Chương 31: Một Đội Quân Kỳ Lạ
Về tới Kessvar, ngôi làng nhỏ vẫn còn nguyên vẹn như một bức tranh không hề bị thời gian chạm tới cùng những mái nhà quen thuộc, cùng mùi khói bếp, cùng tiếng gà gáy buổi sớm, nhưng với Blavko, sau bốn tháng sống giữa những tính toán lý thuyết, những khẩu súng, và những câu chuyện về bầu trời bị đánh cắp, nơi này giờ đây mang một vẻ đẹp mong manh mà anh chưa từng trân trọng đủ mức trước kia.
Cuộc đoàn tụ với Marek và Yolla diễn ra đúng như Blavko mong đợi nước mắt của Yolla, cái ôm chặt của Marek, và Sella, giờ đã cao hơn hẳn so với hình ảnh anh nhớ, lao tới ôm lấy cả hai người với tiếng la hét vui sướng đủ để đánh thức nửa ngôi làng. Nhưng sau những giây phút cảm động ban đầu ấy, cả hai người trẻ tuổi nhanh chóng trở lại với công việc thực sự đã đưa họ về đây dù công việc ấy được ngụy trang khéo léo dưới vỏ bọc của việc thăm nhà và giúp đỡ mùa vụ.
Dren, với sự am hiểu về từng ngóc ngách của làng mình mà không một người ngoài nào có thể sánh được, đảm nhận phần lớn công việc "tuyển mộ" trong khi Blavko giả vờ bận rộn với đồng áng để không gây chú ý quá mức. Và sau hai tuần lê la khắp làng, ghé qua từng nhà dưới danh nghĩa hỏi thăm, uống rượu, tán gẫu, Dren cuối cùng cũng dẫn về một nhóm người mà, khi Blavko lần đầu nhìn thấy tất cả tụ họp lại một chỗ trong chuồng gia súc quen thuộc vào một đêm không trăng, anh không khỏi tự hỏi liệu mình đang chiêu mộ một đội quân cách mạng hay đang tình cờ lập ra một gánh xiếc lưu động.
"Đây," Dren nói, giọng đầy tự hào không giấu giếm, "là những gì tôi tìm được."
Người đầu tiên bước ra là một cặp song sinh, giống nhau tới mức Blavko phải nhìn kỹ hai lần mới nhận ra không phải mắt mình đang chơi khăm. Cả hai có cùng một kiểu cười nhếch mép, cùng ánh mắt sắc lẻm quan sát mọi ngóc ngách của căn chuồng gia súc trước khi chịu ngồi xuống, và cùng thói quen hoàn thành câu nói của nhau tới mức khiến người nghe không khỏi thấy rợn người.
"Tôi là Kessa," người bên trái nói.
"Tôi là Vessa," người bên phải tiếp lời.
"Và nếu anh hỏi ai là ai," cả hai nói cùng lúc, hoàn toàn đồng bộ, "chúng tôi cũng sẽ không nói cho anh biết đâu."
Blavko nhìn hai chị em, rồi nhìn Dren, ánh mắt anh không giấu được sự hoài nghi. "Họ làm gì?"
"Họ có thể nghe lỏm được cuộc trò chuyện của ba người khác nhau cùng lúc trong ba căn phòng khác nhau và kể lại chính xác từng từ," Dren giải thích, giọng anh vẫn đầy hào hứng. "Họ từng trốn khỏi nhà cả tuần liền hồi nhỏ mà không ai trong làng tìm ra, kể cả cha mẹ họ. Và một lần, họ đã đổi chỗ cho nhau suốt cả một mùa để trêu chọc gia sư dạy chữ, người này không hề nhận ra trong ba tháng liền."
"Tình báo bẩm sinh," Blavko lẩm bẩm, phải thừa nhận rằng, dù kỳ quặc, kỹ năng ấy không hề vô dụng.
Người tiếp theo bước ra là một cô gái trẻ, có lẽ chỉ mười lăm, mười sáu tuổi, ăn mặc lôi thôi theo kiểu cố tình bắt chước đám thanh niên du côn hay lảng vảng ngoài chợ, nhưng đôi mắt cô lại sáng lên một sự tinh anh không hề khớp với vẻ ngoài bất cần ấy.
"Đây là Nyra," Dren giới thiệu. "Con gái ông thầy dạy chữ cũ của làng. Học hết mọi thứ ông ấy có thể dạy trước năm mười hai tuổi, rồi chán nản vì chẳng còn gì để học, nên bắt đầu đi theo đám bạn du côn cho vui, dù trên thực tế cô ấy vẫn thông minh hơn cả bọn chúng cộng lại."
"Chào," Nyra nói, giọng cô cộc lốc nhưng không hề thù địch. "Dren nói các anh cần người tính toán nhanh. Anh cứ đưa ra bất cứ con số nào, tôi sẽ cho anh đáp án trước khi anh kịp đếm tới ba."
