Lúc Lâm Nam mở đầu cuộc chống cự thế lực Hậu Sở thì ở các đạo khác thuộc Trung Nguyên cũng vô cùng loạn lạc, khó lường. Dù kể từ biến loạn họ ngoại phản lại ấu chúa đã hơn mười bốn năm và cùng với sự xâm lấn của nước Rơ thì các tiểu vương của các đạo vẫn không ngừng đem quân đánh các nơi, tương tàn lẫn nhau không dứt một ngày nào.
Sóc Bắc sau gần 8 năm đã đổi tên thành Sóc trại dưới sự cai trị của Hát Nhị Đồ - em của Hát Nhị Tâm, cũng như cho tên bản địa là Hồng Diêm làm quản lý với bè lũ quan lại cũ của Sóc Bắc (nhận chức Thừa lệnh Sóc trại), là hình thức dùng người Sóc trị người Sóc vậy. Hơn hai vạn tù binh sau trận Lan Bông bị nô dịch dưới các đồn điền trồng kê, nuôi ngựa của bọn Rợ Bắc một cách bóc lột và tàn bạo: kẻ nào có ý định trốn khỏi các đồn điền ấy đều bị đánh roi, bỏ đói vài ngày, khổ sai nhiều hơn. Thậm chí có kẻ nhiều cố gắng đào tẩu cho nên bọn tay sai cho là có ý phản kháng chống đối khuôn phép, để bị đưa tới đền thờ hắc ma mà đem hiến tế cho các Đại Quỷ Đế.
Tôn giáo của bọn Rợ Bắc cho rằng con người là loài yếu đuối, nhu nhược so với các thú khác nhưng bởi có trí tuệ của Thánh Đế (tức là Đại Quỷ Đế của mọi Quỷ Đế) nhân đức cho nên để duy trì sự sống cho toàn nhóm con người còn lại và duy trì sự phát triển, một số phải tự hiến mình cho Thánh Đế cho mưa thuận gió hòa, không bị lũ sâu cát quấy phá[1]. Ấy là nguồn gốc của Tà ma giáo mà đa phần nhân loại đi theo ban đầu, chỉ sau này một số người được chính các thần của Trời sai xuống giác ngộ cái hư hỏng của “Thánh Đế” mà liên kết với tinh linh chống lại sự hoang tưởng của việc liên tục hiến tế người. Chỉ còn bọn Rợ Bắc đi theo, bởi phần đất của chúng khô cằn hơn các nơi khác ở Lục Địa, phần nữa vì quá gần cứ địa của “Thánh Đế” cho nên bất cứ ai phản đều sẽ bị diệt tộc và nô dịch nhanh chóng.
Các tà sư của người Rơ đi tới Sóc trại, chúng rao giảng cho dân bản địa rằng chỉ có hiến con mình cho “Thánh Đế” vào than hồng thì “mới có đời đời ấm no, không bao giờ thiếu thốn”. Nhiều người nghe được bèn đưa con đầu lòng của mình tới các đền thờ mà để các tà sư dâng hiến cho “Thánh Đế”, đốt con mình ở tháp cao, một số còn tự hào rằng:” Mong các đại thần linh từ cõi trên phù hộ cho nhà chúng tôi không bao giờ phải lo ăn thiếu mặc nữa, mong cái chết của con đầu lòng chúng tôi sẽ hài lòng các vị!”, điều dân các nơi khác ở Trung Nguyên, Thiên Trúc và Nam Hải khó chấp nhận nổi.
“Các ngươi hãy hiến con đầu lòng và các con tiếp theo do chính các ngươi tạo ra, dâng lại cho Thánh Đế. Ngài ấy sẽ ban cho mọi thứ các ngươi hằng mong muốn!” – một tên tà sư đã hô lên trước sảnh đền thờ giữa đám dân muốn dâng con đầu lòng của mình cho các thế lực tà ma.
Chính Hát Nhị Đồ cũng đích thân tham dự các cuộc hiến tế tập thể tà ác này, hắn dùng chỉ dụ miễn thuế thân và thuế điền mười năm cho những ai đã hiến tế con mình hơn ba lần, càng làm cho tà tục ấy lan rộng trong dân gian. Điều đó không phải vì lòng tốt mà tính toán cho sự bám rễ của tà ác lâu dài ở đất Sóc trại, càng nhiều sinh linh được lên bàn lửa thì càng giúp ám khí tà ác mạnh lên, sinh ra lực hắc ma có thể tích tụ đủ lâu làm cho vùng đất ấy đời đời phục tùng thuộc hạ của các Đại Quỷ Đế.
“Trong 50 năm nữa, toàn Trung Nguyên quay trở về với Thánh Đế lần nữa! Thiên hạ sẽ quay trở lại với những người đi theo con đầu lòng của Trời!” – Hát Nhị Đồ đã nói như vậy ở một lễ tà ác dâng hiến linh hồn.
Cùng lúc đó ở nước Cô, đại vương Diên Xương đã tròn 20 tuổi, đã đủ để toàn quyền quản hết mọi việc. Diên Xương đã cố gắng tạo nên liên minh với nước Trương và Loan Đông, chấp nhận sự độc lập của họ để dồn sức đánh đuổi người Rơ. Ngài cũng nghe theo kế của Lê Trắc mà bí mật hỗ trợ hào tộc Tiền Dư ở nước Hậu Sở nổi loạn, lập nên nước Ôn Ngu ở hai châu Ôn, Ngu thuộc đạo Hồ Nam khiến cho Hạng Danh phải cử binh đi đánh dẹp cực nhọc. Đại vương nước Cô cũng phong Lê Uýnh làm Đô đạo chi chủ của Lâm Nam sau khi Khúc Thừa Lan qua đời, nhờ vào thế lực ở Lâm Nam cầm chân quân Hậu Sở.
Lê Trắc bẩm với Diên Xương về việc muốn tới biên cương gặp An Tây Đại Tướng Quân (tức Vũ Kiến Cát) rằng:
” Thưa bệ hạ, thần xin bệ hạ cho phép thần tự thân này đi tới gặp An Tây Đại Tướng Quân để bàn về trị dân Sóc Bắc sau khi được cứu rỗi khỏi bọn Rợ Bắc. Đây là một việc vô cùng hệ trọng tới an nguy xã tắc và sự trị vì anh minh của bệ hạ!”
Diên Xương cười nhẹ rồi nói:
” Khanh cứ làm lấy việc khanh cần làm, trẫm biết khanh sẽ không phụ lòng trẫm”
“Xin đội ơn đức rộng của bệ hạ, thần xin cáo lui!” – Lê Trắc hành lễ rồi một mạch về dinh, chuẩn bị ngựa đi cùng với các vị chân tu – vốn là bằng hữu của Lê Trắc đi cùng khi ngao du gặp gỡ khắp nơi.
Họ hành tốc trong đêm vượt sông, băng rừng mà cánh rừng có dính một chút tuyết ở trong đêm mà tiết trời khiến cả da thịt khó lòng ấm nổi, chỉ muốn uống vài ngụm trà nóng ở trong nhà. Tới hơn ba tuần thì bọn Lê Trắc mới tới đạo Hà Đông từ Chánh Đô, là nơi biên giới với đạo Sóc Bắc cũ mà gặp lấy Vũ Kiến Cát.
Ở đó quân của An Tây Đại Tướng Quân ngày đêm tập luyện không ngừng nghỉ, mỗi người lính được rèn rủa với mọi loại binh khí mà Đại Cô có thể biết tới. Tất cả bọn họ trải qua sự đào tạo ấy ở đồn Võ Cát, gần với sông Đại Cát giáp ranh với Sóc trại, ai cũng mong mỏi dùng sức mình để lấy lại đạo cũ bị mất từ tay Rợ Bắc.
Vào một ngày rét lạnh của khí trời mùa đông sắp đến, khi mà cành cây thông sắp rụng hết nhường lại cho sự khô hàn đầy tuyết của Hà Đông khắc khổ thì Lê Trắc tự mình cưỡi ngựa chạy đến từ Chánh Đô tới biên thủy chiến loạn phía Bắc mà muốn gặp Vũ Kiến Cát để bàn quốc sự và việc liên quan tới chinh chiến vì ông biết vị tướng quốc an này sẽ dốc toàn lực cả nước chiếm lại đạo Sóc Bắc.
