Cuối hạ, một cơn mưa rào bất chợt đổ ập xuống làm cả xưởng Tây Sơn nháo nhào lao ra sân thu dọn đồ đạc như có giặc đuổi.
Nam đu người kéo dây phơi chùng xuống. Mina ôm cả bọc áo quần chạy vội vào mái hiên. Soma quăng chiếc giỏ tre ra giữa sân để gom đồ rơi rớt. Zero giật từng vạt áo trên dây nhanh thoăn thoắt, nhanh đến mức Nam phải cất giọng nhắc hắn nương tay kẻo giật đứt luôn cả dây phơi.
Ciel bước ra sau cùng, vừa tháo găng tay vừa chỉ vào gian nhà chính, bảo mặt bàn lớn bên trong vẫn còn chỗ đặt đồ.
Hứa An ngồi ở gian cổng phản ứng chậm nhất vì ngỡ đám mây đen chỉ lướt qua rồi thôi. Đến lúc nước mưa tạt ướt cả góc phản, cậu mới hốt hoảng ôm chặt cuốn sổ chạy thục mạng vào trong sân.
Nam chạy ra kéo chiếc bàn gỗ tránh mưa, nhìn góc bàn ngấm nước ướt sũng rồi thừa nhận tấm bạt che tạm ngoài hiên đã đến lúc phải dỡ bỏ để lợp mái ngói đàng hoàng.
Mina lườm hắn một cái, bảo câu ấy cô đã nhắc từ tháng trước. Nam cãi ngay rằng tháng trước trời nắng ráo nên chưa vội, bây giờ giấy tờ sắp ướt sũng mới là chuyện thực sự cần chi tiền.
Hứa An làm việc ở đây đủ lâu để hiểu tiêu chuẩn chi tiêu của Nam lúc nào cũng phải đợi sự cố sờ sờ ra trước mắt mới chịu mở hầu bao.
Trận mưa rào kéo dài gần nửa canh giờ. Quần áo ẩm được treo lủng lẳng khắp các thanh xà dưới mái hiên, đồ mặc của năm con người chen chúc cùng khăn lau, giẻ bọc đồ và mấy tấm vải Ciel dùng trong xưởng.
Nam ngồi bệt bên chiếc ghế đẩu cạnh Hứa An, nhìn mớ đồ phơi lộn xộn rồi nhận xét rằng Tây Sơn bây giờ mới thật sự giống một cái nhà, nơi chốn này trông ấm cúng hẳn lên nhờ có đủ sự bừa bộn.
Hứa An chớp mắt hỏi:
“Chẳng lẽ trước đây nơi này không tính là nhà sao Nam huynh?”
Nam đưa tay chỉ vào chiếc xô gỗ bỏ quên giữa sân, đôi giày vải của Soma nằm lệch trước bậc cửa, khói bếp cay xè và đống quần áo giăng kín lối đi:
“Trước đây chỉ là một chỗ chúng ta gượng ép dọn về ở, còn bây giờ mọi dấu vết sinh hoạt tự xuất hiện khắp nơi rồi.”
Hứa An ngẫm nghĩ một lúc, không rõ đây có phải là cách khen ngợi bình thường dành cho nơi ở hay không. Cloppe bay theo Zero nép sát vào cổ áo hắn tránh gió tạt, đợi mưa ngớt hẳn mới dám lượn lờ ngó nghiêng đống đồ vừa cứu được khỏi dây phơi.
Ba ngày sau, A Thạch xuất hiện.
Buổi sáng hôm đó Hứa An đang vướng tay với hai mẩu giấy cần chuyển gấp, một lời nhắn của Ciel gửi sang xưởng Lão Tề và một bức thư hỏi giá gỗ Nam đang chờ cửa hàng phía phố Nam hồi âm. Cùng lúc ấy lại có khách ngồi đợi ở cổng để gặp Soma bàn việc áp tải hàng.
