Lưu chưởng quầy mở cánh cửa khoang dưới, thò bàn tay vào bên trong giữ nguyên vài giây rồi gật gù nói:
“Lạnh thật đấy.”
Nam đứng ngay bên cạnh buột miệng đáp theo phản xạ:
“Tôi biết rồi.”
Lưu chưởng quầy quay đầu lại liếc hắn một cái:
“Ta đang nói chuyện với con bé Ciel.”
Nam lập tức ngậm miệng. Ciel đang cúi người ghi chép thông số nhiệt độ vào sổ tay, còn Ngô Thành thì ngồi vắt chân bên chiếc bàn gỗ kê ở phía sau.
Lưu chưởng quầy lại tò mò kéo cánh cửa tủ ra thêm một lần nữa. Ngô Thành lập tức cất giọng hỏi kháy xem lão định kiểm tra độ lạnh hay định mở toang ra cho bay hết hơi lạnh bên trong. Lưu chưởng quầy vội vàng đẩy cửa đóng sập lại, lầm bầm phàn nàn rằng mấy tay thợ làm trận pháp lúc nào cũng khó nói chuyện như nhau. Ngô Thành thản nhiên đáp trả rằng bản thân ông ta rất dễ tính, chỉ khó ăn nói với những kẻ cứ mở tủ ra đóng vào liên tục rồi lại quay sang thắc mắc tại sao độ lạnh bị sụt giảm.
Cảnh tượng ấy diễn ra vào những ngày cuối tháng giữa thu, khi chiếc tủ lạnh hai cánh dung tích bốn trăm năm mươi lít đã chính thức đi vào vận hành theo một phương thức hoàn toàn khác biệt so với thiết kế gốc từ nhà máy. Cụm máy nén sơn đen phía sau lưng tủ nằm im lìm bất động, sợi dây nguồn bọc nhựa được cuộn tròn buộc gọn vào một góc, còn hệ thống tạo nhiệt độ thấp thực sự bên trong lại là một cụm trận pháp chắp ghép từ hàng chục mảnh vụn linh thạch còn sót lại chút ít linh khí, trải qua vô số lần căn chỉnh của Ngô Thành và Ciel.
Hồi đầu tháng, chiếc tủ lạnh khổng lồ này thình lình xuất hiện ngay giữa gian kho của xưởng Tây Sơn, choán gần hết lối đi lại.
A Thạch nghe tiếng kim loại nện xuống nền đất liền chạy bổ vào ngó nghiêng, cậu nhóc chỉ bình tĩnh hỏi một câu xem có cần đi gọi Soma sang khiêng giúp hay không. Thằng bé làm việc ở đây đã quen với mấy món đồ từ quê cũ của Nam tới mức chẳng buồn thắc mắc vì sao một cái hòm sắt sơn trắng cao quá vai người lớn lại tự dưng mọc ra giữa kho.
Soma và Zero phải hợp sức mới khiêng được chiếc tủ lách qua cửa kho để chuyển sang gian phòng trống nằm sát cạnh nhà bếp. Cloppe chủ động bay vọt lên sát xà nhà để nhường khoảng trống phía dưới cho hai người xoay sở nghiêng chiếc tủ qua khung cửa gỗ hẹp mà không lo va quệt trúng cô bé.
Ciel vừa nhìn thấy món đồ đã nhận ra ngay đây là một chiếc tủ lạnh gia dụng. Mina đi chợ về vào lúc giữa trưa, đứng ngắm cái tủ trắng tinh rồi thở phào bảo cuối cùng trong nhà cũng có thứ này, làm Nam đứng cạnh phải dội ngay một gáo nước lạnh rằng xưởng làm gì có đủ điện để cắm.
Ciel chưa vội đưa ra lời hứa hẹn nào. Cô dành cả buổi chiều để kiểm tra kỹ sợi dây nguồn, đọc tem thông số kỹ thuật dán bên hông, sờ nắn dàn ngưng tụ phía sau, bóp thử lớp gioăng cao su viền quanh mép cửa, đo đạc thể tích hai khoang trên dưới và độ dày của lớp xốp cách nhiệt. Xem xét xong xuôi, cô mới đưa ra kết luận dứt khoát rằng phương án dùng nguồn điện hiện có để chạy chiếc máy nén nguyên bản hoàn toàn khả thi về mặt lý thuyết, có điều làm vậy quá đỗi lãng phí.