Khi Lê Trắc tới cổng trại bát doanh thì ông đưa cho tên lính gác kim bài bằng đồng khắc tên “Quốc Bảo Kim – Lê Trắc” thì tên đó nói rằng:” Mời quý ngài hãy nghỉ ở trong trại!”
Lê Trắc tiến vào trong bản doanh gặp Vũ Kiến Cát, ông đã mừng gặp người thân quen ở ngoài biên cương mà đáp lễ rằng:
” Lại chi bộ Binh xin kính diện kiến vị đại tướng An Tây chi chủ bình phạt nghịch tặc nước Rơ!”
“Miễn lễ thân hữu của ta, nay huynh đã nhiều phần có được phong thái của một người Trung Nguyên tận trung với nhà vua, với nước hơn rồi!” – Vũ Kiến Cát chấp tay mà cười nhẹ nhận lễ -“ Giờ huynh cực nhọc, khó khăn lặn lội đường xa có việc gì muốn bàn nghị sự với ta vậy? Phải chăng huynh vấn đáp về việc quân triều đình phát quân thảo phạt, giành lại đạo cũ Sóc Bắc, trấn an dân chúng không?”
“Còn hơn thế nữa thưa đại tướng quân, tôi tới đây ngoài bàn về cách đánh địch thì còn có sách an dân cư đạo ấy nữa” – Lê Uýnh liền ngồi xuống rồi đáp lại với Kiến Cát.
“Huynh cứ việc tiếp lời cho ta nghe về các sách ấy đi, chẳng cần ngại ngùng gì hết cả! Huynh cũng biết rằng cống hiến mà huynh giúp lấy triều ta không hề nhỏ, khiến cho Hạng Danh phải thu binh không xâm phạm sang sông Chanh, tám phần là ơn của huynh giúp lấy chúng ta” – Vũ Kiến Cát xoa tay với ánh mắt thoải mái, không nghiêm nghị.
“Vậy thì tôi sẽ không bàn tới trận pháp và bày bố binh của đại tướng mà chỉ bàn về sách an cho dân Sóc Bắc: tức là cử những người chân tu, hiểu lý đạo về Trời tới các làng xóm sau khi cứu lấy các dân ấy khỏi bọn nghịch Trời Rợ Bắc. Họ đã lâu ngày xa triều đình sẽ bị cám dỗ bởi tà thuật của bọn thờ Đại Quỷ Đế, nếu để lâu ngày không giành lại e là họ sẽ thờ cái ác như thờ cha mẹ họ vậy, quên đi mình chính là con dân Trung Nguyên từng có tổ tiên đổ xương máu để giành tự do năm xưa. Đó là những gì tôi mạo muội gửi gắm tới đại tướng, vì việc đấy cũng nên được xem trọng như việc chinh phạt mà yên dân, trị quốc!” – Lê Trắc trả lời sách lược lâu dài, nó thực sự thiết yếu bởi việc giữ đất cũng không kém gì việc thu hồi lại đất vậy.
Vũ Kiến Cát vừa vuốt hàm râu trắng dài tới vai, vừa ngẫm nghĩ một hồi lâu rồi đáp:
” Xưa nay ta từng chinh chiến nhiều nơi, thu hồi các đạo về cho triều đình mà chỉ dùng binh tướng tới để ổn định dân tâm. Ta ít khi dám nghĩ tới việc dùng các bậc chân tu tới chấn tỉnh sự u mê, lầm lạc bách dân” – rồi ông thở dài, hàm môi không vui không buồn –“ Nhưng quả thật Sóc Bắc đã bị chính bọn Rợ Bắc chiếm lấy thì ta khó có thể hiểu được những gì bọn chúng đang làm nhằm hủy hoại cốt khí người của dân ta. Hiện giờ lời khuyên của huynh ta nhận lấy, mong huynh sẽ tạm đương nhận lấy chức Ty giám Bắc Địa, xử lý công vụ dân sự ở các nơi thuộc đạo Sóc Bắc sau khi thu hồi những chỗ ấy”
“Hạ quan xin lĩnh mệnh, sự tín nhiệm của đại tướng, mong được phụng sự triều đình hết lòng, hết sức mà hạ quan có thể làm!” – Lê Trắc cúi đầu cảm tạ trước mặt Vũ Kiến Cát đã tin tưởng mình.
“Chẳng cần huynh tạ lễ tới mức vậy chứ? Bình thân, bình thân!” – Vũ Kiến Cát sau đó ngồi dậy, tự mình đứng lên chỉ về hướng Bắc hô rằng –“ Thu phục Sóc Bắc, chấn uy lũ Rơ, hồi lại dân hồng, nội trong một năm là xong!”
Đầu tháng giêng của năm 1917, tức là năm thứ 21 của đời Diên Xương thì quân của hai đạo Lũng Tây và Hà Đông (quân Bát doanh) đồng loạt vượt qua sông Đại Cát vốn đã bị đóng băng vào đông cũng như băng trèo dãy Lũng mà nhập vào đạo Sóc Bắc cũ. Địch quân bất ngờ bởi tự ngạo rằng quân Đại Cô sẽ không dám liều mạng tấn công trong lúc trời còn rét, vả lại trái mùa thu kê để tích lương (nhưng thực tế Vũ Kiến Cát được Trọng Hưng đưa ra kế sách ủ dưa muối và làm bánh nướng sẵn để tiện cầm lương đánh giặc, nên Bát doanh sẽ chịu đựng được trong 3 tháng).
Địch Trình Thương – chỉ huy của Tam Đại Doanh đem quân từ Lũng Tây tấn công quân Rơ ở dãy Lũng ở phía Tây Sóc trại. Bọn họ dùng kế đêm cho tinh binh trèo qua phía sau ải Kiến Lĩnh mà cắt đường tiếp lương của địch. Trình Thương nhìn ải cao hơn 300 trượng trước tầm mắt, miệng nhép lên mà nói:” Lâu rồi quân ta chưa đánh lũ nước Rơ, giờ đây đã có dịp. Chúng tự khắc sẽ hàng thôi!”
Tới ngày 10 tháng giêng thì địch ở trong đồn ải tự bỏ khí giới mà hàng, hơn 200 tên người Rơ và 800 tên Sóc gian bị bắt làm tù binh. Địch Trình Thương không nghỉ ngơi, ông nói:
” Giờ chín muồi thì phải nắm lấy, ai muốn theo ta thì tự lấy ngựa cùng thương, giáo, cung mà theo ta cứu lấy dân chúng!”
Vị Tam Đại Doanh tướng quân dẫn theo hai ngàn tinh kỵ - họ được mặc giáp huyền đen pha đỏ, đặc trưng riêng của quân ở đạo Lũng Tây, mà liên tục không ăn không ngủ đánh giặc. Bọn họ hành tốc mà đốt các trại của Sóc gian dọc đường, giải phóng hơn 30 làng mạc trong 15 ngày. Khi thấy đoàn binh giáp huyền khí thế uy dũng thì dân chúng xung quanh hô lên:
” Đại quân triều đình cứu dân ta! Đại vương vạn tuế, vạn tuế!”
Khi tới ngày 27 thì đội kỵ Lũng Tây chạm trán với tên Sóc gian là Tổng Quỳ với hơn ba ngàn kỵ hỗn hợp giữa quân bản địa và Rợ Bắc ở bãi Phú Lương – cách thành Du Mễ hơn 120 dặm về phía Tây Bắc.
Tên Tổng Quỳ hét lớn rằng:
” Mau rút khỏi đất Sóc trại đi, tên hôn tặc Lũng Tây. Tổng Quỳ ta đây còn nể tình tha cho, bằng không chúng bây tưới máu cho kỵ quân của ta!”
“Ta chinh chiến 15 năm nay rồi, há chi mà phải sợ tiểu tốt vô danh, phản chủ bội quốc như nhà ngươi đây chứ?” – Địch Trình Thương trợn mặt đỏ giận dữ như vị thiên lôi muốn trừng phạt kẻ ác ôn –“ Mau hãy cầm quân ra trận mà nghênh một trận anh tài này!”