Hứa An không thể bỏ bàn tiếp khách mà chạy đi, Nam thì đầu giờ chiều phải vào quán trà của Lưu chưởng quầy điểm danh, những người khác đều bận việc riêng.
Nam cầm hai mẩu giấy trên tay, cất giọng hỏi:
“Hồi trước mấy việc chạy chân chuyển lời này ai đi thế?”
Hứa An thật thà đáp:
“Nam huynh đi chứ ai.”
Nam thở dài. Đó chính là thứ việc vặt mà hắn đang muốn cắt giảm tối đa.
Hứa An ngập ngừng một lúc rồi bảo mình quen một thiếu niên mười bảy tuổi tên là A Thạch, thạo đường sá trong thành, trước giờ chuyên nhận việc chạy vặt giao hàng và chuyển lời nhắn cho các quán ăn nhỏ.
Nửa canh giờ sau, A Thạch có mặt ở xưởng Tây Sơn.
Cậu thiếu niên có dáng người gầy gò, nước da rám nắng, đế giày vải mòn vẹt ở gót. Vừa bước qua cổng, cậu đưa mắt nhìn quanh địa hình lối đi trong sân trước khi ngó nghiêng đồ đạc.
Gặp Nam, A Thạch khoanh tay cất tiếng chào:
“Tiểu đệ chào Nam ca.”
Cách xưng hô này nghe rất tự nhiên theo lời Hứa An dặn trước về lề lối giao tiếp. Nam đưa hai mẩu giấy, hỏi cậu có biết xưởng rèn Lão Tề và cửa hàng gỗ Phùng Ký nằm ở đâu không.
A Thạch gật đầu lia lịa, chỉ tay ra hướng cổng vạch luôn lộ trình đi thẳng tới xưởng rèn trước rồi rẽ tắt sang tiệm gỗ để đỡ tốn một đoạn đường vòng. Cậu đọc lại yêu cầu rành rọt bằng miệng rằng thư của Ciel phải trao tận tay Lão Tề, còn bên tiệm gỗ chỉ hỏi giá phôi và tiền công chở xe chứ tuyệt đối không được tự ý đặt cọc tiền giữ hàng.
Nam rút tiền công trả một chuyến rưỡi vì hai điểm đến nằm cùng một tuyến đường.
A Thạch cầm tiền cười toe toét:
“Hứa huynh nói chuẩn thật, Nam ca tính toán tiền nong kỹ ghê.”
Hứa An ngồi bên bàn lập tức cúi gằm mặt xuống cuốn sổ, vờ như mình chưa từng nói câu đó bao giờ.
A Thạch hoàn thành việc và quay về xưởng sớm hơn dự tính của Nam, mang về đầy đủ câu trả lời của Lão Tề kèm bảng giá chi tiết của tiệm gỗ. Cậu không biết nhiều mặt chữ nên không ghi chép ra giấy, bù lại những mẩu tin ngắn thì đầu óc ghi nhớ rất chuẩn xác. Hứa An ngồi bên bàn nghe cậu đọc rồi thoăn thoắt chép lại vào sổ.
Nhìn cảnh tượng đó, Nam hiểu ngay hai đứa nhỏ này bù trừ cho nhau rất khéo. Hứa An giữ chân tiếp khách ở cổng, A Thạch lãnh phần chạy đôn chạy đáo ngoài đường mang thông tin về, chẳng ai phải chịu cảnh vừa trông bàn vừa lo chạy việc.
Nam chưa vội tuyển người làm cố định, chỉ dặn A Thạch ngày mai nếu rảnh rỗi thì cứ ghé qua, có việc phát sinh chuyến nào sẽ thanh toán sòng phẳng chuyến đó.
A Thạch gật đầu lia lịa:
“Nam ca cứ để lời nhắn lại chỗ Hứa huynh là được.”