Vấn đề nằm ở bài toán hiệu suất năng lượng. Cụm máy nén khí đòi hỏi công suất tiêu thụ lớn hơn rất nhiều so với mấy món đồ điện tử nhỏ lẻ mà bộ chuyển đổi ở Tây Sơn đang gánh, đặc biệt là dòng điện tăng vọt ở khoảnh khắc vừa khởi động máy. Muốn chiếc tủ chạy đúng như ở thế giới cũ, Ciel bắt buộc phải chế tạo một bộ chuyển đổi E-Crystal quy mô lớn hơn, lắp thêm mạch ổn áp chịu tải đầu vào và hệ thống ngắt mạch bảo vệ, sau đó ngày ngày đốt một lượng lớn tinh thể năng lượng quý giá chỉ để cố gắng mô phỏng lại mạng lưới điện dân dụng mà thế giới Đại Càn này vốn dĩ không hề có.
Nam nghe phân tích xong bèn hỏi vặn lại xem bộ phận nào của chiếc tủ này mới là thứ đáng giá nhất lúc này. Ciel đưa tay gõ nhẹ lên lớp vỏ cánh cửa dày dặn. Mục tiêu cuối cùng của cả nhà là giữ cho thức ăn ở mức nhiệt độ thấp để lâu hỏng, đâu nhất thiết cứ phải bắt cái máy nén phía sau lưng tủ quay tít lên mới được.
Từ câu nói thực tế đó, hướng nghiên cứu lập tức rẽ sang một ngả hoàn toàn mới.
Ciel tập trung toàn bộ sự chú ý vào kết cấu vỏ tủ, lớp vật liệu cách nhiệt dày cộp, cách chia buồng kín, dải gioăng cao su hít chặt ở mép cửa và các khe dẫn khí lưu thông giữa hai ngăn.
Hôm Ngô Thành được mời tới xưởng xem xét, lão thợ trận đi vòng quanh chiếc tủ mấy lượt, tự tay kéo mở rồi đóng thử cánh cửa tủ đến chục lần, sau đó gật gù phán một câu rằng bộ phận xuất sắc nhất của món đồ này chính là cái cánh cửa. Nam đứng nghe mà thấy hơi chạnh lòng thay cho cụm máy nén cơ khí tinh xảo phía sau, nhưng Ngô Thành đã giải thích một đạo lý vô cùng mộc mạc. Tạo ra được hơi lạnh mà để nó thất thoát hết ra ngoài không khí thì bao nhiêu linh thạch đổ vào cũng bằng thừa.
Hai con người đến từ hai nền tảng tri thức khác biệt bắt đầu tìm được tiếng nói chung ngay tại giao điểm ấy.
Ciel giải thích cặn kẽ cơ chế lớp vật liệu trong thành tủ ngăn cản nhiệt lượng từ bên ngoài xâm nhập vào trong, lý giải vì sao việc mở cửa tủ thường xuyên sẽ làm không khí nóng tràn vào gây sụt giảm nhiệt độ, cũng như mục đích thiết kế hai khoang có mức nhiệt khác nhau. Ngô Thành chăm chú lắng nghe, hỏi lại xem vùng không gian nào cần ép lạnh sâu nhất, vùng nào chỉ cần giữ ở mức mát mẻ như tiết trời cuối thu, rồi bảo Ciel mang toàn bộ số vụn linh thạch mà Tây Sơn đang tích trữ ra cho lão kiểm tra.
Phần lớn số đá trong rổ đều là loại cặn bã đã gần cạn kiệt, chỉ có lác đác vài mảnh vụn còn giữ được lượng linh khí tương đối khá nhưng kích thước to nhỏ và độ tinh khiết hoàn toàn lệch lạc. Ngô Thành trầm ngâm một lúc rồi đề xuất chế tạo một chiếc khay trận pháp độc lập có thể tháo lắp dễ dàng, giúp người dùng thay thế từng mẻ đá vụn từ bên ngoài hoặc rút khay ra nạp lại mà không cần phải đục đẽo gắn chết nguồn năng lượng vào vách tủ.
Phiên bản thử nghiệm đầu tiên cho ra kết quả khá tệ. Ngô Thành chọn lấy vài mảnh đá vụn còn tốt, xếp vào một chiếc khay gỗ nhỏ để kích hoạt trận văn hàn khí khắc trên một tấm đồng phẳng, sau đó đặt cả cụm vào khoang trên của tủ lạnh. Khoảng không gian nằm sát mặt tấm đồng lập tức lạnh buốt chỉ sau nửa khắc, nhưng góc đối diện của khoang tủ vẫn ấm, còn khoang lớn phía dưới thì gần như chẳng có chút biến chuyển nào.
Nam ngó đầu vào xem rồi buột miệng hỏi lỗi này do bên nào tính sai. Ciel và Ngô Thành đồng loạt quay phắt lại nhìn hắn chằm chằm, khiến Nam phải tự giác sửa lời rằng mình vừa đặt một câu hỏi hết sức ngớ ngẩn.