“Hừ, ngươi sẽ chết!” – Tổng Quỳ quát lớn, lệnh cho quân hắn cưỡi ngựa cầm thương tiến lên.
“Kỵ ta chưa bao giờ thua trước bất kỳ ai cả!” – vị Tam Đại Doanh tướng quân nói trước toàn kỵ quân với giọng hào khí –“ Tên tiểu nghịch trước mặt chúng ta nói ra một lời bất trung với triều ta, với bá tánh của ta! Bọn chúng phải chết đền mạng!”
Kỵ quân của Lũng Tây đều vang to rằng:
” Đền mạng cho triều ta! Đền mạng cho triều ta! Bọn chúng phải đền mạng cho triều ta!”
Liền đó hai ngàn thiết kỵ của Tam Đại Doanh dùng nhị trường mao mũi đinh, mũi cong mà thẳng tiến xông lên, với đội hình kim mũi đột phá phương địch. Khí thế của từng kỵ sĩ đều toát một vẻ sát khí nặng nề, người ngựa di chuyển đồng đều theo gió tuyết, tay cầm nhị trường mao đủ chặt để đâm từng tên một. Khi tới sát gần mà thấy mắt quân thù thì dốc hết tốc độ để giết chết địch, lũ kỵ của Tổng Quỳ không kịp trở tay mà bị đâm xuyên qua giáp tấm đồng.
“Aaaaa…cứu ta” – một tên kỵ người Sóc kêu la trong thảm thiết khi bị đâm vào bụng.
“Cho nhà ngươi chết!” – kỵ sĩ Lũng Tây hét lên rồi đưa tên kỵ Sóc trại lên cao, đẩy hắn xuống đất mà mặt không chuyển sắc.
“Sao…sao quân ta yếu tới cỡ vậy chứ?” – Tổng Quỳ vừa nói vừa cố gắng đỡ thương của một kỵ sĩ đối phương.
“Ha ha ha, ngươi tưởng quân ta sinh ra từ cỏ rác hay sao?” – Địch Trường Thương đáp lại –“ Bản tướng cùng quân đây từng nhiều năm chinh chiến ở Lĩnh Đông, Lâm Bắc, Thục, Hậu Sở, Hải Tây và cả cướp biển Hồng Qua. Không nơi nào mà tụi ta chưa từng chinh chiến qua”, rồi liền chạy tới Tổng Quỳ mà nghênh chiến.
Tổng Quỳ cố gắng đỡ vài đòn thương của Địch Trường Thương nhưng vốn không chống lại vị mãnh tướng giáp đen mình phủ tuyết trắng này nên hắn liền thúc ngựa chạy trốn. Hắn vừa chạy vừa nói:
” Lần sau gặp lại vậy!”
“Ngươi tưởng có thể trốn chạy dễ dàng vậy sao? Haha, chỉ là chim chờ chết thôi!” – Nói xong, vị Tam Đại Doanh tướng quân lấy nỏ sau lưng ra ngắm kỹ giữa đồng cỏ tới bóng dáng xa mà bắn một phát chí mạng sau gáy kẻ trốn chạy.
Tổng Quỳ la một tiếng “Aaaa…” trong đau đớn rồi ngã quỵ xuống đất vàng đầy tuyết, Trình Thương thúc ngựa chạy tới thân thể bất động của tướng kỵ Sóc gian này.
“Giờ là lúc ngươi phải đền mạng cho những oan hồn mà ngươi cùng bọn tà ác đã hiến tế!” – Trình Thương quát to rồi cầm thương chém lấy đầu Tổng Quỳ dù hắn van xin thảm thiết tha mạng. Quân địch thấy vậy thì kẻ trốn chạy khỏi chiến trận nhưng vẫn bị giết, kẻ thì van xin đầu hàng thị bị đánh gục xuống đất mà dẫn giải làm tù binh. Hơn 1 ngàn 260 đầu lũ Rơ – Sóc gian bị bêu trên cọc nhọn, rúng động toàn Sóc trại. Nhờ đó thành Du Mễ biết sợ mà tự biết dâng thành, mở cổng cho quân Lũng Tây tiến vào tiếp quản.
Ở đạo Hà Đông, Vũ Kiến Cát cùng con là Vũ Kiến Xương và các danh tướng của 7 doanh tinh nghệ nhất Đại Cô mà dẫn 7 vạn bộ binh, 1 vạn 2 ngàn kỵ binh vượt sông chịu rét mà họ thành công hạ được hơn 100 ngôi làng, phá 50 trại địch và bắt sống Vương Ô Trắc – cựu thần nước Sóc phản theo Hát Nhị Đồ. An Tây Đại Tướng Quân liền để cho Ty giám Bắc Địa Lê Trắc với các lão sĩ, chân tu theo phái Lý Anh, giảng đạo hiền đức. Lê Trắc liền cùng các vị chân tu ấy tới làng Tuy Đức truyền giảng sự nhân tâm ở đây.
“Bách dân hãy bỏ tà tục của bọn gian ác Rợ Bắc năm xưa, về lại với triều đình” – Lê Trắc đứng trước cổng làng cùng các bằng hữu của ông để nói cho dân biết lợi hại của việc bỏ tà về với thiện lại.
“Sao tụi tôi lại phải tin ông chứ?” – một mụ già tiến lên hỏi một cách không khiêng nể -“ Chính ngài Sóc trưởng (Hát Nhị Tâm) ban thưởng tiền đồng cho bọn dân tụi tôi khi tụi tôi thiếu túng, duy chỉ có việc phải tế con nhỏ thì khó làm nhưng đã làm thì nó lại cho cây trái tụi tôi tốt hơn nhiều so với dưới triều các ông”
“Vậy thì bà nghĩ giờ vị Sóc trưởng ấy sau này đòi hiến tế cả con lớn của làng này, rồi đòi cả các dân đi phục dịch đi lính thì sao?” – Lê Uýnh liền đem ra quả táo trước mặt mụ già này –“ Đây là loại trái quả mà triều ta đã trồng ở các đạo khác, nó mọng nước và trồng được ở mọi nơi. Chỉ cần có phân tốt, vôi tro và sự thành tâm thì sẽ kết trái ra quả tốt hơn bất kỳ sản vật nào ở đất Sóc này cả!”
Mọi người trong làng chăm chú xem loại quả mà họ thấy mập mạp, đỏ tròn này, mặc kệ mụ già kia. Lê Uýnh liền phát cho họ vài trái để ăn, ai cũng khen là ngon rồi dùng hạt táo mà trồng lấy.
Dần dần, Lê Uýnh cùng các vị lão sĩ đi khắp làng, họ dùng thuốc chữa bệnh và phép giúp cho mùa màng. Vị Ty giám Bắc Địa cố gắng chặn các hành động đốt con cho ma quái, dù có vài kẻ chống đối nhưng do lòng bao dung, nhẫn nại của họ mà nhiều người đã bỏ tối theo sáng, không dám lén lút làm việc hiến tế nữa.
Ở trong bản doanh, Lê Trắc trình diện gặp Vũ Kiến Cát báo về tình hình dân sinh. Vị An Tây Đại Tướng Quân cười lên nói:” Quả là không hổ danh là “Tâm Ngọc Đại Sư” của Đại Lục, ánh sáng của huynh đã giúp cho bá tánh không bị u mê nữa rồi!”
“Thần chỉ làm hết sức việc đại tướng giao thôi” – Lê Uýnh uống chút trà nóng cười nhẹ đáp lại.
“Ha ha ha, quá tốt rồi huynh” – Vũ Kiến Cát liền nắm chặt tay ngửa lên trời mà nói nghiêm nghị -“ Hát Nhị Tâm, ngày tàn của ngươi sắp tới rồi!”
Sang tháng ba bớt rét, quân triều đình Đại Cô vượt qua dãy Kim Thụ tiến vào bình nguyên đầy các cánh đồng vốn trồng lúa kê nay bỏ hoang do phần tiết trời chưa thuận và chiến loạn. Hàng lính chỉnh tề đi giữa cùng thiết kỵ ồ ạt trên đường tới phủ Sóc thành, tới đâu dân chúng reo hò tiếp đón một đội quân của nhân tộc chính nghĩa giải cứu họ.
