trận vì tội liều mạng.
A Thạch lách qua bàn cổng đi thẳng vào sân trong, vừa nhìn thấy bóng Nam liền cất giọng hỏi to:
“Nam ca, hôm qua vắng mặt đệ ở đây công việc có bị rối tung lên không?”
Nam đang cúi đầu rà soát lại một khoản tiền mua vật liệu làm hòm giữ mát, mắt vẫn dán vào trang giấy mà không ngẩng lên:
“Không rối chút nào.”
Nét mặt đang hớn hở của A Thạch lập tức xịu xuống trông thấy.
Nam thong thả lật sang trang sổ tiếp theo rồi mới buông thêm hai chữ:
“Nhưng chậm.”
Gương mặt cậu thiếu niên lập tức tươi rói trở lại. Nam liếc mắt nhìn biểu cảm biến đổi nhanh như chớp ấy, thầm hiểu ra niềm kiêu hãnh nghề nghiệp của thằng nhóc mười bảy tuổi này thực ra rất đỗi mộc mạc. Cậu chẳng cần cả cái xưởng Tây Sơn phải tê liệt hoàn toàn khi vắng mình, cậu chỉ cần biết rõ một sự thật rằng có sự hiện diện của đôi chân mình ở đây thì mọi người trong nhà sẽ đỡ vất vả hơn rất nhiều.
Đúng vào dịp ấy, dự án phát triển từ chiếc tủ lạnh tháng trước cũng gặt hái được một bước tiến mới.
Sau khi chiếc hòm giữ mát đầu tiên được khắc phục triệt để lỗi đọng nước ở góc đáy và bàn giao êm thấm cho quán trà, chiếc hòm giữ mát thứ hai đặt làm thêm cho Lưu chưởng quầy cũng vừa được lắp ráp hoàn thiện nhờ việc Lão Tề cải tiến lại khớp nắp đậy và Ciel điều chỉnh lại vị trí tấm đồng tản hàn khí.
Nhìn bề ngoài, sản phẩm này chẳng mang dáng dấp gì của một phát minh khoa học vĩ đại. Nó thuần túy là một chiếc hòm gỗ lim đóng dày dặn hơn mức bình thường, nắp đậy bọc da khít chặt, ở giữa nhồi lớp vật liệu cách nhiệt khô ráo và bên trong gắn một cụm trận văn cỡ nhỏ của Ngô Thành vận hành bằng khay đựng cặn linh thạch. Thế nhưng thời gian hoàn thiện chiếc hòm thứ hai này đã rút ngắn hơn chiếc đầu tiên gấp bội. Lão Tề đã nắm được kích thước ván gỗ chuẩn để xẻ hàng loạt. Ngô Thành không còn phải ngồi mò mẫm vẽ thử từng nét khắc từ đầu. Ciel đã có sẵn bảng thông số đo đạc từ chiếc hòm trước để biết chính xác vị trí nào dễ bị ngưng tụ hơi nước mà phòng tránh. Ngay cả Hứa An cũng có sẵn nguyên một trang hạch toán chi phí mẫu để đối chiếu ngay lập tức mà không cần ngồi vắt óc nhớ lại từng khoản mua lẻ.
Nam đặc biệt hài lòng với sự định hình quy trình đó.
Hắn đứng khoanh tay bên cạnh bàn làm việc khi Ngô Thành đang ngồi nhặt phân loại từng mảnh cặn linh thạch, chỉ tay vào một mẩu đá có màu xám xịt hơn bình thường rồi hỏi mảnh này còn nhét vào khay dùng được không. Ngô Thành đáp dùng thì vẫn ra hơi lạnh nhưng lực rất yếu, nếu tham rẻ mà nhét quá nhiều mảnh đá sắp cạn kiệt vào chung một khay thì chỉ vài canh giờ là phải tháo ra thay mẻ mới.
Nam gật gù rồi hỏi tiếp xem lượng đá vụn phẩm chất khá hiện có trong kho có đủ sức lắp cho khoảng mười chiếc hòm giữ mát nữa hay không.
Ngô Thành dừng tay nhặt đá, ngẩng đầu lên nhìn hắn:
“Trong tay ngươi đã có sẵn mười vị khách đặt tiền mua hòm rồi à?”
“Hiện tại thì chưa.”
“Chưa có khách mà đã lo tính chuyện làm mười cái để làm gì?”
Ciel đứng ghi chép bên cạnh liền giải thích hộ rằng Nam chỉ muốn tính toán trước ngưỡng giới hạn nguồn cung vật liệu mà thôi.
Ngô Thành gạt một mảnh đá xám sang khay phế liệu, thủng thẳng nói:
“Việc ngươi ngồi tính ra giới hạn trong đầu cũng chẳng làm số lượng đá vụn ngoài chợ tự nhiên sinh sôi thêm được. Cứ đợi bao giờ có vị khách thứ ba bước qua cổng đặt cọc tiền thật rồi hẵng đi lo tìm nguồn đá cho cái hòm thứ ba.”
Nam nghe lời khuyên ấy thấy hơi ngược lại với cái bản năng thích dự toán xa xôi của mình, song ngẫm kỹ thì không sao phản bác được. Tây Sơn xưởng hiện tại thu mua vụn và cặn linh thạch dễ dàng hơn hồi năm ngoái nhờ đã có mối quen và dòng tiền ổn định, nhưng lượng phế liệu còn giữ được linh khí dùng được ngoài thị trường vốn dĩ có hạn. Làm tới đâu chắc tới đó theo đúng đơn đặt hàng thực tế rõ ràng an toàn hơn nhiều so với việc dốc vốn đóng sẵn cả đống hòm gỗ rồi ngồi ôm hàng chờ khách tới mua.
Lưu chưởng quầy chống gậy sang nghiệm thu chiếc hòm thứ hai vào một buổi chiều lộng gió.
Lão già mở chốt nắp, thò bàn tay khô gầy vào bên trong cảm nhận hơi lạnh một lúc rồi gật gù nhận xét chiếc mới này đóng gọn gàng và khéo hơn chiếc đầu tiên đang đặt ở quán.
Nam đứng cạnh lập tức hỏi dò:
“Chưởng quầy ưng bụng cái mới này hơn à?”