Trận pháp đã phát huy đúng chức năng tạo ra khí lạnh tại vị trí của nó, chiếc vỏ tủ cũng làm tròn nhiệm vụ giữ nhiệt trong khoang kín, nguyên nhân duy nhất nằm ở việc hơi lạnh không thể tự phân bổ đồng đều khắp các ngóc ngách.
Hai người bắt đầu điều chỉnh lại vị trí đặt khay, lắp thêm các lá kim loại dẫn nhiệt chạy dọc theo vách trong và tận dụng triệt để các khe thông gió có sẵn giữa hai tầng tủ.
Ở lần thử nghiệm tiếp theo, hơi mát đã lan tỏa xuống tận khoang dưới khá rõ rệt, có điều mẻ đá vụn trong khay lại bị rút cạn sạch linh khí với tốc độ chóng mặt. Nam nhìn mấy mảnh đá vừa chuyển sang màu trắng đục vô dụng trên mặt bàn, cất giọng hỏi tổng giá tiền của mẻ đá vừa đốt hết là bao nhiêu. Nghe Ciel báo con số xong, Nam lập tức lắc đầu quầy quậy:
“Không được đâu, đốt tiền kiểu này thì thà ăn đồ muối mặn cả năm còn hơn.”
Ciel cũng gật đầu đồng tình ngay vì hiệu suất chuyển hóa năng lượng như vậy là quá thấp. Ngô Thành đứng vuốt râu nhìn hai người bọn họ, chặc lưỡi nhận xét rằng cả hai cùng bác bỏ một phương án, chỉ khác ở chỗ một kẻ nhìn chằm chằm vào túi tiền, còn người kia thì nhìn vào bảng thông số kỹ thuật.
Mấy thanh socola sữa còn sót lại từ đợt quay tháng thứ mười bốn vô tình trở thành mẫu vật đối chứng hoàn hảo nhất cho đợt thử nghiệm.
Mina vẫn đang cất giữ số socola cuối cùng này trong chiếc thùng gỗ nhồi trấu và mùn cưa ở góc kho bắc. Ciel lấy một nửa số kẹo đem đặt vào khoang dưới của chiếc tủ lạnh khi nhiệt độ đã tương đối ổn định, nửa còn lại vẫn giữ nguyên trong thùng gỗ cũ để so sánh.
Sau một ngày đầu tiên, sự khác biệt chưa bộc lộ rõ ràng. Thế nhưng đến ngày thứ ba, những thanh socola nằm trong tủ lạnh đã cứng cáp trở lại, bề mặt khô ráo và giữ nguyên hình dạng vuông vức lúc bóc lớp giấy bạc ra.
Nam cầm miếng socola mát lạnh trên tay, cảm giác như một bài toán nan giải treo lơ lửng suốt nửa năm trời rốt cuộc cũng tìm được lời giải đáp thỏa đáng. Mina xin phép Ciel được ăn thử một mẩu mẫu vật sau khi đã đo đạc xong. Nam vừa giơ tay định ngăn lại thì bắt gặp ánh mắt của cả hai cô gái cùng chiếu thẳng vào mình. Hắn đành rụt tay về, ngậm ngùi thừa nhận rằng mẫu vật thí nghiệm cũng chẳng cần thiết phải giữ cho bất tử làm gì.
Việc xử lý khoang trên của chiếc tủ lại hóc búa hơn nhiều.
Ngô Thành muốn khắc chồng thêm hai vòng trận văn kích phát để ép nhiệt độ tụt sâu hơn nữa. Ciel lập tức lên tiếng phản đối việc chỉ chăm chăm tăng công suất đầu vào, bởi làm thế sẽ khiến khu vực nằm sát tấm đồng đóng băng cứng ngắc trước khi hơi lạnh kịp lan tới mép ngoài cửa tủ.
Hai người đứng tranh luận gay gắt suốt cả buổi chiều về phương án bố trí đường dẫn nhiệt. Ciel giữ thói quen truy vấn đến tận gốc rễ nguyên lý vận hành của từng nét khắc, trong khi Ngô Thành đôi lúc chỉ giải thích cộc lốc rằng cấu trúc trận đồ cổ truyền vốn dĩ phải vẽ như vậy. Ciel dứt khoát không chấp nhận kiểu giải thích mù mờ đó. Ngược lại, lão thợ trận cũng tỏ ra bực bội mỗi khi cô gái tóc vàng đem những khái niệm dòng điện và điện trở ra để quy chiếu, bởi trong mắt lão thì đường đi của linh khí biến hóa phức tạp hơn mấy sợi dây kim loại dẫn điện gấp vạn lần.