“An Tây Đại Tướng Quân oai phong, ngài ấy sẽ chấn hưng vùng đất của ta!” – một cụ lão cầm gậy lên trước hô to trước đoàn quân giải phóng đi qua trước làng cụ.
Nghe hung tin đó, bọn giặc trong thành Sóc vô cùng kinh hãi, đầu chỉ có nghĩ tới việc chạy trốn khỏi Bát doanh của Vũ Kiến Cát. Nhưng Hồng Diêm ra chỉ dụ rằng bất kỳ ai dám ra khỏi thành không xin phép thì sẽ bị chém đầu, xác đốt cho đền thờ.
“Ai chưa có lệnh của Sóc trưởng và của ta thì phải yên trong thành, bằng không đừng trách sự vô tình” – Hồng Diêm đưa sách dụ cho từng tên quản khu trong thành, rằng bọn chúng phải ngày đêm rà soát bất kỳ bóng dáng nào trên từng khu phố mà bọn chúng quản lấy.
Ở trong một hành dinh mái cong lợp ngói lưu ly huyền sắc – vốn là cung cũ cho tiểu vương Sóc Bắc sinh sống, Hồng Diêm vào cung Thiên An – nơi làm việc của Hát Nhị Đồ vào lúc đêm. Hắn cúi lạy 8 lần 3 vái trước Sóc trưởng đặng báo tình hình hiểm nghèo:” Bẩm Sóc trưởng, thần đã cố gắng hết sức để cho dân chúng trong thành không bị rối loạn, sợ trước hung nguy của bọn nghịch Cô!”
“Tốt, tốt lắm vị Thừa lệnh Sóc trại của ta. Giờ ta chỉ cần ngươi làm theo hai điều nữa thôi!” – Hát Nhị Tâm vẫn ung dung pha trà cúc uống, có lẽ hắn không bận tâm tới thất trận ở các nơi lắm.
“Xin Sóc trưởng ban lệnh để thần có thể báo ơn lập công giúp!” – Hồng Diêm nét mặt nịnh hót, mắt vẫn khiếp sợ trước nỗi lo phục vụ cho lũ tà ma.
“Trước tiên, ngươi hãy gom hết toàn quân trong thành có thể chiến đấu, kể cả lũ tử tù và côn đồ. Ta đã tới mức đường cụt, phải khuyến khích chúng vì Đại Rơ ta mà đổ máu tận tụy trung dũng.” – Vị Sóc trưởng chỉ ra thêm một ngón tay nữa, nói một cách quỷ dị -“ Sau cùng, ngươi phải đem hết toàn bộ đám trong ngục không thể chiến đấu ra mà hiến tế, đừng chừa một tên nào cả. Lấy tro bọn chúng rải xuống sông Đằng gần thành, hồn của chúng sẽ ban sinh khí cho cả Sóc trại chúng ta, Thánh Đế sẽ động lòng mà lật cờ đổi thế, diệt tên giặc Vũ Kiến Cát!”
Hồng Diêm nghe tới câu cuối, sắc mặt chuyển sắc tới nỗi hồn với thân thể không còn chung một lòng nữa. Bởi trước đây, hắn chỉ dám đưa một số kẻ chống đối lên dàn thiêu, mà việc đó cũng là do bọn tà sư làm lấy. Nay hắn phải đưa chính gia binh của hắn, bắt từng người tới đền thờ hiến tế hàng loạt, điều đó vẫn quá quái dị và vô nhân tính.
Khi thấy tên Thừa lệnh của hắn đang còn mất hồn sau khi nghe điều cuối, Hát Nhị Đồ tiếp thêm câu trước tai hắn:
” Mong ngươi làm tốt, hoặc không chính ngươi và cả tộc ngươi nguyên sinh vì Thánh Đế”
Tên Hồng Diêm bật tỉnh, rồi chợt quỳ xuống nói:
” Tại thần ngu xuẩn, xin Sóc trưởng đại nhân thứ tội. Thần sẽ làm tất cả những gì đại nhân giao trọng trách!”
“Tốt, tốt. Đó mới là thứ ta cần, giờ lui đi để ta rèn tâm đọc các sách của lũ Trung Nguyên!” – Hát Nhị Đồ quay đầu trở lại bàn thư, không thèm liếc nhìn Hồng Diêm đang run rẫy vẫn còn đang quỳ.
Ngày hôm sau, những tên quản khu chạy hối hả đi tới các khu phố, ngõ hẻm. Chúng tới giữa các sảnh, quán trà, chợ búa mà đọc chỉ dụ từ Thừa lệnh Sóc trại.
“Lệnh của Sóc trưởng ban bố, toàn Sóc thành đều phải dốc hết sức mình ra tòng quân cứu lấy Đại Rơ. Không ai được chống lệnh cả, bằng không cả nhà phải tự hiến mình cho Thánh Đế!” – tên quản khu đọc một cách nặng nề, từng câu từng chữ đều mang sự sống chết của cả khu phố. Rồi hắn nhắc lại lần nữa -“ Nội trong ba ngày, tất cả trai tráng trong thành phải trình diện trước phủ Thừa lệnh để nhập ngũ. Không chừa một ai cả, dù già trẻ. Phải vì nước mà tòng quân, vì Đại Rơ ấm no muôn đời!”
Một số người như Đổng Chinh nghe được, anh than:
” Ôi bọn này xưa nay tàn ác, giờ càng dồn dân ta tới đường cùng!”.
Đổng Chinh bèn trong đêm cùng hơn hai trăm người, bí mật ban đêm lẻn ra khỏi thành. Khi đứng trước tên lính gác Sóc gian định ngăn lại, anh liền nói:
” Chúng tôi chỉ ra ngoài kiếm thêm chút củi đốt thôi. Rồi sau đó quay trở lại thành, đại nhân đừng lo quá!”
“Sao các ngươi làm vậy trong đêm?” – tên lính ngơ ngác vấn đáp sao hơn trăm tên lại muốn ra ngoài trong đêm –“ các ngươi là thanh trai tráng, phải ở trong thành chờ lệnh của Sóc trưởng chứ?”
Không dây dưa với tên lính gác nữa, Đổng Chinh dùng nấm đấm đánh vào mặt tên lính gác. Cùng lúc những trai tráng khác cũng đồng thanh lấy gậy, cầm cuốc ra đánh gục những tên xung quanh. Họ cố mở lấy cửa Đông thành Sóc, tìm đường đào ngũ không muốn phục vụ cho lũ Rợ Bắc.
Cuối cùng cánh cửa mở ra, Đổng Chinh kêu lớn với huynh đệ:
” Giờ là lúc ta phải chạy, đừng có dây dưa ở lại!”
Bọn họ cũng lấy ngựa nuôi gần đó mà chạy lấy, chạy để khỏi Sóc thành. Nhưng một số người bị bắt lại thì không may, họ bị tà sư đem lên hỏa thiêu. Đổng Chinh cùng các anh em vượt núi tuyết, qua những cánh rừng khô hốc lá, cố gắng cầm hơi bằng nấm dại và cả sương tuyết. Cuối cùng sau hơn bốn ngày thì họ tự thân tới được làng Ninh Sơn, cũng là nơi Lê Trắc đang dùng phép cứu chữa dân chúng.
Đổng Chinh gặp Lê Trắc, nói với ông về tất cả sự việc tàn bạo đang xảy ra ở Sóc thành. Khi nghe được những thứ tà ác ấy, Lê Trắc mang sắc mặt không vui buồn nói rằng:
” Cảm tạ cho ta biết nội tình của Sóc thành các anh. Giờ các anh hãy nghỉ lại làng này đi, không có kẻ nào dám bén mảng tới đây đâu!”
“Đa tạ quý nhân đã cho phép chúng tôi lưu trú lại!”- Đổng Chinh cảm kích trước vị Tâm Ngọc Đại Sư.
Lê Trắc đi ra khỏi nhà gỗ, ngửa trời mà than rằng:
” Ôi thưa Bảo An Đại Tướng Quân, thần e ngài sẽ chịu khổ đau rất nhiều. Nhưng thần sẽ bằng mọi giá không để ngài gặp nguy”.