“Ừ, nhìn khôn mắt hơn hẳn.”
“Thế còn cái hòm đầu tiên đang để ở quán thì sao…”
“Ta vẫn để đó dùng tiếp chứ sao.”
Nam thở phào một hơi nhẹ nhõm nhanh tới mức Lưu chưởng quầy phải quay sang lườm hắn một cái:
“Bộ tiểu tử ngươi sợ lão già này ăn vạ đòi đổi cái cũ lấy cái mới miễn phí đấy à?”
“Tôi đâu có nghĩ xấu cho chưởng quầy thế.”
“Cái mặt ngươi vừa viết rõ chữ sợ thiệt ra kia kìa.”
Nam làm bộ điếc lác lờ đi câu nói đó, chuyển hướng sang hỏi thăm xem mấy ngày qua chiếc hòm đầu tiên đặt ở quán giữ bánh ngọt và hoa quả có ổn không.
Lưu chưởng quầy đáp độ mát thì rất tốt, có điều đám nhân viên chạy bàn trong quán cứ mở nắp ra đóng vào liên tục suốt cả buổi nên mẻ đá vụn bên trong hao hụt nhanh hơn hẳn lúc chạy thử nghiệm ở Tây Sơn. Ciel nghe vậy liền hỏi tần suất mở nắp cụ thể. Lưu chưởng quầy lắc đầu bảo làm sao đếm xuể, chỉ biết vào khung giờ khách đông thì nắp hòm bật lên sập xuống không ngơi tay.
Hứa An đứng sau lưng lập tức rút bút ghi chú ngay chi tiết ấy vào sổ để lần sau nếu có khách mới đặt làm hòm thì ngoài việc hỏi kích thước chứa đồ, bắt buộc phải hỏi kỹ thêm về thói quen đóng mở hàng ngày của người dùng. Một kinh nghiệm thực tế từ đời sống lại tự động bồi đắp vào quy trình chế tạo bản tiếp theo mà chẳng cần ai phải hô hào đao to búa lớn.
Khoản tiền lãi thu về từ chiếc hòm giữ mát thứ hai chưa đủ lớn để giúp Nam phát tài, nhưng việc giảm thiểu được hoàn toàn chi phí đập đi làm lại trong khâu thử nghiệm đã đủ làm hắn vui ra mặt.
Khi Hứa An trình bảng quyết toán chi phí cuối cùng lên, Nam nhìn lướt qua hai dòng tổng kết rồi hỏi xem đã cộng đủ tiền công chạy vặt của A Thạch vào đấy chưa. Hứa An báo cáo đã tính đủ bốn chuyến đi lại, gồm hai bận sang lò rèn Lão Tề, một bận đi tìm Ngô Thành và một bận vác mẫu vật liệu.
A Thạch đang ngồi gặm củ khoai luộc ngoài bậc thềm nghe thấy liền thật thà nói vọng vào rằng chuyến sang chỗ Lão Tề lần thứ hai cậu tiện đường xách luôn bọc đồ khô về cho Mina tỷ, nên Hứa huynh chỉ tính có nửa chuyến tiền công vào chi phí làm hòm thôi. Hứa An gật đầu xác nhận đã ghi rõ tỉ lệ chia đôi đó trong sổ.
Nam đưa mắt nhìn hai đứa nhỏ, hài lòng gập cuốn sổ lại mà không hỏi vặn thêm câu nào. Chỉ mới nửa năm trước đây thôi, chính hắn còn phải tự mình ghi nhớ từng chuyến đi vặt và tự tay móc túi trả từng đồng tiền lẻ. Giờ đây mọi đầu việc cứ thế trôi chảy qua tay hai thiếu niên rồi đặt lên bàn hắn dưới dạng một con số tổng kết minh bạch đủ để kiểm chứng bất cứ lúc nào. Đó chính là kiểu tiến bộ mà Nam mong đợi nhất, một sự cải thiện âm thầm giúp cái đầu của hắn bớt phải căng ra tính toán mỗi ngày.
Lượt quay Gacha thứ hai mươi mốt gõ cửa vào một buổi chiều trời kéo mây âm u, đúng vào lúc Nam đang định bụng chui tọt vào chăn vì gió lạnh ngoài sân bắt đầu thổi rát mặt.
Khung giao diện trong suốt hiện lên quen thuộc tới mức hắn chỉ liếc nhìn đồng hồ đếm ngược về không rồi ấn ngón tay xuống.
Ngay trên mặt phản gỗ trong phòng xuất hiện một kiện hàng lớn được chằng buộc gọn gàng bằng dây đai nhựa.
【Lượt quay thứ 21 hoàn tất. Phần thưởng nhận được là mười hai chiếc khăn cotton cao cấp.】
Nam tháo dây mở bọc vải ra, trước mắt hắn là mười hai chiếc khăn tắm dệt bằng sợi bông dày dặn, màu sắc trang nhã, mật độ sợi vải đều tăm tắp và mềm mại tới mức chỉ cần chạm đầu ngón tay vào cũng biết ngay là vượt trội hơn hẳn loại khăn vải thô vẫn bán ngoài chợ huyện.
Hắn nhấc một chiếc khăn lên săm soi, kiên nhẫn chờ đợi thêm vài giây xem bảng hệ thống có hiện thêm dòng chú thích nào đại loại như khăn thần hộ mệnh hay vải dệt chống đao kiếm hay không. Hoàn toàn trống trơn. Bảng Wikia xác nhận đúng những gì mắt thường hắn đang nhìn thấy, đây đơn thuần là mười hai chiếc khăn bông chất lượng cao của thế giới hiện đại. Chấm hết.
Nam ôm cả kiện khăn bước sang gian nhà chính. Mina là người tỏ ra hào hứng nhất với phần thưởng này, bởi mấy chiếc khăn vải dùng chung trong nhà sau hơn một năm giặt giũ bằng nước giếng đã bắt đầu sờn rách cả hai bên mép. Cô rút một chiếc ra kéo nhẹ thử độ đàn hồi, kiểm tra đường chỉ viền mép khăn rồi gật gù khen loại vải bông này thấm nước cực kỳ tốt.