Lượt quay Gacha thứ mười tám xuất hiện đúng vào lúc Mina đang ngồi bệt dưới sàn lọc lại đống quần áo cũ.
Đôi tất vải thô của Soma đã vá chằng vá đụp tới hai miếng ở mắt cá, phần gót chân sắp sửa thủng toác lần thứ ba. Bản thân Nam cũng chỉ còn sót lại vài đôi tất mỏng dính.
Bảng thông báo nhấp nháy báo hiệu lượt quay đã sẵn sàng. Nam bấm nút rồi bước vội về phòng ngủ, đập vào mắt hắn là bốn chiếc thùng lớn xếp ngay ngắn cạnh góc phản.
Hắn mở nắp thùng ra, toàn bộ bên trong đều là tất chân dệt bằng sợi bông. Vừa vặn hai trăm đôi tất cotton.
Món này không có giáp hộ thân tăng cường phòng ngự, bùa chú tự làm sạch bụi bẩn, cũng chẳng có trận pháp gia tốc bước chân. Đây thuần túy là những đôi tất hiện đại, chất vải dày dặn, co giãn êm ái và mềm mại hơn hẳn mớ tất vải thô mua ngoài chợ.
Mina bốc thử một đôi lên xem rồi bật cười, bảo phần thưởng lần này rơi xuống đúng lúc đến mức khó tin.
Ciel cầm một chiếc lên săm soi đường chỉ may ở mũi chân, kết luận ngắn gọn rằng đồ này dùng tốt rồi quay lại bàn làm việc.
Zero hiển nhiên không có nhu cầu mang tất vải. Nam cẩn thận hỏi lại một câu cho chắc chắn và nhận được cái lắc đầu dứt khoát của hắn. Chẳng ai trong nhà rảnh rỗi ngồi suy diễn xem món đồ này có công dụng bí mật nào dành riêng cho chiến binh cậu hay không.
Số lượng hai trăm đôi là quá lớn so với nhu cầu tức thời của năm người. Cả nhà chỉ chia nhau lấy mỗi người vài đôi dùng trước. Soma nhận năm đôi, Mina lấy năm đôi, Ciel giữ vài đôi để đi trong xưởng, Nam định bụng chỉ lấy ba đôi thì bị Mina ném thêm vào tay hai đôi nữa cho chẵn.
Hứa An được Nam gọi vào chia cho ba đôi tất mới. Cậu thiếu niên ôm mấy cuộn tất trắng tinh trong lòng bàn tay, rụt rè hỏi:
“Món này có bị trừ vào tiền lương tháng của tiểu đệ không Nam huynh?”
Nam phẩy tay:
“Trừ cái gì mà trừ, trong kho nhà này có rất nhiều.”
Hứa An nhìn hắn chằm chằm bằng ánh mắt đầy vẻ ngờ vực, dường như đang tự hỏi xem chữ “rất nhiều” thốt ra từ miệng Nam huynh có thực sự đáng tin theo tiêu chuẩn chi tiêu của hắn hay không.
A Thạch thì phản ứng khác hẳn. Vừa nhận ba đôi tất từ tay Nam, cậu liền ngồi bệt xuống bậc thềm tháo phăng một bên giày rơm rách mũi ra để xỏ thử ngay tại chỗ, khiến Mina phải lên tiếng giục cậu ra sau sân mà thử.
Một lát sau A Thạch xỏ tất mới bước ra sân, tấm tắc khen chất vải mềm mại ôm khít bàn chân. Sáng hôm sau ghé xưởng, cậu hào hứng khoe rằng hôm qua chạy bộ giao hàng cả buổi chiều mà gót chân không hề bị cọ rát như đôi tất cũ. Nam xem đó là một đợt kiểm nghiệm thực tế đạt yêu cầu.
