Chương 34: Câu Hỏi Về Nòng Súng
Cơn phấn khích ban đầu lắng xuống sau vài phút, và Blavko, với bản năng của một người lính chưa bao giờ thực sự tin tưởng bất cứ điều gì tốt đẹp mà không kiểm tra kỹ lưỡng trước, cầm khẩu súng lên lần nữa, lần này với ánh mắt phân tích thay vì phấn khích.
Anh xoay nó trong tay, ngắm nghía dưới ánh đuốc, và một cảm giác kỳ lạ dần len vào đầu anh cảm giác của một người đang nhìn vào gương mặt nửa quen nửa lạ, cố ghép nối ký ức rời rạc lại với nhau.
Báng súng có màu gỗ nâu sẫm, vân gỗ chạy dọc theo đường cong quen thuộc, dài và thon hơn so với khẩu Mosin-Nagant của anh, với một đường cong nhẹ nơi tay cầm mà anh chợt nhận ra không hề xa lạ nó gợi nhớ tới hình dáng của một khẩu súng khác, một khẩu súng thuộc về phía bên kia chiến tuyến trong cuộc chiến anh đã bỏ lại, thứ vũ khí của kẻ thù mà anh từng nhìn thấy quá đủ để nhớ rõ từng đường nét dù không bao giờ tự tay cầm nó.
"Đợi đã," anh nói, giọng anh chậm lại, mắt vẫn không rời khẩu súng. "Cái này..."
"Có vấn đề gì sao?" Harmund hỏi, giọng ông lập tức căng thẳng trở lại, sợ rằng niềm vui vừa nhen nhóm sắp bị dập tắt bởi một khiếm khuyết nào đó ông chưa nhìn ra.
"Không, không phải vấn đề," Blavko trấn an, dù anh vẫn tiếp tục xoay khẩu súng, so sánh nó trong đầu với hai hình ảnh song song đang chồng lấp lên nhau trong ký ức. "Chỉ là... nó quen thuộc theo một cách kỳ lạ. Báng súng, đường cong nơi tay cầm nó không hoàn toàn giống khẩu Mosin-Nagant của tôi. Nó giống một khẩu súng khác, một khẩu tôi từng thấy nhưng chưa từng tự tay dùng."
"Súng của kẻ thù cậu?" Dren đoán, đã quen với việc Blavko thỉnh thoảng nhắc tới cuộc chiến cũ bằng những mảnh ký ức rời rạc.
"Đúng vậy," Blavko gật đầu, và bật cười khẽ, một tiếng cười pha lẫn sự châm biếm dành cho chính mình. "Ông biết không, Harmund, tôi nghĩ tôi vừa vô tình tạo ra một đứa con lai giữa hai kẻ thù không đội trời chung ở thế giới cũ của tôi. Khóa nòng và ổ đạn theo kiểu tôi quen thuộc, nhưng hình dáng tổng thể lại ngả về phía... phía bên kia."
Harmund nhún vai, không mấy bận tâm tới sự trớ trêu lịch sử ấy. "Tôi chỉ làm theo những gì cậu mô tả và những gì tay tôi thấy hợp lý khi cầm. Có lẽ bàn tay một người thợ già, dù không biết gì về cuộc chiến của cậu, vẫn tìm ra con đường riêng của nó tới cùng một đích. Kim loại không quan tâm nó thuộc về phe nào, cậu bé ạ nó chỉ quan tâm liệu hình dáng ấy có hoạt động hiệu quả hay không."
Blavko gật đầu, chấp nhận lời giải thích thực dụng ấy, nhưng câu hỏi thực sự anh muốn hỏi giờ mới bắt đầu hình thành rõ ràng trong đầu, một câu hỏi đã bị cơn phấn khích của phát bắn thành công che lấp mất vài phút trước.
"Ông tìm đâu ra chỗ để đúc khóa nòng và nòng súng vậy?" anh hỏi, giọng anh giờ đây trở lại với sự nghiêm túc của một người đang thực sự cố hiểu quy trình sản xuất, không chỉ ngưỡng mộ kết quả cuối cùng. "Đây không phải thứ có thể gò bằng búa trên một cái đe thông thường. Nòng súng cần độ chính xác cực cao đường kính đồng đều từ đầu tới cuối, không có khuyết tật bên trong có thể khiến nó nổ tung khi chịu áp lực. Khóa nòng trượt cần dung sai đủ nhỏ để khít với ổ đạn mà không kẹt. Cái lò nung cũ kỹ này," anh chỉ về phía lò rèn đang âm ỉ cháy, "làm sao đủ để tạo ra độ chính xác đó?"
Harmund im lặng một lúc, và trên gương mặt ông, nụ cười tự hào trước đó dần chuyển thành một biểu cảm phức tạp hơn nửa hài lòng vì được hỏi đúng câu hỏi kỹ thuật, nửa có phần ngượng ngùng như một người sắp phải thú nhận một bí mật nghề nghiệp không mấy vẻ vang.