Ciel bước lại sờ thử bề mặt sợi vải một cái rồi quay về bàn làm việc, hoàn toàn không có chút hứng thú đem đi phân tích cấu trúc.
Soma hỏi xem có phải chia đều mỗi người trong nhà một chiếc hay không. Nam lập tức giơ tay ngăn lại, bảo phải tính toán phân bổ cho hợp lý đã, bởi con số mười hai chiếc nghe qua thì tưởng nhiều nhưng trong nhà còn phải chia ra làm khăn tắm, khăn lau đầu, khăn cất dự phòng trong tủ, chưa kể thỉnh thoảng có khách khứa lỡ đường ở lại qua đêm cũng cần cái dùng.
Mina quay sang nhìn hắn chằm chằm:
“Đồ keo kiệt, anh định lập thêm cả một cuốn sổ quản lý khăn mặt nữa đấy à?”
“Tôi chỉ đang tính toán phương án phân bổ tài nguyên thôi mà.”
“Dẹp ngay cái ý định đó đi.”
Zero hiển nhiên không có nhu cầu sử dụng khăn bông như con người, có điều Cloppe lại tò mò bay sà xuống chạm nhẹ vào mép chiếc khăn mềm mại, kết quả là bị Mina nhẹ nhàng đưa cổ tay đẩy ra xa vì bàn tay cô vừa rửa rau xong còn đang ướt nước.
Nam đứng nhìn cảnh tượng bình dị ấy, quyết định dẹp luôn thắc mắc tại sao tháng này hệ thống lại ném ra một đống khăn tắm. Trải qua hơn hai mươi lượt quay suốt gần hai năm trời, hắn đã rút ra được một chân lý giản đơn rằng đôi khi hệ thống cho khăn chỉ đơn giản vì vòng quay rơi trúng ô có chiếc khăn mà thôi.
Toàn bộ mười hai chiếc khăn mới đều được Mina đem giặt qua nước sạch trước khi đưa vào sử dụng. Nắng cuối thu đã yếu ớt đi nhiều, cô phải canh đúng buổi trưa có gió hanh khô mạnh nhất để mang ra giăng lên dây phơi.
Một dãy khăn bông dày dặn phất phơ dưới mái hiên khiến A Thạch vừa chạy việc ngoài phố về đã đứng khựng lại ngó nghiêng, cậu nhóc tò mò hỏi bộ xưởng Tây Sơn tháng này chuyển hướng sang làm nghề buôn vải vóc rồi hả Nam ca. Nam đáp rằng đây vẫn là đồ từ quê cũ gửi lên. A Thạch gật đầu cái rụp không chút nghi ngờ, sau đó cười hì hì hỏi thăm xem đợt hàng quê cũ này tiểu đệ có được chia phần chiếc nào không.
Mina đang đứng trong bếp nghe thấy câu đó liền tiện tay ném qua cửa sổ cho cậu một chiếc khăn vải nhỏ cũ đã giặt sạch, bảo cậu nhóc lo mà lau sạch mồ hôi trán đi rồi tránh xa cái cửa bếp ra cho cô nấu cơm. A Thạch nhanh tay chụp gọn chiếc khăn giữa không trung, cười toe toét rồi co giò chạy thẳng ra giếng nước.
Tối hôm đó, Mina phân chia đống khăn mới dựa theo nhu cầu thực tế của từng khu vực trong nhà. Vài chiếc được xếp vào khu vực nhà tắm và các phòng ngủ, hai chiếc bọc kín cất vào đáy hòm làm đồ dự phòng, một chiếc đưa sang đặt ở góc xưởng cho Ciel dùng lau tay sau mỗi lần rửa sạch bụi kim loại và mạt sắt, chiếc cuối cùng được mang ra treo ở gian phòng phụ ngoài cổng để dùng vào những ngày mưa gió.
Nam ban đầu định lên tiếng phản đối việc đem một chiếc khăn bông xịn ra treo hớ hênh ở bàn cổng, nhưng Hứa An đã chủ động xua tay bảo bản thân cậu không cần dùng tới khăn tốt như thế. Mina vẫn kiên quyết treo chiếc khăn lên chiếc đinh gỗ đóng trên vách, giải thích rằng thỉnh thoảng có khách đội mưa tới bàn công chuyện thì cũng phải có cái khăn sạch đưa cho người ta lau mặt. Nam vừa nghe nhắc tới hai chữ khách hàng thì lập tức ngậm miệng, dù sao dùng để tiếp khách làm ăn cũng khác hẳn chuyện đem phát không ra ngoài đường.
Sự xuất hiện của mười hai chiếc khăn bông chẳng làm đảo lộn bất kỳ thứ gì ở Tây Sơn. Chúng chỉ lặng lẽ hòa vào nếp sống thường nhật giống hệt như chiếc tủ lạnh bốn trăm năm mươi lít, những đôi tất, chiếc nồi cơm điện nằm chờ thời hay hàng tá vật phẩm kỳ lạ trước đó.
Buổi sáng Nam rửa mặt xong quen tay vắt nhầm khăn lên thanh xà thấp liền bị Mina cầm chuyển về đúng móc treo. Soma có một bận mắt nhắm mắt mở lấy nhầm chiếc khăn lau tay ở góc bếp để lau mặt và bị bạn gái đứng nhắc nhở suốt bữa điểm tâm. Ciel đặc biệt thích chiếc khăn treo trong xưởng vì bề mặt vải bông dệt khít không hề để lại những sợi xơ vải li ti dính trên đầu ngón tay lúc cô cần lắp ráp linh kiện chính xác.
Hứa An có một buổi chiều bị cơn mưa rào tạt ướt nửa mái đầu lúc đang cố nhoài người kéo tấm bảng gỗ ngoài cổng vào hiên, chiếc khăn treo sẵn trên vách cuối cùng cũng phát huy đúng công dụng. A Thạch đội áo tơi chạy về đúng lúc thấy Hứa An đang cầm chiếc khăn bông mềm mại lau tóc liền đứng xuýt xoa:
“Hứa huynh, khăn mới dùng sướng tay thật đấy.”
“Ừ, thấm nước nhanh lắm.”
“Nhìn mà đệ cũng muốn có một cái.”