Hai trăm đôi tất dệt kim dĩ nhiên bị cấm tiệt việc mang ra chợ bán kiếm lời. Dù số lượng gom lại thành cả đống, việc một món hàng dệt may kỳ lạ xuất hiện đều đặn ngoài sạp buôn sẽ khiến người ta bắt đầu tò mò truy lùng nguồn gốc, trong khi giá trị của mấy đôi tất vải chẳng đáng để họ rước thêm phiền toái vào thân.
Tất chân lại là thứ hao mòn rất nhanh theo thời gian, Soma đi áp tải hàng đường rừng, Mina lội bộ tới quán trà, A Thạch chạy việc khắp hang cùng ngõ hẻm. Nam quyết định coi đống thùng này là khoản tồn kho dùng dần trong nhiều năm.
Mina nhắc nhở cẩn thận kẻo ẩm mốc làm hỏng sợi vải. Bốn chiếc thùng lập tức được Soma vác vào kê cao trên các thanh gỗ trong góc khô ráo nhất của kho bắc.
Ngày hôm sau giặt thử hơn hai chục đôi đem phơi, cả hàng hiên Tây Sơn trông chẳng khác nào một quầy bán đồ dệt may kỳ lạ. A Thạch vừa chạy việc về tới cổng, ngước nhìn dây phơi liền tò mò hỏi nhà Nam ca có mở thêm nghề buôn tất hay không.
Nam đáp cụt ngủn:
“Không buôn bán gì cả, đây là hàng quê cũ gửi lên cho dùng dần.”
A Thạch ồ lên một tiếng rồi chuyển ngay sang chuyện hỏi xem có phong thư nào cần chuyển tiếp hay không. Phản ứng tự nhiên ấy khiến Nam càng thêm an tâm, người dân lao động quanh vùng này đã quen dần với việc căn xưởng Tây Sơn thỉnh thoảng lại xuất hiện vài món đồ lạ mắt, họ hiểu rằng có những chuyện không nhất thiết cần đào bới thêm.
Cách thức làm việc của Hứa An cũng có sự điều chỉnh rõ rệt trong tháng này.
Cái trò dùng ba mẩu giấy đánh dấu kẹp chung trong một cuốn sổ bắt đầu bộc lộ sự bất tiện khi lượng khách ghé xưởng ngày một đông. Cậu thiếu niên tự mình tách ra thành ba cuốn sổ mỏng riêng biệt, một cuốn chuyên ghi các chuyến áp tải hàng hoặc việc có nguy cơ nguy hiểm, một cuốn ghi nhận đồ đạc hư hỏng cần Ciel sửa chữa, cuốn thứ ba dành cho những việc lặt vặt còn lại.
Nam đi ngang qua nhìn thấy, buột miệng hỏi:
“Cậu đang lập sơ đồ tổ chức bộ máy đấy à?”
Hứa An lắc đầu:
“Tiểu đệ chia ra thế này chỉ để lúc tra cứu đỡ mất công lật tìm thôi.”
Nam hỏi tiếp sao không chia nhỏ thêm vài mục nữa cho chi tiết. Hứa An ngẩng lên đáp:
“Sau này nhiều việc phát sinh rồi hẵng chia tiếp Nam huynh ạ.”
Câu trả lời quen thuộc đến mức khiến Nam bật cười thành tiếng. Thằng nhóc này đang học rất nhanh cái thói quen thực dụng mà hắn thích nhất, việc chưa rối rắm thì chớ có bày vẽ thêm quy trình rườm rà, đến khi thực sự vướng víu mới bắt tay vào phân chia cho gọn gàng.
Sự hiện diện của A Thạch phát huy tác dụng rất tốt. Cậu nắm rõ từng ngóc ngách của Thanh Hà thành theo cái cách mà Nam chưa từng biết tới dẫu đã ở đây hơn một năm trời.