Tranh cãi đến đỏ mặt tía tai xong xuôi, cả hai vẫn lẳng lặng quay lại ngồi trước chiếc tủ lạnh, trải giấy ra vẽ lại sơ đồ bố trí dây đồng rồi tiếp tục lắp vào thử nghiệm tiếp.
Lão Tề thỉnh thoảng ghé qua xưởng lại đóng góp thêm những góc nhìn thực tế của một người thợ rèn lâu năm. Lão chỉ rõ loại đồng tấm nào ngoài chợ Thanh Hà có nguồn cung ổn định quanh năm, loại hợp kim nào dễ bị cong vênh co ngót khi gặp lạnh đột ngột, và kiểu giá đỡ nào mà những người thợ nguội tay nghề trung bình ở địa phương cũng có thể tự gia công thay thế được. Lão già nhắc nhở Ciel rằng đừng bao giờ thiết kế ra một món đồ mà trên đời chỉ có một mình cô biết cách tháo lắp, nhất là khi sau này còn muốn làm ra cho người ngoài sử dụng.
Đến khoảng giữa tháng, khoang mát phía dưới đã duy trì được độ lạnh vô cùng ổn định, đồng thời tốc độ tiêu hao vụn linh thạch cũng giảm xuống tới mức ngân sách của xưởng Tây Sơn hoàn toàn chịu đựng nổi. Sự cải thiện này đến từ việc tận dụng tối đa lớp cách nhiệt nguyên bản của thân tủ kết hợp với hệ thống lá đồng dẫn nhiệt hợp lý, giúp một mẻ đá vụn duy trì tác dụng lâu hơn gấp bội. Hơn nữa, Ngô Thành đã tìm ra cách ghép xen kẽ những mảnh cặn gần cạn kiệt chung với một vài mảnh đá còn khá để kích hoạt trận pháp từ từ, chấm dứt tình trạng phải vứt bỏ cả mẻ đá chỉ vì vài viên bị suy yếu.
Khoang nhỏ phía trên hiện tại đã có thể hạ nhiệt độ xuống rất sâu, thậm chí làm đóng băng một bát nước nhỏ đặt sát tấm đồng trung tâm sau một đêm, có điều độ lạnh vẫn phân bổ chưa đủ đồng đều để gọi là một ngăn đông đá hoàn chỉnh như thiết kế ban đầu.
Ciel chính là người chủ động đề nghị dừng việc nâng cấp khoang trên lại tại đây:
“Lợi ích thu được từ việc cố ép nhiệt độ xuống thấp hơn nữa hiện tại không tương xứng với thời gian bỏ ra và số lượng đá vụn phải đốt thêm.”
Nam đứng nghe câu tổng kết ấy liền bật cười bảo dạo này cô ăn nói bắt đầu giống hệt hắn rồi đấy. Ciel điềm nhiên đáp rằng bản thân cô chỉ đơn giản là biết rõ điểm dừng hợp lý của một dự án kỹ thuật nằm ở đâu. Ngô Thành ngồi uống trà bên cạnh bèn buột miệng hỏi bộ hai người các ngươi có ngày nào sống dưới mái nhà này mà không lôi chuyện tiền nong với hiệu suất ra cãi nhau hay không. Cả Nam lẫn Ciel đều đồng thanh đáp rằng họ đâu có cãi nhau, câu trả lời ăn ý đến mức khiến lão lại càng không tin.
Chiếc tủ lạnh nhanh chóng hòa nhập vào guồng quay sinh hoạt thường nhật của cả nhà.
Mina dùng khoang dưới để cất giữ rau tươi, thịt lợn đã thái sẵn bọc lá sen, bánh bao nhân thịt và những bát thức ăn thừa sau bữa tối. Nam thấy đồ ăn để qua ngày vẫn tươi ngon liền nảy ra ý định mỗi chiều ra chợ gom thật nhiều thịt cá ế giá rẻ về tích trữ, kết quả là bị Mina đứng chặn ngay trước cửa bếp. Cô tuyên bố dứt khoát rằng có tủ giữ mát chỉ giúp đỡ phải đi chợ lắt nhắt, tuyệt đối cấm biến cái tủ thành kho chứa đồ ôi giá rẻ.
Một ngăn nhỏ ở góc dưới cùng được phân chia riêng cho Ciel sử dụng với điều kiện ngặt nghèo là mọi mẫu vật đưa vào đều phải bọc kín, sạch sẽ, không chứa độc tính, không bốc mùi lạ và phải dán nhãn ghi chú rõ ràng.