“Ở nhà đệ chẳng có sẵn mấy cái khăn vải rồi còn gì.”
“Khăn ở nhà đệ cọ vào mặt rát cả da, làm sao êm được như thế này.”
Nam đi ngang qua khoảng sân nghe lọt tai cuộc đối thoại đó liền nói vọng ra ngay:
“Thích dùng đồ êm thì tự móc tiền túi ra mà đi mua.”
A Thạch quay lại cười trừ, chẳng hề tỏ vẻ thất vọng chút nào. Cậu nhóc chỉ hỏi vặn lại một câu rằng muốn mua loại khăn y hệt thế này thì ra sạp nào ngoài chợ mà tìm. Nam đáp gọn lỏn rằng cả cái thành Thanh Hà này chẳng có tiệm nào bán đâu. A Thạch liền buông một tiếng thở dài thườn thượt rồi lại vui vẻ xách giỏ chạy đi làm việc tiếp.
Bước qua nửa cuối tháng thu, tấm bảng gỗ treo ở gian cổng bắt đầu bộc lộ thêm một lợi ích thực tế mà ban đầu chính Nam cũng chưa nghĩ tới, nó giúp chặn đứng từ trứng nước những cuộc chạm mặt vô bổ.
Một buổi trưa có một gã đàn ông vác đao tìm tới cổng xưởng, lớn tiếng đòi gặp mặt vị cao thủ dùng kiếm từng đánh đuổi đàn thú ở đồi Phong Lang. Hứa An nghe cách mô tả và thái độ hầm hố của gã là biết ngay người này muốn tìm Soma hoặc Zero, cậu thiếu niên vẫn giữ lễ độ hỏi rõ mục đích tìm gặp theo đúng bốn mục trên bảng.
Gã mang đao nói thẳng là nghe danh kiếm khách ở Tây Sơn có bản lĩnh nên muốn tới tỷ thí phân cao thấp một phen, hoàn toàn không có chuyện thuê mướn trả tiền, không có việc gì khẩn cấp và cũng chẳng quen biết ai trong xưởng. Hứa An lập tức đóng sổ từ chối thẳng thừng ngay tại bàn cổng.
Bản thân Zero và Soma ngồi ở sân sau thậm chí còn chẳng hề hay biết chuyện đó cho tới tận lúc cả nhà dọn cơm tối ra ăn. Nam vừa gắp rau vừa hỏi Hứa An xem gã khách đó lúc bị từ chối có làm ầm ĩ hay đập phá gì ngoài cổng không:
“Dạ không, gã đó đứng hỏi gặng lại hai lần thấy tiểu đệ không mở cổng thì tự giác quay lưng bỏ đi.”
“Thế là tốt.”
Mina ngồi đối diện ngước mắt nhìn Nam:
“Anh không thấy tò mò xem kẻ nào ở ngoài kia lại muốn tìm tới tận đây thách đấu với người nhà mình à?”
“Chẳng có gì đáng tò mò cả. Sự tò mò đó có đẻ ra được đồng bạc lẻ nào đâu.”
Zero ngồi bên cạnh giữ nét mặt điềm nhiên nhìn mọi người ăn cơm, rõ ràng bản thân hắn cũng chẳng mảy may cảm thấy việc bỏ lỡ một lời thách đấu vô cớ ngoài đường là điều gì đáng tiếc.
Ngược lại, có một nhóm khách khác ăn mặc xuềnh xoàng, trong túi chẳng có mấy đồng tiền nhưng lại được Hứa An mở cổng mời vào sân ngay lập tức.
Đó là hai người thợ đóng xe ngựa làm ăn ở vùng ven ngoài cổng thành, họ tìm tới để hỏi xem cô thợ Ciel có cách nào khắc phục một chi tiết trục sắt ở gầm xe cứ chạy vài chuyến hàng là bị mài mòn lệch một bên nhanh bất thường hay không. Hứa An tuy mù tịt về cơ khí nhưng vẫn hỏi đủ các thông tin cần thiết rằng họ có mang theo cái trục hỏng tới làm mẫu không, cỗ xe hiện tại có đang bị gãy trục nằm chờ ngoài đường không, và họ muốn thuê sửa dứt điểm hay chỉ muốn hỏi tìm nguyên nhân.
Hai người thợ đã tháo sẵn trục sắt mang theo trong bọc vải, xe ở nhà vẫn còn chiếc dự phòng chạy tạm và họ cam kết sẽ trả tiền công sòng phẳng nếu tìm ra cách chữa. Chừng ấy thông tin là quá đủ để Hứa An dẫn họ vào gặp Ciel.
Sau một hồi cầm thước đo đạc vết mòn trên thanh sắt, Ciel thẳng thắn kết luận lỗi này nằm ở khâu tôi lửa không đều lúc rèn phôi, hoàn toàn chẳng cần dùng tới kỹ thuật tinh vi của cô, mang sang lò rèn của Lão Tề xử lý lại vừa chuẩn xác hơn lại vừa tốn ít tiền công hơn nhiều.
A Thạch nhân tiện chuyến chạy vào phố liền dẫn luôn hai người thợ xe qua tận xưởng của Lão Tề. Chiều tối quay về, cậu nhóc mang theo lời cảm ơn rối rít của hai người thợ cùng một gói bánh đường nhỏ họ gửi biếu cả nhà.
Nam nhìn gói bánh đặt trên mặt bàn, buột miệng hỏi thế là chuyến tư vấn vừa rồi xưởng mình kiếm được một gói bánh tiền cò đấy à. Hứa An thật thà báo cáo rằng Ciel tỷ không thu của họ một đồng tiền khám bệnh nào cả. Nam chép miệng tỏ vẻ hơi tiếc rẻ đôi chút nhưng không hề cằn nhằn câu nào. Bản thân hắn cũng hiểu chẳng phải bất kỳ việc gì đi ngang qua cánh cổng kia cũng bắt buộc phải vắt ra thành tiền đồng mới chịu được.
Tiết trời cuối thu càng về những ngày cuối tháng càng trở nên hanh khô và lạnh buốt.