Vị Ty giám Bắc Địa liền lập tức cùng các chân tu và cả Tam Đại Doanh tướng quân – Địch Trường Thương mang hết hành lý, đạo cụ mà tốc hành đi tới hướng Sóc thành. Họ cố gắng bằng mọi giá liên lạc tới Vũ Kiến Cát, trước khi phải giao chiến với bọn Rợ Bắc.
Tới ngày 11 tháng ba trong sương tuyết hãy còn dày thì Hát Nhị Đồ phát động tấn công trước trại của Vũ Kiến Cát với hơn 5 vạn quân (trong đó có 2 vạn quân được Hát Nhị Tâm chi viện cấp tốc), tự phao là 30 vạn hùng binh. Dù quân của hắn ít hơn quân của Bát doanh Đại Cô nhưng hắn tự tin rằng năm xưa cùng anh Hát Nhị Tâm đã diệt gọn lũ Khang Trương Nhĩ ở trận Lan Bông, càng khiến hắn không quá nao núng như bọn Sóc gian đi theo hắn – vốn nhiều tên đã từng bị Vũ Kiến Cát đánh bại.
Thuộc tướng của hắn là Đạp Lai Xố Thác (cũng là người Rợ Bắc) hỏi vị Sóc trưởng rằng:
” Bẩm Sóc trưởng đại nhân, sao chúng ta lại liều mạng như vậy chứ? Ta có thể thủ thành, hoặc cùng lắm lui về phía sau dãy Ma Sóc cố thủ mà?”
“Ta hiểu ý của ngươi, và ta đã tính toán cả rồi. Thánh Đế sẽ cứu chúng ta!” – Hát Nhị Tâm trầm tư đáp lại, như chuyến này đi chỉ là dã ngoại với hắn.
Tin quân Rợ Bắc ra khỏi thành truyền tới Vũ Kiến Cát, vị An Tây Đại Tướng Quân cầm chặt bút mà tự rằng:
” Trận chiến giành lại linh khí cho cốt nhục Trung Nguyên đã khởi màn, một khi đã đánh thì sẽ chấn động cả thiên hạ, dù có thắng hay bại!”
Vũ Kiến Cát lệnh cho toàn quân bảy doanh, sẵn sàng trong tư thế chiến đấu, liều chết đánh giặc báo quốc. Ông nói với các tướng sĩ:
” Nay là thời khắc sinh tử của toàn nhân tộc, chứ không phải của binh sĩ chúng ta hay chỉ riêng dân Trung Nguyên. Năm xưa bọn Vô Hương, Sói Tộc tràn vào Sóc Bắc mà ráng u mê dân ta, nhưng tiên tổ chúng ta đánh đuổi được bọn chúng. Nay chúng ta cũng một lòng, lấy hết khí lực vì Thiên mà cứu lấy xã tắc!”
Toàn quân đều reo hò, cầm thương giơ lên trời, nguyện theo vị lão tướng chinh chiến cùng họ mà đáp rằng:
” Vì Vũ tướng quân, vì dân hồng mà chúng ta nguyện chết thay!”
Hai quân đều dàn trận ở Hử Diên – cách chiến trường Lan Bông năm xưa hơn 31 dặm. Vũ Kiến Cát tiên phong chỉ huy ở trung tâm, Hà Văn Nghị chỉ huy ở cánh phải còn Lạc Ưởng chỉ huy ở cánh trái. Tổng quân bảy doanh trên 8 vạn nên Vũ Kiến Cát nghĩ Hát Nhị Đồ chỉ liều mạng thử vận may, nhưng quân Đại Cô Bát doanh của An Tây Đại Tướng Quân khác với quân nước Sóc năm xưa rất nhiều, những tinh binh triều Cô không dễ dàng vì kẻ địch đông hơn hay tàn bạo hơn mà khiếp sợ chạy trốn. Trận chiến thư hùng với lớn nhất của vị An Tây Đại Tướng Quân sẽ quyết định xem ông có mãi lưu danh thành thần tướng muôn đời hoặc trở thành một kiêu tướng sa cơ lỡ trận, mãi kiếp bất phục.
Đoàn quân vừa di chuyển, Vũ Kiến Cát vừa hào khí hốt lên:” Huynh đệ ta, hãy dùng máu giặc trả lấy thù này!”
“Hãy dùng máu giặc trả lấy thù này!”
“Hãy dùng máu giặc trả lấy thù này!”
“Hãy dùng máu giặc trả lấy thù này!”
Lời vang của hơn 8 vạn binh sĩ lớn vang khắp đồng tuyết mênh mông, tới nỗi cả trăm dặm có thể nghe lấy.
Hồng Diêm bên phía giặc nói lại để chấn hưng sĩ khí:
” Các ngươi đừng hoảng sợ! Quân ta tuy ít bọn chúng nhưng chúng ta tinh nghệ và gan lì hơn nhiều, không thể nào sợ!” – rồi hắn hứa hẹn bổng lộc –“ Ai giành lấy đầu của tên tặc Kiến Cát thì thưởng ngàn lạng vàng, ban ấm tập nhị phẩm, con cháu đời đời không lo!”, thì đoàn lính của Rợ Bắc mới gượng ép tiến lên.
Tới giữa trưa thì hai quân bắt đầu chạm trán quyết liệt, kỵ binh thảo nguyên đọ sức cùng thương kỵ Trung Nguyên, không ai nhường ai một hiệp nào cả. Cánh phải của Hà Văn Nghị chém giết nhóm thổ phỉ của Đặng Ngu, áp sát gần quân địch.
“Hãy chết cho ta!” – Hà Văn Nghị dùng trường mao chém tới thân của thủ lĩnh thổ phỉ.
Đặng Ngu cố đỡ lấy đòn của Nghị, đánh hơn 5 hiệp thì sức càng ngày càng đuối. Hắn thở dồn dập, rồi tự dưng bị đâm vào đùi mà máu chảy ra. Hắn cố hết sức rồi dùng cả sức cuối mà đánh lên đầu đối phương, hét rằng:
” Cho nhà ngươi chết!”
Hà Văn Nghị chỉ dùng ngựa tiến lên, lấy mao đỡ lấy thương của tên thổ phỉ này, khiến gây ra một tiếng rực lửa giữa hai binh khí. Vị Bình Trọng tướng quân ấy khinh bỉ nói:” Chỉ có vậy sao?”, rồi dùng mao đâm thẳng vào ngực Đặng Ngu.
Đặng Ngu đỡ không kịp, người hắn cảm nhận một luồng máu nóng chảy ra từ ngực. Đó làm cho hắn cạn sinh khí, không thể nói lên một lời nào cả mà ngã xuống.
Tương tự ở cánh phải do Thượng tướng quân Lạc Ưởng cũng phá khinh kỵ của Hồng Diêm, khí thế của huyền kỵ tung bay choàng đen dính tuyết như đàn quạ muốn lấy mạng của lũ giặc.
Hồng Diêm không phải đối thủ của Lạc Ưởng, hắn đỡ được vài đòn thì sức cùng lực kiệt cả rồi. Lạc Ưởng hừ một tiếng mà vọng lên:” Đền mạng cho dân ta!”, rồi dùng nhát chém tới yết hầu tên Thừa lệnh Sóc trại.
Hồng Diêm trở tay không kịp, làm cho đầu hắn lìa khỏi cổ, vẻ mặt mang sự không chấp nhận hiện thực và đan xen run sợ trước cái chết. Lạc Ưởng đưa thủ cấp Thừa lệnh Sóc trại lên trước toàn quân địch ta mà tuyên cáo:
” Nay tên gian tặc bán nước đã không còn, kẻ nào bỏ vũ khí xuống sẽ được tha!”
Bọn kỵ cánh phải của Rợ Bắc nhìn thấy đầu của Hồng Diêm thì chấn kinh, kẻ nào cũng chạy trốn về phía sau chiến tuyến. Nhưng bọn chúng đều bị trường thương và cung tên của chính đồng đội ngắm tới, tiến thoái lưỡng nan, tự sinh tự diệt.