Nam chỉ nắm được đường lớn tới quán trà của Lưu chưởng quầy, lối ra chợ, vị trí xưởng rèn Lão Tề và vài con đường quen thuộc quanh khu xóm trọ cũ. Còn A Thạch thì biết rõ ngõ nào sáng sớm hay bị các xe chở rau củ làm nghẽn lối, cây cầu gỗ nào hễ gặp mưa là trơn trượt, nhà nào nuôi chó dữ hay thả rông, quán rượu nào gã chủ thầu Phùng Tứ hay ngồi la cà nếu không có mặt ở kho gỗ.
Một lần Nam đưa mảnh giấy ghi một địa chỉ tít phía nam thành, A Thạch nhìn qua liền bảo con đường Nam định đi xa gấp đôi bình thường, chỉ cần luồn qua hai con hẻm nhỏ là tới nơi ngay.
Nam ngẫm nghĩ mà thấy buồn cười. Kho dữ liệu Wikia đồ sộ trong đầu hắn có thể cung cấp tường tận tri thức về những thế giới xa xôi ở tận đẩu đâu, muốn biết con hẻm nào ở Thanh Hà thành dẫn tới đích nhanh nhất thì cậu thiếu niên mười bảy tuổi này lại hữu dụng hơn toàn bộ mớ lý thuyết ấy gộp lại.
A Thạch chưa tính là chân chạy việc cố định ở Tây Sơn. Có những ngày cậu nhận chạy hai ba chuyến, có ngày chẳng có việc gì để làm. Dù vậy cậu bắt đầu hình thành thói quen tạt qua xưởng chơi ngay cả những hôm rảnh rỗi vì đã quen thân với Hứa An.
Một buổi chiều nọ không có thư từ nào cần chuyển, A Thạch vẫn xắn tay áo ngồi thụp xuống hiên giúp Hứa An chêm lại chiếc chân bàn bị khấp khểnh.
Mina đứng bên giếng nước nhìn thấy cảnh ấy, quay sang hỏi Nam sao chưa thuê đứt cậu thiếu niên này về làm việc luôn cho rồi.
Nam bảo các đầu việc chạy chân hiện tại chưa diễn ra đều đặn mỗi ngày. Mina chỉ tay ra khoảng sân:
“Thế sao ngày nào cậu ấy cũng ghé qua phụ việc?”
Nam bảo chuyện đó là do thằng bé tự nguyện, sau đó hắn bước ra hiên nhắc nhở A Thạch rằng nếu làm thêm những công việc nặng nhọc ngoài việc chạy thư mà mất nhiều thời gian thì phải báo lại một tiếng để hắn tính thêm tiền công.
A Thạch ngẩng lên cười, gật đầu lia lịa. Hứa An ngồi bên cạnh đưa mắt nhìn Nam, vẻ mặt như thể đã đoán trước được tính nết chi li nhưng sòng phẳng của Nam từ lâu.
Khoảng thời gian cuối hạ cũng là lúc Ciel có cuộc gặp gỡ đầu tiên với Ngô Thành.
Chẳng có màn kỳ phùng địch thủ hay cao nhân đàm đạo bí pháp gì xảy ra. Ciel mang theo cuốn sổ ghi chép chứa ba câu hỏi rất cụ thể xoay quanh hướng dẫn lưu của linh khí, kết cấu của một mẫu trận văn cấp thấp và các con số đo đạc về lực phản hồi vật lý.
Ngô Thành vừa nhìn thấy cuốn sổ đã nhíu mày hỏi cô từng theo học trận pháp ở đâu. Ciel đáp thành thật rằng mình gần như chưa học qua ngày nào.
Lão thợ trận lập tức tỏ vẻ khó chịu ra mặt khi nghe cô dùng từ ngữ năng lượng một cách chung chung. Lão lớn tiếng nhắc nhở rằng linh khí trời đất không phải thứ có thể tùy tiện gộp chung với điện, Life Energy hay E-Crystal rồi coi như cùng một bản chất vận hành.
Ciel điềm đạm đáp rằng bản thân cô cũng chưa bao giờ nghĩ chúng giống nhau.