Giá củi đốt ngoài chợ lại nhích thêm một nấc nữa, các loại than củi đượm lửa rất khó mua lẻ vào buổi chiều bởi các hộ gia đình trong thành đều đã bắt đầu gom hàng tích trữ cho mùa đông. Nam ngồi tính sổ phát hiện ra việc cứ mua củi lắt nhắt từng bó nhỏ mỗi tuần cộng lại tốn kém hơn hẳn, hắn bèn sai A Thạch chạy đi khảo giá ở ba bãi củi quen xem chỗ nào nhận chở thẳng một xe lớn tới tận cổng xưởng.
A Thạch đi một vòng về mang theo nhiều thông tin giá trị hơn hẳn ba con số đơn thuần. Cậu thiếu niên báo cáo rằng bãi củi đầu tiên báo giá rẻ nhất nhưng đống gỗ xếp ở dưới đáy còn ngấm ẩm khá nhiều, bãi thứ hai giá cao nhất nhưng nhận đánh xe bò chở tới xếp tận vào trong kho Tây Sơn, còn bãi thứ ba giá cả nằm ở mức lưng chừng nhưng tuần này họ đang ưu tiên giao hàng trả nợ cho các mối khách quen từ năm ngoái nên phải chờ khá lâu.
Nam ngạc nhiên hỏi làm thế nào mà cậu nhóc phát hiện ra đống củi ở bãi đầu tiên bị ẩm bên trong:
“Đệ giả vờ bước vào nhấc thử mấy khúc gỗ nằm ở lớp dưới cùng lên xem độ nặng, sau đó lại lân la hỏi chuyện mấy bác phu khuân vác đang đứng chờ bốc hàng ở ngay đầu ngõ.”
“Thế lúc hỏi ông chủ bãi củi thì lão ta nói sao?”
“Ông chủ bãi tất nhiên là vỗ ngực cam đoan củi phơi khô cong từ mùa hè rồi ạ.”
Nam quay sang nhìn Hứa An. Hứa An vội vàng cúi gằm mặt xuống trang sổ để giấu nụ cười.
Cuối cùng cả nhà thống nhất chọn mua ở bãi củi thứ hai có mức giá nhỉnh hơn đôi chút, đổi lại củi khô ráo hoàn toàn và được người ta chở tới xếp gọn gàng vào tận góc kho. Lúc đứng đếm tiền trả cho chủ xe củi thì miệng Nam càm ràm tiếc của suốt nửa khắc, thế nhưng đến tối khi trời nổi gió bấc thì chính hắn lại là kẻ kéo ghế ngồi lì bên cạnh bếp lửa lâu nhất nhà.
A Thạch làm việc lâu ngày cũng bắt đầu học được cách phán đoán xem lúc nào thì nên kìm bước chân lại.
Một buổi sáng trời đổ mưa phùn rả rích kèm theo gió lạnh, Hứa An cầm trên tay hai mảnh giấy nhắn đều thuộc diện thong thả không hẹn giờ gấp. A Thạch đứng dưới hiên ngước nhìn bầu trời xám xịt một lúc rồi đề nghị cứ để hai việc này lại sau giờ Ngọ, nếu quá trưa trời tạnh ráo thì cậu sẽ chạy gộp một vòng cho gọn. Nam đứng uống nước nóng gần đó nghe thấy cũng gật đầu đồng tình mà không hề giục giã.
Hồi mới tới nhận việc, hễ cầm mảnh giấy trên tay là A Thạch lao thẳng ra đường bất kể nắng mưa chỉ vì tâm lý sợ người thuê chê trách, có bận chạy về tới xưởng thì nửa người ướt sũng bùn đất. Giờ đây cậu thiếu niên đã đủ chín chắn để hiểu rằng một lời nhắn xã giao không hẹn giờ hoàn toàn chẳng đáng để đánh đổi bằng một đôi giày sũng nước lạnh cóng suốt cả ngày trời.
Tới quá trưa mà màn mưa bụi vẫn chưa có dấu hiệu dứt hạt, Hứa An chủ động xếp một mảnh giấy sang lịch trình sáng ngày mai. Đầu việc còn lại Ciel cũng nhắn ra là để tới chiều muộn lấy về vẫn kịp. A Thạch bèn ngồi lại ở gian cổng phụ Hứa An xâu dây buộc lại các tập thẻ gỗ ghi chép, đợi tới xế chiều khi mây đen tan bớt mới khoác áo tơi lên đường.
Nam đứng nhìn bóng cậu nhóc bước qua cổng, chợt nhận ra giá trị của một người chạy việc thạo nghề không dừng lại ở đôi chân chạy nhanh. Bản lĩnh biết lựa thời điểm để kiên nhẫn chờ đợi cũng chính là một phần quan trọng của công việc này.
Mối quan hệ phối hợp giữa A Thạch và Hứa An nhờ vậy cũng chuyển biến một cách tự nhiên.
Thời gian đầu, A Thạch đón nhận từng mảnh giấy từ tay Hứa An với tâm thế của một người làm theo sự sai bảo của người giữ sổ. Tới những ngày cuối tháng này, cậu nhóc đã hoàn toàn tự tin đứng trước bàn cổng mà nói thẳng:
“Hứa huynh, tờ giấy nhắn này để sáng mai hẵng mang đi. Giờ này người ta đóng cửa đi ăn giỗ bên ngoại rồi, có chạy tới nơi cũng chỉ đứng nhìn cửa nhà người ta thôi.”
Hứa An nghe vậy sẽ hỏi lại nguồn cơn thông tin, thấy xác đáng là lập tức kẹp tờ giấy trở lại tập hồ sơ ngày mai.
Ngược lại, có những hôm A Thạch muốn tiện chân rẽ qua một điểm gần chợ trước cho thuận đường, Hứa An sẽ lên tiếng nhắc nhở ngay rằng người gửi đã dặn kỹ phải đi lấy món đồ ở tiệm rèn trước rồi mới được mang qua chỗ người thứ hai. A Thạch nghe xong liền lập tức sửa lại lộ trình mà không một lời cằn nhằn.