Gần như trong một canh giờ, toàn bộ hai cánh quân Rợ Bắc đều thất thế, chỉ còn trung quân của Hát Nhị Đồ hãy còn ráng giữ vững sĩ khí chiến đấu, bảo vệ lấy chủ tướng. Vũ Kiến Cát ở phía sau hàng bộ binh, ông đi ra giữa quân giơ thương chỉ trước mặt Nhị Đồ mà kịch phúng, cười lớn sang sảng rằng:
” Khà khà khà, ngươi giờ nằm trong thế cô rồi, chỉ là con bò cạp cố vẫy vùng chạy ra khỏi rổ. Hãy mau đầu hàng còn giữ mạng gặp anh ngươi còn không đi gặp vong linh vô tội mà chịu nghiệp lấy, mong ngươi suy nghĩ kỹ!”
Ở phía bên kia đối phương, Hát Nhị Đồ chỉ mang một nét mặt không đổi sắc, miệng nở một nụ cười nhẹ với đôi mặt quái dị, sâu thẳm mà không đáp lại lời đe dọa của Vũ Kiến Cát. Vị An Tây Đại Tướng Quân vừa kịp nhận ra vấn đề thì đã không đủ thời gian xoay xở khi hiểu hung hiểm mình gặp phải.
Ở dưới mặt đất, một tiếng rung chuyển cả trận địa làm cho hai bên dừng lại, không chiến đấu. Đột ngột, mặt đất xé toạc một lỗ to, mang ra lũ sâu dài hơn 200 trượng. Trên đầu bọn sâu này đều có những tên đầu thú cầm cương, chúng chạy một cách xoắn chéo như lũ sâu bọ nhỏ, làm cho bụi đất tung bay khắp nơi. Gió tuyết cùng với đất đá hòa nguyện, tạo nên một khung cảnh ác địa trần gian. Bọn sâu này chạy tới binh lính Đại Cô mà đạp chết quân Đại Cô, có người lại bị nuốt chủng vào bụng bọn sâu này, có người bị tiễn của lũ cầm thú bắn xuống, tạo nên khung cảnh tàn sát một phía.
Quân sĩ nhìn thấy vậy, họ cũng rùng mình dù không ai muốn chạy trốn. Vũ Kiến Xương nói với cha mình một cách nghiêm trọng:
” Phải làm sao bây giờ, thưa phụ thân?”
“Không thể nào, lũ sâu bọ này không thể nào nhập vào Trung Nguyên…chúng chỉ có thể tung hoành xa mạc, thảo nguyên bởi tà khí nơi đó nặng nề thôi!” – Vũ Kiến Cát bàng hoàng, đầu cổ ông chảy mồ hôi liên tục nghĩ ngợi sao việc phi lý này xảy ra ở đất Trung Nguyên vốn có khí vận tốt.
Hát Nhị Đồ chỉ nói một cách mỉa mai:
” Nhờ vào xác của đám Trung Nguyên các ngươi hiến cho Thánh Đế của bọn ta, máy tro chúng thấm vào đất sông để đại khí Thánh Đế lan sang tới Sóc trại rồi. Ngay khi các ngươi đã xâm phạm đất bọn ta thì chỉ có một con đường chết. Hoặc có thể vị An Tây Đại Tướng Quân đây quỳ xin tha mạng, làm nô tài cho chính Sóc trưởng ta, ta sẽ hậu đãi tướng quân rất nhiều đó!”
“Hỗn xược, ngươi đây phải chịu trận của ta!” – vị tướng An Tây râu trắng liền cắn răng mà ấm ức vang lên –“ Ta đây phụng sự bệ hạ hơn 40 năm, chẳng màng tới việc bội phản để bán rẻ quốc gia mình. Ngươi đã thách thức danh dự ta, ta thề nguyện chết với ngươi!”
Vũ Kiến Cát cưỡi chiến mã ngả vàng của mình, hô lên cùng các thân vệ của ông:
” Tiến lên nguyện chết cùng giặc, có ai theo ta không?”
Các thân vệ của ông đều đồng thanh một tiếng:” Nguyện chết cùng Vũ tướng quân!”
Rồi vị An Tây Đại Tướng Quân cùng kỵ sĩ thuộc hạ cưỡi ngựa, còn đoàn bộ binh tránh ra để bọn họ quyết tử vì nước, quyết chiến vì triều đình.
Hai ngàn thân binh cưỡi ngựa luồng qua các ô hở của bộ binh, đi theo Vũ Kiến Cát mà dốc hết bình sinh thúc kỵ tiến ra khỏi trung quân, bọn họ chỉ hòng băng qua khỏi quân thù hung ác để giết chết Hát Nhị Đồ một lần, hoặc nguyện sinh nguyện tử với địch. Những thân binh ấy mang giáp đen sẫm, quấn áo choàng vải lụa phía sau mang sự uy nghiêm, mỗi người đều toát ra vẻ khí lạnh lùng, bình thản mà không sợ chết, tiến lên cùng chính vị tướng già họ theo biết bao năm qua.
Vượt từng hàng bộ địch đang định chắn ngang thiết kỵ tung đạp cả phương Bắc Trung Nguyên, kỵ sĩ của Vũ Kiến Cát gặp bất cứ tên nào cản đường của mình đều chịu một đòn thương kích một chiêu là diệt một tên. Vó ngựa hí vang ở trung quân phá vỡ đội hình đối phương, tất cả chỉ ngắm tới bản doanh của Hát Nhị Đồ.
“Ta nguyệt chết cùng ngươi!” – Vị An Tây Đại Tướng Quân vừa phi ngựa thẳng tới Nhị Đồ, vừa vang tiếng nói của một người muốn kéo theo người khác chết chung.
Nhưng lúc này cát bụi hất vào xung quanh các nhóm thân kỵ của Đại Cô, bọn sâu cát quay trở lại từ hai hướng cắn xé tới các kỵ sĩ đối phương. Từng người ngựa cùng nhau hoặc bị ăn sống, hoặc bị tiễn cung bắn xuống mà té ngã. Ngay cả Vũ Kiến Cát cũng chịu cảnh đất bụi to bằng chính mình thổi khỏi ngựa, ông nằm xuống liệt người, khó cử động để cho một con sâu cát tới gần định ăn sống vị danh tướng chinh chiến không ngừng nghỉ này.
“Ngươi không thể giết cha ta, ta thề chết với ngươi!” – đột nhiên con ông là Vũ Kiến Xương thấy thảm cảnh cha mình nên đã cưỡi ngựa chắn trước người cho An Tây Đại Tướng Quân. Tuy vậy một mình người con khó mà giết chết được một con sâu khổng lồ, vốn có thể nuốt cả hai người.
Hát Nhị Đồ khi đang tự đắc cho rằng chiến thắng đã sắp đặt sẵn rồi, hắn với thân vệ một cách thờ ơ rằng:
” Mọi thứ đã xong, nằm trong tay ta cả rồi!”
Thì từ phía xa chiến trường đang chém giết, hỗn loạn chà đạp nhau lại nghe thấy một tiếng kèn ngà kêu to “đùng đùng”, nó vang khắp trận địa một cách rúng tim khiến cả người, ngựa và sâu cát đều dừng lại mà nghe lầu. Rồi đằng chân trời gió tuyết, đám mây trắng nhường chỗ cho ánh sáng chiều tà làm chói mắt bọn sâu xuất hiện một người mặc bào trắng, cưỡi bạch mã cùng bên với vị tướng mặc hắc giáp pha đỏ mà hô rằng:” Xin đại tướng hãy chờ mạt tướng cứu lấy giúp!”
Hai người đó chính là Lê Trắc và Địch Trình Thương, họ dẫn theo hơn 150 vị chân tu và 500 kỵ sĩ đều cưỡi bạch mã – bọn họ tạo thành một đội hình tròn xung quanh, ở giữa là hai vị chỉ huy đứng đầu. Lê Trắc ngửa mặt khấn Trời rồi bèn hô pháp thuật rằng:
” Vốn xưa A Duông[2] đẩy lui Sói Vương các ngươi ra khỏi Trung Nguyên, Nam Hải và Thiên Trúc. Giờ đây các ngươi lại phạm tới đất của người, tiên tộc và Hỗn tộc, do vậy các ngươi sẽ phải chịu cơn thịnh nộ bởi tội nghịch Trời, phản tự nhiên này!”