Cuộc trao đổi chuyên môn lúc ấy mới thực sự bắt đầu vào guồng.
Ngô Thành đã chỉ ra cho Ciel thấy một hiểu lầm lớn, những nét khắc trận văn mà cô tưởng giống như những đường dây dẫn điện thực chất phức tạp hơn thế nhiều. Vị trí nông sâu, hình dạng của góc nét và mối tương quan giữa nét vẽ với toàn bộ trận pháp giữ vai trò cốt lõi, quan trọng hơn nhiều so với một đường nối đơn thuần.
Ciel rời khỏi căn nhà cũ của Ngô Thành với số lượng câu trả lời ít hơn hẳn mức cô kỳ vọng ban đầu, bù lại cô đã nhìn thấu được bản thân mình đang thiếu hụt những tri thức nền tảng nào.
Nam đứng chờ ngoài đầu ngõ, thấy cô bước ra liền hỏi ngay số tiền công phải trả là bao nhiêu.
Nghe xong con số thù lao đắt đỏ mà lão thợ trận đưa ra, Nam phải hít sâu một hơi để trấn tĩnh lại. Dẫu vậy hắn vẫn gật đầu đồng ý chia đều khoản chi phí này giữa quỹ sinh hoạt chung và ngân sách nghiên cứu riêng của Ciel, bởi những hiểu biết thực tế này sẽ phục vụ cho sự an toàn lâu dài của cả xưởng Tây Sơn.
Thời tiết cuối hạ oi ả và mưa nắng thất thường khiến lịch chạy việc của A Thạch phải điều chỉnh liên tục.
Nam không trả công theo kiểu bắt người ta ngồi phơi mặt ngoài nắng gắt. Cậu thiếu niên được toàn quyền lựa chọn thời điểm xuất hành nếu thư từ không thuộc diện khẩn cấp.
Có một hôm trời trút mưa rào, A Thạch lội nước tới xưởng với ống quần bết đầy bùn đất tới tận đầu gối do bị bánh xe thồ văng trúng. Công việc của buổi chiều hôm đó là chuyển lời nhắn sang tiệm Phùng Ký và nhận một bọc linh kiện nhỏ từ xưởng rèn Lão Tề mang về.
Nam bảo có thể hoãn lại sáng mai đi cũng được, nhưng A Thạch bảo đường trục chính trong phố lát đá xanh nên lội mưa vẫn đi tốt.
Nam móc túi đưa thêm mấy đồng tiền kẽm, giục cậu tạt vào quán ven đường ăn một bát mì nóng cho ấm bụng. A Thạch xua tay bảo tiền công một chuyến đã đủ rồi. Nam nhét thẳng tiền vào túi áo cậu:
“Đây là tiền trợ cấp vì trời mưa gió, tiền công chuyến đi tính riêng.”
Cậu thiếu niên gãi đầu ngơ ngác vì chưa từng nghe thấy cái danh mục chi tiêu kỳ lạ này bao giờ, sau đó vẫn vòng tay nhận lấy.
Đến chiều muộn, A Thạch quay về xưởng với gói linh kiện khô ráo hoàn toàn nhờ được bọc ba lớp vải dầu cẩn thận, trong khi nửa người cậu sũng ướt nước mưa.
Ciel đón lấy gói đồ nghề, cất tiếng cảm ơn chân thành. Nụ cười trên môi A Thạch lúc đó rạng rỡ hơn cả lúc cậu nhận tiền công từ tay Nam.
Đến cuối tháng, sự phối hợp giữa Hứa An và A Thạch đã ăn khớp tới mức rất nhiều công việc tiếp nhận thông tin không còn cần Nam phải đứng giữa chỉ đạo nữa.