Giữa hai thiếu niên chẳng có ai đóng vai cấp trên ra lệnh cho cấp dưới. Một đứa nắm trong lòng bàn tay từng con hẻm và thói quen sinh hoạt của người dân trong phố, đứa kia nắm giữ trật tự trước sau của từng lời nhắn gửi. Những mảng hiểu biết của hai đứa giao thoa với nhau ngày một dày thêm, đồng thời những phần chuyên biệt riêng rẽ vẫn đủ lớn để đứa này luôn cần tới sự hỗ trợ của đứa kia.
Nam cảm nhận được sự ăn ý đó rõ nhất vào một buổi chiều vắng khách. Hắn đang ngồi tựa lưng ở gian nhà chính cộng sổ tiền tháng thì nghe thấy tiếng A Thạch vang lên từ ngoài gian cổng:
“Hứa huynh, gia đình ông chủ họ Lâm ở mạn bắc đã dọn hẳn sang con ngõ nhỏ phía sau lưng nhà cũ rồi nhé. Từ lần sau huynh đừng ghi cái địa chỉ cổng trước vào sổ nữa kẻo đi nhầm.”
Hứa An hỏi lại xem họ chuyển nhà luôn hay chỉ đóng cổng chính để sửa sang:
“Chuyển hẳn lối đi sang ngõ sau rồi. Chiều nay đệ vừa đứng hỏi kỹ bà bán đậu phụ ngồi ngay đầu hẻm đó xong.”
“Được rồi, để huynh sửa lại trong sổ.”
Tiếng ngòi bút than sột soạt trên mặt giấy vang lên vài nhịp rồi dừng lại. Nam vẫn ngồi yên trên ghế mà không bước ra ngó. Hắn chỉ lẳng lặng gạch đầu dòng một khoản thu trên trang giấy trước mặt, thầm nghĩ trong lòng rằng đây có lẽ là lần đầu tiên xưởng Tây Sơn hình thành nên một kho trí nhớ chung về thành Thanh Hà mà không cần phải nhồi nhét vào bộ não của cá nhân hắn.
Cảm giác ấy mang lại sự thư thái dễ chịu hơn gấp trăm lần cái cảnh chuyện lớn chuyện nhỏ gì mọi người cũng phải chạy tới réo tên hắn để hỏi. Một cơ ngơi mà chỉ có thể vận hành trơn tru khi một người duy nhất phải nhớ hết mọi thứ trên đời, thì kẻ đứng đầu đó sớm muộn gì cũng sẽ lao lực mà mất sạch cái quyền được lười biếng.
Vào những ngày cuối cùng của mùa thu, số lượng khách tìm đến thuê áp tải hàng đường dài giảm hẳn xuống do các thương đoàn lớn đều đã tranh thủ chốt xong các chuyến hàng lớn trước khi cái rét mùa đông ập tới. Thay vào đó, những yêu cầu nhờ cậy dò hỏi tin tức và tìm kiếm người thân lại bất ngờ tăng lên.
Có người tới hỏi thăm xem tuyến đường mòn qua hẻm núi phía tây hiện tại xe thồ còn đi lọt hay không, có người tới nhờ chuyển lời nhắn cho một toán thợ săn từng thuê Soma dẫn đường dạo trước, lại có người tới dò hỏi xem xưởng Tây Sơn có nhận việc đi tìm người đi rừng về muộn quá hạn hay không. Hứa An tuyệt đối không bao giờ trả lời bừa những thông tin nằm ngoài tầm hiểu biết. Cậu thiếu niên chỉ cặm cụi ghi chép, hỏi cho ra nhẽ những dữ kiện cơ bản nhất rồi mới mang vào trong chuyển giao lại.
Bản thân Nam cũng bắt đầu nhận thấy sự xuất hiện của một loại công việc gây nhức đầu và tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn hẳn việc đi hộ tống hàng hóa, đó là việc đi tìm người mất tích.
Đi áp tải một đoàn xe buôn chí ít cũng có điểm xuất phát rõ ràng, có đích đến cố định và có cả một đoàn người xe cụ thể đi sát bên nhau. Trong khi đó, những kẻ một đi không trở lại thường chỉ để lại phía sau một phương hướng mù mờ, một cái mốc thời gian cuối cùng có người tình cờ nhìn thấy cùng hàng tá những lời đồn đoán vô căn cứ. Xưởng Tây Sơn từ trước tới nay hầu như chưa nhận lời giải quyết loại việc này, bởi bản thân Soma và Zero vốn chẳng phải là những thợ săn chuyên lần tìm dấu vết trong rừng sâu, và Nam cũng cực kỳ ghét việc phải mở miệng hứa hẹn những chuyện mà mình không nắm chắc phần thắng trong tay.
Sát cuối tháng, có một người đàn ông trung niên tên là Lý Hổ được khách đi đường tình cờ phát hiện và khiêng về từ bìa rừng phía bắc Thanh Hà trong tình trạng mất máu nhiều, thân thể suy kiệt và tinh thần nửa tỉnh nửa mê.
Tin tức ấy trong ngày đầu tiên hoàn toàn chẳng có mối liên hệ nào tới xưởng Tây Sơn. A Thạch tình cờ nghe lỏm được câu chuyện ở một quán nước ven đường trong lúc đi giao hàng, cậu nhóc về kể lại cho mọi người nghe lúc nghỉ chân đơn giản vì tình tiết của nó quá đỗi kỳ quặc. Nhóm của Lý Hổ lúc rủ nhau vào rừng có tổng cộng sáu người đàn ông khỏe mạnh, thế nhưng rốt cuộc chỉ có duy nhất một mình hắn bò được ra tới đường lớn.
Hứa An dừng bút hỏi năm người đi cùng kia giờ ở đâu. A Thạch lắc đầu:
“Chẳng một ai biết năm người kia sống chết thế nào. Người ta đồn rằng gã Lý Hổ đó cứ mở mắt tỉnh dậy lúc nào là lại ôm đầu gào thét nhắc mọi người tuyệt đối đừng có nghe theo tiếng gọi ở trong rừng.”
Nam đang bưng chén nước chè lên miệng uống liền khựng cổ tay lại. Soma ngồi lau kiếm gần đó cũng khẽ ngước mắt lên nhìn, có điều chẳng một ai trong nhà lập tức biến một câu chuyện đồn thổi ngoài quán nước thành nhiệm vụ của mình. Thành Thanh Hà này đủ rộng lớn để mỗi ngày đều có những chuyện bất trắc xảy ra ở đâu đó, và xưởng Tây Sơn không có nghĩa vụ phải chạy theo giải quyết tất cả mọi lời đồn.