Rồi Lê Trắc lấy ra gậy dài cắm xuống dưới đất, dùng ngọc bí truyền nắm chặt lên khấn Trời. Vòng tròn bao bọc lấy ông hút lên các luồng khí lục, đẩy tan các ám khí đen ở toàn Sóc trại. Ông khấn rằng:
” Hỡi Trời, người hãy giết chết bọn xâm phạm tới đất của người ban cho chúng con!”
Hát Nhị Đồ nhìn đằng xa không hiểu phép tu gì cả, hắn chỉ cười nói một mình rằng:” Các ngươi chỉ đang làm trò quái đảng mà thôi”
Vừa nói xong thì mặt đất ở trận địa rung chuyển dữ dội, từ từ sự chuyển động đó lan khắp đất Sóc Bắc. Ngay cả Đổng Chinh cùng huynh đệ cũng cảm nhận địa chấn ấy, nhưng nó không làm sập bất kỳ nhà cửa, khiến cho núi, rừng bị đổ cả.
Lúc đó, lũ sâu bị tước đi luồng hắc khí trong người nên đã bắt đầu di chuyển xáo trộn, mỗi con tự cắn giết lẫn nhau, có con tự buộc chặt thân mình cho đến khi chết. Vũ Kiến Cát nằm ngửa lên mây thấy lũ quỷ sâu tự diệt thì mừng rằng:
” Lê Trắc đã tới rồi, mọi chuyện đã an bài rồi!”
Quân của Hà Văn Nghị và Lạc Ưởng liền cơ đó mà dẫn hết bộ kỵ tiến lên giết giặc, bằng mọi giá phải cứu lấy chủ tướng mình và tới doanh trại giết chết tên chủ soái của Rợ Bắc – Hát Nhị Đồ.
“Tiến lên không tha một tên nào cả các huynh đệ, cứu lấy chủ công!” – Lạc Ưởng khàn giọng kêu gọi các tướng sĩ xông pha giết giặc cứu chủ tướng.
“Không tha tên nào cả, cứu lấy chủ công!” – binh sĩ cứ hò reo liên tục, vừa hò vừa hành quân chém từng tên Rợ Bắc.
Biết mình đã không còn đủ sức lật thế cờ, Hát Nhị Đồ bèn rút trong túi một đao nhỏ mà tự kết liễu mình, không muốn bị lăng nhục bởi phe Đại Cô. Hắn ngửa lên trời thán một câu bi ai:
” Ôi Trời sao lại hại ta, sao ngài lại ghét bỏ Thánh Đế - con đầu lòng của ngài cũng như Vô Hương, Sói Vương như vậy chứ? Họ đều do ngài tạo nên cả mà!” – rồi hắn nhìn về phương Bắc, nhắm mắt lại nói tiếp –“ Anh ơi, em thà chết giữ lấy thể diện cho tộc ta. Không để bọn thú Nam làm nhục em!”, rồi tự đâm vào cổ chính , kết thúc cuộc đời của một kẻ hùng cứ ám ảnh cả Sóc Bắc.
Trận Hử Diên là một trận thư hùng, đấu tranh giữa tà thiện lớn nhất trong suốt 300 năm qua. Nó cũng là trận chiến mà thương vong kịch liệt tới mức nửa quân Đại Cô tử trận, gần toàn bộ hết quân Đại Rơ diệt sạch, chỉ bắt được hơn 500 tên khi cơn giận của quân Bát doanh nguôi giận. Vũ Kiến Cát được binh sĩ mang vào trong trại dưỡng thương, tình trạng của vị lão tướng này suy lực xuống cùng tuổi già đè nặng khiến cho ông thập tử nhất sinh.
Vào tới bản doanh, Vũ Kiến Cát nằm trên giường kê gối lụa đỏ nhìn con trai Vũ Kiến Xương mà khen:” Con quả là anh dũng hơn ta rồi!”
“Con không dám nhận lấy khen của cha, chỉ là điều người con phải làm thôi!” – Vũ Kiến Xương chấp tay lạy trước cha đang trong nguy kịch.
“Việc này con phải nhận lấy, đó là uy dũng của người trẻ!” – Vũ Kiến Cát vừa ho trong lúc đang nói chuyện.
Rồi vị An Tây Đại Tướng Quân nhìn trước Lê Trắc mà nói:” Ty giám Bắc Địa là anh hùng cứu cả quân ta, không gì trả ơn nổi cho huynh cả!”
“Đại tướng quá khen rồi, mong ngài nghỉ ngơi để thái y xem mạch, bắt thuốc cho” – Lê Trắc cũng hành lễ lại.
Nhưng hơn ba ngày chữa bệnh thì sức khỏe càng không thể khá lên được, Vũ Kiến Cát gọi các thân tướng, huynh đệ và con cái tới gặp, bàn lo hậu sự cho ông.
“Ta đây phải đi gặp Trời trước rồi, mong các vị ở lại giữ yên quốc an dân” – Kiến Cát nói khẽ, dùng hết sức sinh lực cuối cùng để trò chuyện với mọi người.
Ông nói riêng với Địch Trình Thương rằng:” Ông hãy giữ yên mạn Lũng Tây, cảnh giác trước kế chiêu dụ của địch, cũng hãy bố trí các nơi đầy đủ. Thế mà vững lòng biên cương vậy”
“Mạt tướng xin nghe theo những điều răn dạy mà đại tướng quân chỉ bảo” – Trình Thương quỳ xuống khóc lóc chấp lạy.
Rồi vị An Tây Đại Tướng Quân quay lại trước Lê Trắc, với ánh mắt chân tình mà mỉm cười nói:” Huynh đây cữu mạng con ta, cứu mạng ta và cả huynh đệ cùng sinh ra tử theo ta, thật không biết trả ơn ra sao nữa. Ta có gửi người tâu kiến bệ hạ phong thưởng hậu đãi cho huynh, huynh gì thêm cứ việc nói, đừng ngại. Hoặc huynh muốn cáo từ về cũng dược, hãy về thăm đất tổ, thăm núi non hữu tình, thay vì cứ quanh quẩn ở xứ khổ hàn này…ta rất mong thăm quê đầy tre núi xanh tươi, hùng vĩ phương Nam của huynh một lần nhưng e là khó ở kiếp này”
Lê Trắc cầm lấy tay đầy xương, lạnh lẽo của Vũ Kiến Cát, ông liền nói giọng tuy không quá đau buồn nhưng nét mặt đã có sự chuyển biến, nhép miệng nhẹ lên:” Mùa đông qua thì sang xuân sẽ xanh tươi lại thôi, tôi sẽ ráng giúp lấy cho dân Sóc không chịu cảnh lầm than lần nữa. Rất mong chúng ta sẽ gặp nhau lại ở Hách châu, là quê cắt rốn sinh ra tôi khi chúng ta sống lại một kiếp trọn vẹn hơn!”, rồi đôi mắt chảy ra một vài giọt lệ.
“Rất mong được như vậy, thà sống làm dân thời bình còn hơn làm danh tướng nhưng suốt ngày chinh chiến mệt mỏi, không bao giờ sống một ngày an lành nổi. Huynh…với ta sẽ mong có một kiếp tròn vẹn hơn!” – Vũ Kiến Cát đã trầm giọng, từng câu chữ mang cầu mong thoát khỏi đời chinh phạt liên miên không dứt.
Rồi cuối cùng Vũ Kiến Cát nhìn tới con trai mà trò chuyện trước khi từ biệt vĩnh viễn:
” Con ráng giúp lấy nước nhà, diệt nội phản thù ngoài, xả thân coi nhẹ cái chết. Con sẽ chịu đau khổ, bi thương, giày vò cảm xúc vì cho mình không xứng đáng, không bằng một ai đó nhưng con còn cố gắng thì ấy là khí phách của đấng nam nhi, bậc quân tử rồi. Việc gì cần hỏi từ các bậc tiền bối thì hãy hỏi, việc gì nằm ngoài dự liệu hãy làm khác bậc tiền bối để hiểu thời, hiểu đạo Trời xoay chuyển. Tiến lui con hãy tự tính, đừng quá ham công mà xem thường ai hết, nhưng cũng đừng quá hạ thấp bản thân mình. Không quá liếng tiếc, than phiền đời, sống tích cực mà không mê muội là chân lý cuộc…”
Khi này sinh khí của ông đã sắp cạn nhưng vị lão tướng ráng gượng ra thêm lời cho con của mình:” Con hãy…hãy xong việc…thì…thì đi theo huynh ta xem cảnh vật núi tre bình dị ấy, học…lối sống…của tinh linh…con…sẽ hiểu cách…đ…ể…để sống trọn làm người” – rồi vị lão tướng tự hạ tay xuống gối kê, trút hơi thở cuối cùng nằm nghỉ ở cõi xa.