Trong nhà bắt đầu có sẵn những bình nước đun sôi để nguội ướp lạnh mát rượi. A Thạch mỗi bận chạy việc ngoài phố về dưới trời nắng hanh, việc đầu tiên cậu nhóc muốn làm là chạy ùa vào bếp kéo cánh cửa tủ ra chỉ để áp hai bàn tay nóng hầm hập vào thành bình nước. Thói quen ấy lặp lại nhiều tới mức Ciel phải lấy bút than viết một mảnh giấy lớn dán thẳng lên mặt ngoài cánh tủ với dòng chữ CẤM MỞ CỬA NẾU KHÔNG LẤY ĐỒ.
A Thạch đứng đọc xong tờ giấy liền quay ra sân gãi đầu hỏi có phải dòng chữ này Ciel tỷ viết riêng cho một mình cậu hay không. Hứa An đang ngồi ghi sổ ở bàn cổng không cần ngẩng đầu lên cũng đáp gọn lỏn:
“Chắc chắn một trăm phần trăm là viết cho đệ rồi.”
Zero gần như chẳng có nhu cầu đụng tới chiếc tủ lạnh, có điều trong một buổi chiều Ciel cần đo đạc độ dẫn nhiệt ở khe thông gió, cô đã nhờ hắn dùng hai tay giữ cố định hai tấm đồng nặng trịch áp sát vào vách tủ suốt nửa canh giờ.
Ngô Thành đứng bên cạnh nhìn cảnh tượng chàng chiến binh áo đỏ đứng bất động không lệch lấy một ly, không khỏi tấm tắc buông một câu đùa:
“Cái giá đỡ sống này dùng tiện tay thật đấy.”
Ciel lập tức quay đầu lại, nghiêm giọng chỉnh lại lời của lão thợ trận rằng Zero là thành viên trong nhà, ông tuyệt đối đừng gọi anh ấy là cái giá đỡ đồ.
Zero vẫn giữ nguyên tư thế áp chặt tấm đồng, giọng nói vang lên bình thản:
“Không sao, tôi giữ được.”
Ngô Thành thoáng khựng lại, sau đó gật đầu nhận lỗi và tuyệt đối không bao giờ lặp lại kiểu nói đùa ấy lần thứ hai. Mẩu chuyện nhỏ nhặt đó giúp lão thợ trận hiểu rõ hơn một quy tắc ngầm bất di bất dịch dưới mái hiên Tây Sơn này. Những con người sở hữu năng lực dị thường ở đây giúp đỡ nhau vì tình nghĩa người một nhà, chẳng ai được phép xem họ như công cụ sai vặt chỉ vì họ làm được những việc vượt quá sức người thường.
Soma đóng góp vào quá trình nghiệm thu chiếc tủ lạnh theo một cách hết sức đời thường khi bị Mina ấn cái giỏ tre vào tay, sai đi chợ mua vài món nguyên liệu dễ hỏng về làm mẫu thử.
Tới lúc đứng trước sạp hàng ngoài chợ, Soma mới thành thật thú nhận với Nam rằng bản thân cậu đã ăn đậu phụ ở Thanh Hà thành một năm trời, thế nhưng bảo tự mắt nhìn để phân biệt miếng đậu nào vừa mới ra lò, miếng nào đã để qua một buổi sáng thì cậu hoàn toàn mù tịt. Nam bị kéo đi cùng với tư cách chuyên gia thẩm định giá cả. Hai gã đàn ông đứng tần ngần trước sạp đậu hỏi han đủ điều, cuối cùng lại bị chính bà bán đậu phụ bật cười chỉ ra rằng miếng đậu mà Nam vừa trỏ tay chọn thực chất là mẻ đậu cũ còn sót lại từ sớm tinh mơ. Soma không nói gì, chỉ khẽ nhếch môi mỉm cười suốt dọc đường xách giỏ về xưởng.
Số đậu phụ, bánh nướng nhân thịt và thịt tươi mua về được chia đều làm hai phần, một phần cất trong chạn gỗ thoáng gió như cũ, phần kia xếp gọn vào khoang dưới của chiếc tủ. Sau ba ngày theo dõi, sự chênh lệch về chất lượng hiện ra rõ mồn một. Đậu phụ và bánh nhân để bên ngoài đã bắt đầu chua loét và bốc mùi thiu, trong khi phần lấy từ trong tủ ra vẫn giữ được độ tươi nguyên khi đem hấp nóng lại. Dẫu vậy, Ciel vẫn cẩn thận nhắc nhở cả nhà rằng nhiệt độ thấp chỉ làm chậm quá trình phân hủy sinh học của thức ăn, đừng ai ỷ lại mà để đồ ăn lưu cữu từ tuần này qua tuần khác.