Thế nhưng chỉ hai ngày sau, lời đồn đại vô danh ấy đã gắn liền với tên tuổi và gương mặt của một con người cụ thể.
Một người phụ nữ trạc ngoài ba mươi tuổi tìm tới gõ cổng xưởng vào lúc cuối giờ chiều, vạt áo vải thô trên người vẫn còn bám đầy bụi đất đường xa. Chị ta tự giới thiệu tên là Đỗ Mai, có người em trai ruột tên Đỗ Hành chính là một trong năm người thợ săn đã không trở về cùng với Lý Hổ trong chuyến đi định mệnh kia.
Hứa An lễ phép mời người phụ nữ ngồi xuống ghế, rót một chén nước ấm rồi từ tốn hỏi han theo đúng những đầu mục đã thành nếp quen thuộc. Chị muốn tìm gặp ai trong xưởng, cần phía Tây Sơn giúp đỡ việc gì, sự việc cụ thể xảy ra ở vùng nào và người sống sót là Lý Hổ hiện tại còn giữ được mạng sống hay không.
Đỗ Mai nắm chặt vạt áo, thật thà nói rằng bản thân chị cũng chẳng biết phải chỉ đích danh ai, chị chỉ nghe ông chủ quán trà họ Lưu trong thành mách nước rằng ở xưởng Tây Sơn có những người bản lĩnh từng nhận việc đi đường rừng và xử lý các rắc rối ngoài cổng thành nên mới đánh liều tìm tới. Chị ta cũng không hề khóc lóc cầu xin họ phải lập tức xách vũ khí lên đường đi cứu người ngay trong đêm. Lý Hổ ở nhà mới chỉ tỉnh lại được vài chập ngắn ngủi, lời nói lúc mê lúc tỉnh vô cùng lộn xộn. Gia đình của năm người mất tích hiện vẫn đang phải túc trực chờ gã hồi sức thêm để hỏi cho ra vị trí gặp nạn. Mong muốn duy nhất của chị Đỗ Mai lúc này là hỏi xem liệu người của Tây Sơn có sẵn lòng lắng nghe đầu đuôi câu chuyện rồi cân nhắc việc nhận lời đi tìm người hay không.
Nam chỉ bước từ nhà chính ra gian cổng sau khi Hứa An đã lọc xong những thông tin cốt lõi nhất.
Đỗ Mai kể lại rằng nhóm sáu người bọn họ vốn là chỗ anh em quen thuộc cùng xóm, rủ nhau vào một khu rừng già ở mạn bắc để hái thuốc quý kết hợp đặt bẫy thú như mọi năm, lịch trình dự kiến chỉ đi khoảng bốn ngày là về. Nào ngờ sang tới ngày thứ năm thì chỉ có một mình Lý Hổ máu me đầm đìa lết được về tới đầu làng. Mỗi bận mở mắt ra, gã chỉ lặp đi lặp lại trong cơn hoảng loạn rằng ở trong rừng có một thứ quái quỷ gì đó biết giả giọng của người thân quen để gọi từng người tách lẻ ra khỏi đoàn.
Nam lắng nghe mà không gặng hỏi sâu thêm các chi tiết trong rừng, bởi nhân chứng duy nhất tận mắt chứng kiến sự việc hiện vẫn đang nằm bẹp trên giường bệnh.
Soma lên tiếng hỏi xem tình trạng của Lý Hổ hiện tại đã đủ tỉnh táo để đối thoại trực tiếp chưa. Đỗ Mai đáp rằng thầy thuốc bắt mạch bảo phải tĩnh dưỡng thêm vài ngày nữa thì tinh thần mới bớt kích động. Zero đứng tựa vách gỗ chỉ hỏi ngắn gọn một câu xem khu rừng đó nằm cách cổng thành Thanh Hà bao xa. Người phụ nữ lắc đầu bối rối vì bản thân chị chưa từng đi tới tận vùng rừng sâu đó bao giờ.
Cuộc gặp gỡ vì thế tạm thời dừng lại tại đây. Nam dặn dò Đỗ Mai cứ về nhà chờ đợi, bao giờ Lý Hổ hoàn toàn tỉnh táo và nhớ lại được đường đi nước bước thì gia đình cứ quay lại đây hoặc nhắn qua cho A Thạch, người của Tây Sơn bắt buộc phải trực tiếp nghe lời kể từ miệng người sống sót rồi mới đưa ra quyết định có nhận chuyến đi này hay không. Hắn tuyệt đối không buông lời hứa hẹn sẽ tìm thấy người còn sống, lại càng không nhận bất kỳ một đồng tiền đặt cọc nào khi bản thân chưa nắm rõ mình sắp phải đối mặt với thứ gì.
Đỗ Mai đứng dậy cúi đầu cảm ơn rồi vội vã cáo từ.
Hứa An đứng ở bậc thềm nhìn theo bóng lưng người phụ nữ khuất dần sau rặng cây cuối đường, sau đó cậu thiếu niên quay vào cầm thỏi than viết thêm một cụm từ nhỏ lên tấm bảng gỗ. Ngay phía dưới dòng hỏi về nội dung công việc, cậu ghi thêm một chữ nhắc nhở chính mình phải hỏi xem sự việc có thuộc diện khẩn cấp liên quan tới mạng người hay không trước khi xếp khách ngồi chờ theo thứ tự.
Nam bước lại nhìn nét chữ mới tinh, hỏi cậu nhóc có cần bào phẳng mặt gỗ đi để kẻ lại toàn bộ tấm bảng mới cho đẹp mắt không. Hứa An lắc đầu:
“Dạ thôi, viết thêm một dòng nhỏ ở góc này là đủ dùng rồi ạ.”
Nam gật gù, cực kỳ ưng bụng với câu trả lời tiết kiệm đó.