"Cậu quan sát tinh tường đấy," ông nói, "và câu trả lời sẽ khiến cậu vừa ấn tượng vừa thất vọng cùng lúc." Ông bước tới góc xưởng, kéo ra một tấm vải phủ lên thứ gì đó, để lộ một cỗ máy nhỏ, cấu tạo phức tạp hơn nhiều so với những gì Blavko từng thấy trong xưởng một khung sắt với những trục quay, dây curoa nối tới một bàn đạp, và ở giữa, một mũi khoan bằng thép cứng.
"Tôi không đúc nòng súng bằng cách rót kim loại nóng chảy vào khuôn như cậu có lẽ đang tưởng tượng," Harmund giải thích. "Tôi lấy những đoạn ống thép đặc loại thép tốt nhất tôi có thể moi ra từ đống phế liệu trong kho vũ khí cổ, sau khi nung chảy và tái rèn để loại bỏ tạp chất rồi dùng cái này để khoan xuyên qua chính giữa, từng chút một, cực kỳ chậm rãi, làm mát liên tục để tránh nứt kim loại."
"Cỗ máy này ông tìm ở đâu?" Blavko hỏi, nhìn cấu trúc cơ khí với sự tò mò mới.
"Tôi không tìm nó ở đâu cả," Harmund đáp, và lần này, một nụ cười ranh mãnh xuất hiện trên môi ông. "Tôi tự làm nó, từ những bộ phận cơ khí tôi tìm thấy rải rác khắp thành phố ngầm này bánh răng từ những cỗ máy dệt đã mục nát, trục quay từ một cái máy nghiền đá bỏ hoang. Tổ tiên chúng ta hóa ra, để lại nhiều thứ hữu ích hơn chỉ là vũ khí và bản vẽ. Họ để lại cả những mảnh vụn công nghệ mà, khi ghép đúng cách, vẫn còn giá trị bốn trăm năm sau."
Blavko nhìn cỗ máy khoan tự chế ấy với một sự tôn trọng mới, nhận ra đây chính xác là loại tài năng thực dụng mà không một bản vẽ lý thuyết nào có thể thay thế khả năng nhìn ra tiềm năng ẩn giấu trong đống phế liệu, biến rác thải của một nền văn minh đã chết thành công cụ sống cho một nền văn minh đang cố hồi sinh.
"Vấn đề là," Harmund tiếp tục, giọng ông trở lại với sự thực dụng thường thấy, "cỗ máy này chậm. Rất chậm. Khoan một nòng súng đủ độ chính xác mất tôi gần một tuần làm việc liên tục, không kể thời gian mài giũa và kiểm tra sau đó. Với tốc độ này, chúng ta không thể trang bị cho một trăm người trong vòng một năm, chứ đừng nói tới nhanh hơn."
"Vậy chúng ta cần nhiều máy hơn," Blavko nói, đầu óc anh đã bắt đầu chuyển sang chế độ giải quyết vấn đề. "Và nhiều đôi tay biết vận hành chúng hơn."
"Chính xác," Harmund gật đầu, "và đó là cậu, chàng trai trẻ ạ, là lý do vì sao tôi mừng khi thấy cậu mang về cả một đoàn người, thay vì chỉ hai bàn tay như trước. Một khẩu súng chứng minh được ý tưởng khả thi. Nhưng biến nó thành một đội quân đó là bài toán về quy mô sản xuất, không phải chỉ về thiết kế nữa."
Nyra, đang ngồi ở góc xưởng ghi chép lại toàn bộ cuộc trò chuyện mà không ai yêu cầu, đột nhiên lên tiếng, không ngẩng đầu lên khỏi mẩu giấy của mình. "Nếu ông cho tôi biết chính xác cỗ máy này khoan được bao nhiêu milimet mỗi giờ, và chúng ta có bao nhiêu ống thép phế liệu khả dụng trong kho, tôi có thể tính ra chính xác mất bao lâu để trang bị cho từng mốc số lượng người, mười, năm mươi, một trăm."
Harmund nhìn cô bé, rồi nhìn Blavko, một bên mày nhướn lên đầy ngạc nhiên. "Cô bé này có thực sự làm được điều đó, hay chỉ đang khoác lác để gây ấn tượng?"
"Ông cứ thử mà xem," Blavko đáp, không giấu được nụ cười. "Tôi đã học được cách đừng bao giờ đánh giá thấp Nyra."
Và trong khi Harmund bắt đầu đọc ra những con số đo đạc của mình, Nyra cắm cúi tính toán với tốc độ khiến cả ông thợ già lẫn Dren phải im lặng quan sát trong kinh ngạc, Blavko đứng lùi lại một bước, nhìn khẩu súng nguyên mẫu vẫn còn nằm trên bàn đá giờ đây đang chờ đợi để trở thành thứ gì đó lớn hơn nhiều so với chỉ một phát minh đơn lẻ.