Hứa An được kéo vào dự án cải tạo tủ lạnh theo đúng chuyên môn sổ sách của mình.
Tiền mua các mẻ vụn linh thạch đem ra thử nghiệm, tiền thù lao trả theo buổi cho Ngô Thành, tiền công rèn gò các tấm đồng dẫn nhiệt của Lão Tề, tiền mua gỗ đóng khay trận và cả những đồng tiền lẻ trả cho A Thạch chạy đi chạy lại truyền tin đều được cậu thiếu niên tách riêng thành một bảng hạch toán độc lập.
Hứa An cầm bút than ngẫm nghĩ một lúc rồi quay sang hỏi Nam xem phần công sức nghiên cứu suốt nửa tháng trời của Ciel có cần phải quy đổi ra thành tiền công ghi vào sổ hay không, bởi cô gái tóc vàng chưa từng nhận một đồng tiền lương nào từ quỹ xưởng.
Nam dừng tay gõ mặt bàn, suy nghĩ khá lâu. Cuối cùng cả nhóm thống nhất rằng người trong nhà không cần bày vẽ chuyện trả lương tính theo giờ cho nhau, có điều trong cuốn sổ lưu trữ bắt buộc phải ghi rõ ràng tên Ciel là người chủ trì thiết kế chính, để sau này bất kỳ ai lật sổ nhìn vào thành phẩm cũng đều biết rõ công sức đầu tàu thuộc về ai.
Khi Ciel chủ động đề xuất rằng nếu sau này có khách hàng bên ngoài đặt làm những thiết bị giữ lạnh tương tự, phần tiền công bản vẽ thiết kế thu được nên trích một nửa đưa thẳng vào quỹ chung của Tây Sơn xưởng, Hứa An lập tức nắn nót viết thêm một dòng quy ước vào cuối trang giấy. Cả xưởng Tây Sơn giữ quyền sở hữu nguyên mẫu và bản vẽ thiết kế gốc.
Người đầu tiên mang cơ hội làm ăn thực tế tới cho dự án này chính là Lưu chưởng quầy.
Chuyện bắt đầu từ việc Mina mang biếu lão già một hộp bánh nhân thịt đã cất trong tủ lạnh suốt hai ngày liền mà lúc đem hấp lại vỏ bánh vẫn mềm xốp, nhân thịt bên trong không hề bị biến vị. Lưu chưởng quầy ăn thử xong liền gặng hỏi bí quyết. Mina chỉ kể thật thà rằng Ciel cùng với trận sư Ngô Thành vừa mới phối hợp chế tạo thành công một hệ thống giữ mát chạy bằng cặn và vụn linh thạch, tuyệt nhiên giấu kín lai lịch của hệ thống Gacha cũng như cái vỏ tủ lạnh công nghiệp.
Ngay chiều hôm sau, Lưu chưởng quầy chống gậy tìm tới tận xưởng Tây Sơn. Sau khi tự tay mở cánh cửa khoang dưới ra kiểm tra hơi lạnh mấy bận, lão già quay sang hỏi một câu đi thẳng vào trọng tâm:
“Mấy đứa các ngươi có đóng được một cái hòm giữ mát kiểu này nhưng kích thước nhỏ gọn hơn cho quán trà của ta không?”
Quán trà của lão không có nhu cầu chứa đồ ăn tới bốn trăm năm mươi lít, lão chỉ cần một chiếc hòm gỗ vừa vặn đặt sau quầy nước, đủ sức giữ cho mấy khay bánh điểm tâm, ít hoa quả tươi và vài món nguyên liệu pha chế chuẩn bị sẵn trong ngày không bị ôi thiu dưới tiết trời oi bức. Thậm chí mức nhiệt độ lạnh buốt hiện tại của chiếc tủ lớn còn vượt quá nhu cầu thực tế của quán trà.
Ciel nghe xong không vội vàng gật đầu nhận lời ngay. Cô lấy sổ tay ra hỏi kỹ kích thước dài rộng tối đa của góc quầy nước, mức độ mát mẻ mà lão mong muốn và tần suất nhân viên mở nắp lấy bánh trung bình mỗi canh giờ là bao nhiêu lần. Ngô Thành hỏi tiếp về độ thông thoáng của vị trí đặt hòm để tính hướng tản nhiệt cho trận pháp. Còn Nam thì hỏi chốt hạ một câu quen thuộc về hạn mức ngân sách mà ông chủ quán trà chịu chi trả.
Lưu chưởng quầy quay sang lườm Nam một cái, chép miệng bảo cái thằng chuyên đếm tiền lẻ rốt cuộc vẫn không nhịn được mà phải lộ mặt ra.