Đúng lúc ấy A Thạch vừa chạy chuyến hàng cuối ngày về tới sân. Nghe Hứa An tóm tắt lại câu chuyện của chị Đỗ Mai, cậu nhóc liền nhanh nhảu báo luôn rằng nếu vài ngày tới các huynh trong nhà cần tìm sang chỗ Lý Hổ đang nằm dưỡng thương, đệ biết tỏng khu xóm mà đám họ hàng nhà gã đang tá túc. Ban chiều lúc đi ngang qua quán nước ở phố Bắc, đệ thấy người ta bàn tán xôn xao nên đã tiện mồm hỏi thăm luôn địa chỉ cụ thể rồi.
Hứa An lập tức mở sổ ghi lại tên con hẻm mà A Thạch vừa đọc. Chẳng một ai trong xưởng lên tiếng sai bảo cậu nhóc phải đi dò la từ trước. Cậu thiếu niên chỉ đơn giản là nghe loáng thoáng thấy một chuyện có khả năng vài hôm nữa xưởng sẽ cần dùng tới, thế là tiện bước chân trên đường hỏi luôn cho đỡ mất công.
Đêm cuối tháng, từng đợt gió bấc thổi qua sân đã mang theo cái lạnh sắc lẻm báo hiệu mùa đông đang cận kề.
Mina cài then cửa gian bếp sớm hơn mọi ngày. Chiếc tủ lạnh cải tạo đặt ở gian bên cạnh vận hành nhẹ nhàng hơn hẳn những tháng mùa hè nóng bức, nhờ vậy tốc độ tiêu hao các mảnh cặn linh thạch trong khay trận cũng chậm lại thấy rõ. Một chiếc khăn bông mới tinh được vắt ngay ngắn trên giá gỗ cạnh chậu rửa mặt, hai đường mép vải vẫn còn phẳng phiu.
Ngoài gian phòng phụ gần cổng, tấm bảng gỗ treo trên vách đã lưu lại vài vệt than mờ do xóa đi viết lại nhiều lần. Hứa An cẩn thận ôm ba cuốn sổ ghi chép cất vào trong hộc tủ khóa lại trước khi sương đêm buông xuống. A Thạch đã về nhà ăn cơm cùng mẹ từ lúc chập tối, nhưng trên mặt bàn đã kẹp sẵn ba mảnh giấy chờ cậu giải quyết vào sáng sớm mai. Một lời nhắn của Ciel gửi sang lò rèn Lão Tề, một bọc đồ khô nhỏ mang vào quán trà họ Lưu, kèm theo việc tạt qua khu phố Bắc ngó xem gã thợ săn Lý Hổ đã đủ tỉnh táo để mở miệng nói chuyện hay chưa.
Nam ngồi trên chiếc ghế đẩu dưới mái hiên, đưa mắt nhìn ba mảnh giấy được Hứa An kẹp chung bằng một chiếc ghim tre rồi chợt nghĩ tháng vừa qua ở đây thực chất chẳng có biến cố gì gọi là to tát. Hệ thống Gacha nhả ra mười hai chiếc khăn tắm. Nhóm thợ trong xưởng đóng xong chiếc hòm giữ mát thứ hai. Hứa An kẻ lại một tấm bảng gỗ. Còn A Thạch thì thuộc thêm được vài lối tắt cùng giờ giấc đóng mở cửa của mấy tiệm buôn trong thành.
Thế nhưng chính những mảnh ghép nhỏ nhặt ấy lại làm cho guồng quay của cả khu xưởng vận hành khác hẳn so với một tháng trước đây. Bản thân Nam giờ không còn phải tự mình ghi nhớ xem từng ông chủ buôn đang ở xó xỉnh nào trong thành phố. Hứa An không còn phải chạy vào réo gọi hắn ra cổng chỉ để ngồi nghe một vị khách vòng vo chưa chịu nói rõ mục đích. Còn A Thạch thì đã vượt qua vai trò của một thằng bé được trả tiền chạy từng chuyến lẻ tẻ từ lâu, cậu thiếu niên đã thực sự trở thành cái tên đầu tiên mà tất cả mọi người trong xưởng mặc nhiên nghĩ tới mỗi khi cần nối một sợi dây liên lạc băng qua các con phố của Thanh Hà.
Nam kéo cao cổ áo khoác để chắn cơn gió lạnh, vừa chống gối định đứng dậy bước vào nhà thì giọng của Soma từ phía sau cánh cửa vọng ra hỏi sáng mai có cần cậu đi cùng sang nhà Lý Hổ để nghe ngóng tình hình luôn không.
Nam đứng ngẫm nghĩ một nhịp rồi lắc đầu:
“Chưa cần vội. Cứ đợi A Thạch báo về xem gã đó đã tỉnh táo hẳn chưa đã. Mò sang sớm quá nghe được nửa câu lắp bắp rồi hôm sau lại phải lội bộ sang thêm bận nữa thì mất công lắm.”
Soma đứng bên trong gật đầu ngay, hoàn toàn tán thành nguyên tắc làm việc gì cũng phải tránh cảnh đi lại hai lần cho cùng một mục đích. Mina đang lau dọn dưới bếp nghe lọt tai câu nói ấy liền nói vọng lên rằng hai gã đàn ông trong cái nhà này đúng là có biệt tài nâng tầm sự lười biếng lên thành triết lý sống.
Nam bật cười nhẹ mà không hề cãi lại. Hắn đưa mắt nhìn ra tấm bảng gỗ treo ở gian cổng thêm một lần cuối, rồi nhìn sang chiếc khăn bông trắng muốt đang khẽ đung đưa trên dây phơi dưới hiên nhà.
Phía bên ngoài bức tường đất kia, thành phố Thanh Hà vẫn còn hàng ngàn con hẻm nhỏ ngoằn ngoèo mà bảng Wikia trong đầu hắn hoàn toàn mù tịt. Còn ở cánh rừng già mạn bắc xa xôi, vẫn có năm con người chưa tìm thấy đường về cùng một kẻ sống sót đang ngày đêm hoảng loạn nhắc đi nhắc lại về những tiếng gọi giả giọng người quen giữa rừng sâu. Những ngày đầu đông sắp tới xem chừng sẽ chẳng thể nào êm ả và mềm mại được như mười hai chiếc khăn bông của tháng này.

💬 Bình luận (1)

📚 Truyện tương tự