Mọi người đều quỳ xuống, van lạy tiễn biệt vị tướng râu trắng đã thảo phạt, phục vụ triều đình suốt 40 năm.
Vũ Kiến Xương vừa quỳ vừa đi tới cha mình lìa đời, cầm chặt tay cha khó rằng:” Xin phụ thân chớ lo, con sẽ làm theo những gì phụ thân đã dặn dò con phải đạo để sống!”
Hôm sau, đoàn quân tiến vào Sóc thành mà không mang theo tiếng ca hát khải hoàn chiến thắng, mà là sự im lặng buồn bã của một đội quân mất đi vị tướng yêu dấy cùng các binh sĩ Bát doanh xông pha, cùng họ chịu khổ cực gian nan, san sẻ gánh nặng. Giờ đây vị tướng ấy đã an nghỉ giấc ngàn thu trong một cỗ quan tài bằng gỗ thông đơn giản mà có cảm giác trang trọng.
Ngay cả Đổng Chinh cùng huynh của anh khi về thành, thấy đoàn đưa tang vô cùng u sầu, khóc thương thì chính anh cũng chảy lệ mà nói:” Chưa từng gặp mặt vị tướng ấy lần nào nhưng đã nghe lời của Lê Trắc kể về vị ấy và cũng thấy đoàn tang, ta thực không xót xa cho một kiếp đời nhìn oai hùng nhưng cũng bi kịch vì quốc vong thân!”
Đoàn đưa tang áo trắng dẫn linh cửu của Vũ Kiến Cát tới trước đền thờ dàn thiêu hiến tế, một số họ bèn cầm đuốc chạy thẳng tới đốt đền thờ. Đó là thể hiện ngay cả cái chết thì hồn của vị An Tây Đại Tướng Quân quyết diệt toàn bộ tà ma giáo, không bao giờ cho chúng trở lại trên đất Trung Nguyên.
Tin truyền về tới tai của Diên Xương, Ngài đã tiếc thương, tự ban bố quốc tang 30 ngày tiễn đưa vị tướng tin yêu lần cuối, nhà nhà phải mặc áo tang trắng khóc than, cả Chánh Đô chờ đợi linh cửu của công thần chấn uy tà ác về kinh. Sử đời sau ghi chép việc này tỉ mỉ rằng:
“… Ngày 11 tháng ba vào năm thứ 21 đời Diên Xương triều ta, Vũ Kiến Cát cùng các tướng sĩ đem hơn 78 vạn quân, xông phá dũng cảm chém tới 250 vạn quân của Bắc Rợ man di do Hát Nhị Đồ cầm đầu.
Khi quân ta sắp tới doanh trại chủ địch thì tên Nhị Đồ xảo trá dùng ma thuật, quỷ kế mà gọi hơn 300 quỷ sâu cát ; mỗi con lớn tới 500 trượng mà cắn giết quân ta bừa bãi. An Tây Đại Tướng Quân liền dẫn hai ngàn thân kỵ liều chết giết Hát Nhị Đồ nhưng bị thương mà ngã, con là Vũ Kiến Xương lấy thân che chắn cho cha.
Tình thế ngặt nghèo, nguy cấp cho ba quân sắp bại thì bọn Lê Trắc, Địch Trình Thương hơn 150 sư đạo, 500 kỵ sĩ kịp thời ứng cứu. Dùng đạo pháp trừ quỷ, tạo thành vòng cung xoay chuyển địa thế Sóc Bắc, Lê Trắc cắm thần trượng xuống mặt đất làm cả đạo rung chuyển. Nhờ đó mà đám quỷ sây cát tự cắn nhau mà chết, đảo thế bại thành thắng. Hát Nhị Đồ chịu không nỗi nhục và tội ác hắn gây ra nên đã đâm cổ chính mình, kết thúc đời ác ma của hắn.
Vũ Kiến Cát được dẫn đi chữa thương nhưng khó lòng qua khỏi, sau ba ngày thì mất. Cả Sóc thành khóc thương vị tướng dũng khí quật cường ấy, không gì tả nổi lòng xả thân vì quốc.
Đại Vương Diên Xương cũng động lòng tấm nghĩa trung tiết này, chính vị ấy diệt hơn trăm vạn hùng binh Rợ Bắc. Đại Vương sắc phong Vũ Kiến Cát làm Trung Tây Tiểu Ngoại Vương, con cháu đời đời tập ấm chức tiểu vương này. Linh cửu được chôn cất theo quy chế của một tiểu vương Trung Nguyên.
Lệnh chỉ ban hàng cũng thưởng mỗi binh sĩ, thăng mỗi tên 2 cấp, thưởng 100 lượng bạc, 10 lượng vàng. Riêng Lê Trắc tạm giữ chức Đô đạo Sóc Bắc kiêm cả Thượng Thư Bộ Binh bởi công lao đứng đầu. Các tướng Địch Trình Thương, Hà Văn Nghị, Lạc Ưởng, Thôi Phong, Đổng Thanh, Tào Sùng đều trọng thưởng, thăng 1 cấp, con cháu tập ấm các chức ấy.
Quốc tang tiễn đưa Trung Tây Tiểu Ngoại Vương trong 30 ngày, cả nhà khắp nước phải để tang, khóc thương. Lập tức thực thi không chậm trễ.”
Tang lễ của Vũ Kiến Cát ở Chánh Đô có mặt của chính Diên Xương, quần thần, bá tánh cũng như thái tử nước Yên – danh tướng Đồ Nhĩ Sư, quốc phó nước Thục – Lý Đăng, Đại Tướng nước Hồng Qua – Phương Lư Tâm. Tất cả tiễn đưa vị danh tướng đã khuất, người bao đời chinh chiến bốn phương, luôn hạ mình phụng sự Đại Cô, cũng cứu cả Đại Lục khỏi thế lực tà ác.
Người đời sau đã khen sự trung nghĩa, xả thân không màng sinh tử bảo vệ cả tộc người khỏi sự đen tối của lũ thờ Đại Quỷ Đế, mang ánh sáng lại cho Sóc Bắc, đã hát câu khúc này:
“Sinh ra vốn ấm tập,
Nhưng chẳng hề sinh kiêu,
Hai mươi thu nhập ngũ,
Dốc sức giữ giang san.
Ngũ tuần gặp biến loạn,
Bình ổn xứ Đông yên,
Ngăn Bá Vương sang sông,
Há chẳng phải uy danh?
Ở thời tranh bá kiệt,
Đứng đầu trong ngũ hùng,
Cát, Kiến, Danh, Sư, Trắc,
Đua nhau lúc lá rụng.
Tiết đông hàn khổ tâm,
Dẫn quân nghênh địch đông,
Tấm thân trung một lòng,
Đồng tâm vì xã tắc.
Ngủ mãi lúc lục tuần,
Như cành mai sang xuân,
Ấm áp trong rét lạnh,
Chẳng thể nào lãng quên.”
**Chú thích:
[1] Việc hiến tế ban đầu có chút hiệu quả cho mùa màng bởi vì nó thoát ra ám khí linh hồn mà các thế lực tà ma hút vào, chúng sẽ nhả ra một ít sinh lợi cho thuộc hạ. Nhưng càng về sau, vùng đất càng ngày càng sa sút bởi lượng sinh khí không còn nữa, những tên theo Tà ma giáo phải phát động chiến tranh ra bên ngoài, bắt dân nơi khác nguyện dâng sinh khí cho các thần của Tà ma giáo để duy trì nguồn sống có hạn này.
[2] Là vị vua người Hỗn tộc năm xưa tập hợp liên minh của chính nghĩa đánh đuổi quân Sói Vương.