Qua một hồi ngồi bàn bạc ba mặt một lời, nhóm kỹ thuật nhận ra việc đóng mới một chiếc hòm giữ mát cỡ nhỏ thực chất lại dễ thở hơn nhiều so với việc cải tạo chiếc tủ lạnh Gacha, bởi họ được quyền chủ động thiết kế mọi thứ ngay từ con số không. Cấu trúc sản phẩm chỉ cần gồm một chiếc hòm gỗ hai lớp đóng khít, ở giữa nhồi chặt vật liệu cách nhiệt đã xử lý khô, phần nắp đậy viền nẹp da thuộc giữ kín khí, bên trong gắn một cụm trận pháp hàn khí vừa vặn với thể tích nhỏ kèm theo các lá đồng dẫn nhiệt chạy quanh vách hòm. Hoàn toàn vắng bóng cụm máy nén cồng kềnh hay mớ dây điện rườm rà. Họ bỏ qua ý định sao chép nguyên bản chiếc tủ lạnh hiện đại, chỉ chắt lọc lấy nguyên lý bảo toàn nhiệt lượng của nó rồi dùng kỹ thuật trận pháp bản địa của Đại Càn để tạo ra nguồn lạnh.
Đây là lần đầu tiên kể từ ngày lập xưởng, Tây Sơn tiếp nhận một đơn đặt hàng kỹ thuật mang tính chất hoàn toàn mới. Khách hàng đặt ra một nhu cầu sử dụng từ đầu thay vì mang đồ hỏng tới nhờ sửa chữa như trước, để rồi bộ ba Ciel, Ngô Thành và Lão Tề phải ngồi lại cùng nhau thiết kế ra một giải pháp hoàn chỉnh.
Nam lật một trang giấy trắng tinh trong cuốn sổ lớn, viết dòng tiêu đề ghi nhận dự án đóng hòm giữ mát cỡ nhỏ cho quán trà họ Lưu. Hứa An ngồi bên cạnh thoăn thoắt liệt kê các khoản dự toán từ tiền mua gỗ đóng thùng, tiền đồng lá, tiền công thợ mộc thợ rèn của Lão Tề, tiền công khắc trận của Ngô Thành, số lượng đá vụn dùng cho việc chạy thử và tên những người trực tiếp tham gia.
Lưu chưởng quầy bắt đầu giở giọng mặc cả ép giá trước cả khi bảng báo giá hoàn thiện, lão bảo Nam phải biết đường giảm giá cho người quen vì chính lão là người đã giới thiệu thằng bé Hứa An cho xưởng, lại còn cưu mang cho Nam công ăn việc làm từ những ngày đầu tiên mới đặt chân tới Thanh Hà. Nam thẳng thừng bác bỏ ngay, bảo chuyện ân nghĩa ngày trước và chuyện làm ăn tính sổ hôm nay là hai phạm trù hoàn toàn tách biệt. Lưu chưởng quầy cười khẩy bảo cái giọng điệu mặc cả rạch ròi không chừa một khe hở này là lão học được từ chính bản mặt của Nam chứ đâu xa. Ngô Thành ngồi uống nước bên cạnh nghe hai người đấu võ mồm mà bật cười thành tiếng.
Những ngày sau đó, đôi chân của A Thạch lại càng thêm bận rộn khi phải chạy như con thoi giữa xưởng Tây Sơn, quán trà của Lưu chưởng quầy, lò rèn của Lão Tề và căn nhà nhỏ của Ngô Thành.
Lần đầu tiên cậu nhóc cầm bản vẽ chạy tới nhà Ngô Thành lại đúng vào lúc lão thợ trận đang bận tiếp một vị khách tu sĩ, báo hại cậu phải ngồi chầu chực ngoài bậc thềm gần một canh giờ đồng hồ mới đưa được giấy. Hứa An ở nhà nghe A Thạch kể lại chuyện đó liền lấy bút ghi chú ngay vào bìa sổ những khung giờ trong ngày mà Ngô Thành thường bận tiếp khách hoặc nghỉ ngơi. Lần chạy việc tiếp theo, A Thạch chủ động đổi sang đi vào lúc xế chiều và hoàn thành chuyến đưa tin nhanh gọn chỉ trong chưa đầy nửa khắc.
Hai đứa nhỏ lại bắt đầu chí chóe trêu chọc nhau xem công lao hoàn thành việc sớm thuộc về cái đầu biết ghi sổ ở cổng hay đôi chân chạy ngoài đường. Nam đi ngang qua chỉ cần hắng giọng nhắc khéo rằng đừng có biến chuyện tranh công thành lý do vòi thêm tiền thưởng là cả hai đứa lập tức im bặt.