Blavko thử ngay, đưa ra một phép tính phức tạp về số lượng than cần thiết để duy trì lò nung trong một tuần dựa trên tỉ lệ tiêu hao anh và Harmund đã ước tính. Nyra nhắm mắt lại đúng hai giây, rồi đưa ra con số chính xác, kèm theo một câu bình luận sắc bén về việc tỉ lệ tiêu hao ấy có vẻ hơi lạc quan so với thực tế của một lò nung cũ kỹ.
"Cô bé là một cỗ máy tính di động khoác lớp áo côn đồ," Blavko nói, không giấu được sự ấn tượng.
"Chính xác là những gì tôi đã nói với anh," Dren cười toe toét, rồi ra hiệu cho những người còn lại, bốn thanh niên lực lưỡng, cơ bắp cuồn cuộn từ nhiều năm lao động chân tay, mỗi người mang một biệt danh nghe ngộ nghĩnh hơn cái trước, và một khiếu hài hước dường như không bao giờ cạn, liên tục chọc ghẹo nhau bằng những câu đùa thô thiển ngay cả trong bối cảnh nghiêm trọng như buổi họp mặt bí mật này.
"Bọn họ thì sao?" Blavko hỏi, nhìn bốn thanh niên đang thi nhau kể chuyện tiếu lâm để chọc cười Sella, người đã lén theo Dren tới đây và giờ đang cười khúc khích không kiểm soát nổi ở góc chuồng.
"Đừng để vẻ ngoài đánh lừa anh," Dren nói, hạ giọng. "Groff kia," anh chỉ vào người cao lớn nhất trong nhóm, "có thể vác một bao lúa mì nặng gấp đôi trọng lượng cơ thể anh ta đi cả dặm đường không nghỉ. Người bên cạnh, Tuck, từng là học việc của thợ mộc trước khi bỏ nghề vì chán, nhưng tay nghề vẫn còn nguyên, anh ta có thể dựng một khung nhà chỉ bằng mắt ước lượng mà không cần thước đo. Hai người còn lại từng làm phu khuân vác ở bến thuyền một mùa, quen với việc di chuyển vật nặng nhanh và lặng lẽ."
Blavko nhìn cả nhóm một lượt hai chị em song sinh với nụ cười tinh quái đồng bộ tới rợn người, cô gái trẻ có vẻ ngoài du côn nhưng đầu óc sắc bén như dao cạo, và bốn gã trai lực lưỡng không ngừng đùa cợt như thể cả thế giới chỉ là một sân khấu hài kịch bất tận và không thể không bật cười, dù trong lòng anh cũng thấy rõ tiềm năng thực sự ẩn sau lớp vỏ kỳ quặc ấy.
"Anh chắc chắn đây không phải một trò đùa của cả làng dành cho tôi chứ?" anh hỏi Dren, nửa đùa nửa thật.
"Tôi thề trên mộ ông nội tôi," Dren đáp, cố giữ vẻ nghiêm túc dù khóe miệng anh vẫn còn cong lên. "Mỗi người trong số họ đều có lý do riêng để căm ghét những gì Huyết Tộc đã làm với gia đình mình, Groff mất một người anh trong đợt trưng binh năm ngoái, hai chị em song sinh từng chứng kiến cha mẹ họ bị phạt nặng vì một khoản thuế tính sai vạ lây, Nyra thì..." anh ngập ngừng một chút, "cha cô ấy, ông thầy dạy chữ, từng bị cấm dạy một số môn 'nhạy cảm' và bị giám sát chặt chẽ suốt nhiều năm chỉ vì dám dạy học sinh đọc quá nhiều thứ ngoài giáo trình chính thức."
Blavko im lặng một lúc, nhìn lại cả nhóm với con mắt khác đi không còn chỉ là một tập hợp kỳ quặc của những kỹ năng ngẫu nhiên, mà là những con người, mỗi người mang một vết thương riêng, một lý do riêng để đứng ở đây, trong bóng tối của một chuồng gia súc, sẵn sàng lắng nghe một kế hoạch có thể khiến họ mất mạng.
"Được rồi," anh nói cuối cùng, giọng anh giờ đây nghiêm túc hơn hẳn khoảnh khắc trước đó. "Chào mừng tất cả các bạn. Tôi sẽ không hứa hẹn điều gì dễ dàng, và tôi sẽ không giả vờ rằng đây không phải là con đường nguy hiểm. Nhưng nếu các bạn thực sự sẵn sàng, tôi nghĩ chúng ta vừa có được nhiều hơn những gì tôi từng dám hy vọng khi rời khỏi Verholt."
Kessa và Vessa nhìn nhau, rồi đồng thanh nói, với một sự nghiêm túc bất ngờ thay thế hoàn toàn cho vẻ tinh quái trước đó: "Chúng tôi đã chờ đợi ai đó nói điều này từ rất lâu rồi."
Và trong ánh đèn dầu leo lét của chuồng gia súc, giữa mùi cỏ khô và hơi ấm của đàn gia súc, một đội quân kỳ lạ nhất mà bất cứ cuộc cách mạng nào từng có nửa hài hước, nửa chết người nghiêm túc, hoàn toàn không giống bất cứ hình dung nào về những chiến binh cách mạng oai hùng chính thức bắt đầu hình thành.