Hứa An tự nắm rõ lời nhắn nào được phép nhận, ghi chép cẩn thận lộ trình các chuyến đi, giao tiền lẻ ứng trước cho A Thạch. A Thạch hoàn thành việc ngoài phố liền quay về báo cáo lại kết quả đầy đủ.
Nam chuyển sang hình thức thanh toán tiền công định kỳ ba ngày một lần để đỡ mất công mỗi lần có người tới lại phải lúi húi lục túi đếm tiền lẻ.
Thỉnh thoảng hai đứa nhỏ lại ngồi cãi cọ xem chiến công hoàn thành một chuyến đi thuộc về người ngồi ghi chép ngoài cổng hay người chạy bộ ngoài đường. Những lúc ấy Nam chỉ cần ló đầu ra buông đúng một câu:
“Đừng có biến chuyện cãi nhau thành lý do đòi tăng tiền công đấy nhé.”
Cả hai đứa lập tức im bặt rồi nhìn nhau cười trừ.
Cũng vào những ngày cuối tháng, một vị thương nhân lớn tìm tới xưởng Tây Sơn để dò hỏi việc thuê Soma và Zero cho một chuyến áp tải hàng đi tuyến Vạn Hòa ngang qua vùng đồi Phong Lang.
Đoàn buôn lần này có quy mô lớn hơn hẳn các chuyến trước, khu vực quanh chân đồi Phong Lang dạo gần đây xuất hiện tin đồn có vài bầy thú dữ đi lạc khỏi tuyến đường quen thuộc.
Hứa An cẩn thận ghi chép lại toàn bộ thông tin vào cuốn sổ dành riêng cho các chuyến hộ tống nguy hiểm. Soma bước ra hỏi han cặn kẽ về số lượng xe thồ cùng ngày giờ xuất phát. Zero đứng cạnh bậu cửa, cất tiếng hỏi đoàn buôn có dự định hạ trại nghỉ đêm gần khu vực đồi Phong Lang hay không.
Nam không vội vàng chen ngang vào mặc cả giá tiền trước khi hai người họ cân nhắc kỹ lưỡng mức độ rủi ro. Cái địa danh Vạn Hòa từng chỉ là một dòng chữ xa xôi trên bản đồ giờ đây đã biến thành một lời đề nghị làm ăn thực tế ngay trước mắt họ.
Đêm cuối tháng, một hàng tất dệt kim mới giặt được Mina giăng kín dưới mái hiên nhà chính vì cô không tin trời đêm sẽ tạnh ráo hẳn.
Hứa An và A Thạch đều đã thu dọn đồ đạc trở về nhà từ lúc chập tối. Gian xưởng của Ciel vẫn le lói ánh đèn trắng nhỏ, Soma ngồi bên ngọn đèn dầu nghiên cứu lộ trình tuyến đường Vạn Hòa, Zero ngồi cạnh bậu cửa cẩn thận lau chùi bụi đất bám trên trang bị.
Nam bước qua khoảng sân tối mờ, cúi người nhặt lên một chiếc tất bị gió thổi rơi xuống nền đất nện.
Mina đang dọn dẹp trong gian bếp, ngó đầu ra cửa sổ nhắc:
“Đừng có để tất lung tung dưới đất đấy nhé.”
Nam treo chiếc tất lên lại sợi dây phơi:
“Tôi đang nhặt lên treo lại đây này.”
Mina lau tay vào tạp dề, buông một câu ráo hoảnh:
“Chiếc đó là của anh đấy.”
Nam hơi ngẩn người:
“Sao cô biết hay thế?”
Mina đáp lại:
“Cả nhà này có mỗi mình anh là chọn năm đôi màu xám tro đó thôi.”
Nam móc chiếc tất vào dây phơi, đứng lặng người giữa khoảng sân gió thổi mát rượi. Hắn bất chợt nghĩ rằng có lẽ một nơi chốn chỉ thực sự biến thành mái nhà khi những người sống cùng bắt đầu ghi nhớ vanh vách từng màu tất của mình.