Chiếc hòm giữ mát cỡ nhỏ đầu tiên được lắp ráp hoàn thiện vào những ngày sát cuối tháng, tuy nhiên Ciel vẫn kiên quyết giữ lại ở xưởng để theo dõi thêm chứ chưa chịu bàn giao ngay cho khách.
Chiếc hòm gỗ giữ nhiệt độ mát khá tốt, lượng vụn linh thạch tiêu hao mỗi ngày thấp hơn hẳn so với khay trận lắp trên chiếc tủ lớn bốn trăm năm mươi lít, có điều ở một góc dưới đáy hòm lại xuất hiện tình trạng đọng nước ngưng tụ khá nhiều.
Ciel cau mày tỏ ý chưa hài lòng với khuyết điểm này. Lão Tề xem qua rồi bảo chỉ cần khoét thêm một rãnh dẫn nước nhỏ nối ra khay hứng bên ngoài là giải quyết êm đẹp. Ngô Thành thì khăng khăng khẳng định đồ án trận văn của mình tỏa hàn khí rất đều, chuyện đọng nước hoàn toàn nằm ở khâu ghép mộng gỗ và lót tấm đồng chưa khít.
Đứng nhìn ba người thợ bắt đầu chỉ tay vào góc hòm tranh luận xem phần lỗi thuộc về khâu gia công của ai, Nam khoanh tay tựa cửa và bất giác nhận ra một dịch vụ làm ăn thực thụ hình như đã chính thức ra đời tại Tây Sơn. Họ đã có khách đặt hàng, có sản phẩm làm ra hình hài, có lỗi kỹ thuật phát sinh ngoài ý muốn và có những người thợ bắt đầu khẳng định lỗi đó nằm ở phần việc của người khác.
Lưu chưởng quầy nghe tin báo về chỉ nhắn lại một câu ngắn gọn rằng cứ thong thả sửa cho thật ngon lành rồi hãy khiêng tới quán, lão không hề giục giã lấy một lời.
Trong khi đó, chiếc tủ lạnh bốn trăm năm mươi lít đặt cạnh gian bếp Tây Sơn đã hoàn toàn thoát khỏi vị thế của một sự kiện kỳ lạ trong nhà.
Mina mở cửa tủ lấy bó rau cải ra nấu canh rồi thuận tay đẩy nhẹ cho gioăng cao su hít chặt lại. Soma đi tập kiếm về mở tủ lấy bình nước mát ra uống. Ciel có riêng một ngăn nhỏ sạch sẽ ở góc dưới. A Thạch vẫn bị cấm tiệt cái trò mở cửa tủ ra chỉ để thò đầu vào hóng gió mát. Còn Zero thì hầu như chẳng mấy khi bước chân tới gần đó.
Vào buổi tối cuối cùng của tháng, bốn thanh socola sữa cuối cùng còn sót lại từ đợt quay mùa xuân được Mina mang ra chia đều làm bốn phần trên chiếc đĩa gốm.
Nam cắn một miếng kẹo vẫn giữ nguyên độ giòn cứng vừa phải, nhai chậm rãi rồi buột miệng thú nhận rằng nghĩ tới cảnh ăn hết miếng này là sạch bách tự dưng thấy hơi tiếc trong lòng. Mina ngồi đối diện bật cười bảo mãi tới tận miếng cuối cùng mới nghe thấy hắn nói ra một câu thật lòng mà không tính toán.
Ngoài khoảng sân đất nện, gió thu thổi qua những tán cây hòe nghe xào xạc và mát lạnh hơn hẳn hồi đầu tháng. Xưởng Tây Sơn chẳng hề mang lại cái cảm giác như đang bước sang một kỷ nguyên công nghiệp vĩ đại nào cả. Dưới mái ngói cũ kỹ này chỉ có thêm một chiếc tủ sắt giữ cho thức ăn tươi lâu hơn vài ngày, một chiếc hòm gỗ giữ mát đang chờ sửa lỗi đọng nước để giao cho quán trà họ Lưu, cùng một bài học thực tế đã được nghiệm chứng rõ ràng. Họ chẳng việc gì phải cố sống cố chết ép cái thế giới Đại Càn này tạo ra dòng điện chỉ để phục vụ cho mọi món đồ hiện đại. Đôi khi cách làm khôn ngoan và đỡ tốn kém nhất chính là giữ lại phần vỏ bọc thiết kế hữu ích, giao trả việc tạo hàn khí cho trận pháp bản địa, để rồi hai hệ thống tri thức hoàn toàn xa lạ có thể tự nhiên gặp gỡ nhau ở một điểm vừa vặn nhất.