Trong lúc thủy quân của Tống Sơn đang giao chiến ở sông Dư , thì ở phía Bắc cũng xảy ra các cuộc giao tranh nhỏ gần ải Nam Dương giữa lực lượng Lâm Nam và Hậu Sở. 600 kỵ nhẹ do Phùng Thế chỉ huy nhiều lần đột nhập vào các đồn hậu cứ của quân Chu Lệ, làm thương vong ngàn người cho phe địch cũng như đốt cướp rất nhiều binh khí, quân nhu làm cho Hậu Sở vô cùng bất lực để đối phó.
Ở doanh trướng của Hỏa doanh, các chỉ huy quân Sở tranh nhau bàn luận cách ngăn chặn các cuộc quấy phá từ quân Lâm Nam, giữa ánh nến mập mờ, chập chờn muốn tắt lịm đi nhưng vẫn cố giữ hơi ấm tia sáng khỏi màn đêm tăm tối. Gió của vùng núi thổi vào, đi qua khỏi vén màn mà cắt vào từng thớt da thịt của từng tên tướng sĩ, không ai là không rùng mình lên.
Bố Sâm – phó tướng Hỏa doanh, cất tiếng nói với các chỉ huy:
“Tư lệnh thống tướng [1] giao cho doanh chúng ta nhiệm vụ tiên phong mở đường cho đại quân nhập vào Lâm Nam, đại phá loạn tặc thì sao các chư tướng sĩ ở đây lại e ngại đánh chứ?”
“Chúng tôi chỉ đơn giản là lực bất tòng tâm” – một tên đô úy đáp lại với ánh mắt buồn sầu –“ Đám Lạng Phùng Kỵ [2] xuất quỷ nhập thần, liên tục cướp phá các đồn phía sau quân ta… chặn đứng chúng quả thật là gian nan”
“Nhị đô trưởng [3] nói đúng đó, thưa phó tướng” – một tên khác tiếp lời –“ Mong ngài đưa ra đối sách để Hỏa doanh ta lập công giết địch. Ấy điều chúng tôi khẩn thiết cần!”
Ngồi trên ghế gỗ đơn sơ, trưởng doanh tướng quân Châu Hiên quay đầu về phía Bố Sâm nói thắc mắc:
“ Ngươi hãy cho bọn ta biết về cách đánh bại lũ Lạng Phùng Kỵ đi. Chúng ta cứ bế tắc như này thì khó mà trình diện trước Tư lệnh thống tướng nổi”
Với vẻ mặt đắc ý, Bố Sâm chấp tay mỉm cười trả lời vấn đáp từ chủ tướng:
“Hạ tướng thấy rằng bọn Phùng Thế không hề xuất quân từ trọng ải mà thực chất lấy mật đạo làm địa bàn mà đánh ra, ấy là vô cùng xảo quyệt…”
“Ồ vậy sao?”
“Hèn chi chúng xuất quân nhanh đến vậy!”
Tiếng xì xào, bàn tán sôi nổi lan ra khắp trướng, làm cho nhiều kẻ giác ngộ được bội phần. Chúng chửi rửa quân Lâm Nam vì không cam tâm để chịu bế tắc trước chiến thuật đánh phá của đối phương.
“Lạng Phùng Kỵ vốn quen địa hình nơi đây nên chúng có thể tùy ý ngạo mạn quấy phá hậu phương Đại Sở phe ta” – Bố Sâm nói tiếp một cách bình thản –“ Bởi thế hạ tướng xin cất cử Trịnh Bình dẫn theo 200 kỵ kích của Thượng Hỏa Kỵ Đô giao chiến với Lạng Phùng Kỵ, dụ dỗ chúng xa khỏi mật đạo. Còn toàn bộ Hỏa doanh chúng ta tiến vào mật đạo nhằm triệt tiêu trại giặc, tạo thế gọng kìm ải Nam Dương do Thân Dĩ trấn giữ. Lũ chuột nhắt Lâm Nam sẽ mắc sai lầm như hồi trước, khi chúng thua trước uy lực của đại vương Sở triều chúng ta vậy”
“Diệu kế, diệu kế, quả là diệu kế!” – Châu Hiên nhép miệng lên, liền kịch phúng nói lớn trước các tướng sĩ Hỏa doanh –“ Nay doanh quân ta nhận ơn bệ hạ, nhận lệnh của Chu thống tướng nhất định nay mai phá ải, dẹp loạn tặc ở Lâm Nam! Ha ha ha!”
Ngày 20 tháng 6, toàn bộ Hỏa doanh – lực lượng chinh phạt của Hậu Sở tiên phong tiến về biên giới, tới sát phía Bắc ải Nam Dương chừng 20 dặm. Châu Hiên lệnh cho Trịnh Bình 200 kỵ dẫn dụ Phùng Thế rượt theo xa khỏi mật đạo, để mấy ngàn quân bộ chiếm giữ trọng yếu.
Khi nhận tin báo rằng cả quân Lạng Phùng Kỵ đã rượt theo Trịnh Bình, Châu Hiên mở một nụ cười nhạt rồi hắn quay sang Bố Sâm mở lời rằng:
“Phó tướng quả là biết bắt ý lũ chuột này, ta khâm phục lắm. Nếu chiếm giữ được mật đạo, ta sẽ bẩm báo Chu thống tướng thưởng hậu hĩnh công đầu cho ngươi”
“Hề hề hề… hạ tướng đâu dám nhận công đầu” – Bố Sâm chấp tay đáp –“ Việc hạ tướng hiến kế là thứ phải làm vì Đại Sở ta cường thôi!”
“Nào, chúng ta vẫn phải đánh phá đồn trấn giữ trọng yếu này nữa”, nói xong Châu Hiên thúc cương ngựa phi về phía đoàn quân hàng đầu đang bước đi nghiêm chỉnh, đông đảo vào cửa núi mật đạo cao chót vót trăm trượng.
Nhưng khi toàn lính Hỏa doanh tiến vào mật dạo chưa tới nửa canh giờ nữa thì bọn chúng cảm nhận được tiếng núi đá xung quanh rung chuyển, cây cối rụng lá một cách kỳ dị. Từng tên binh nước Sở run rẫy cả người, tay mỗi kẻ cố gắng giữ chặt khiên giáo với mặt mày xanh xao, mệt nhọc. Ngay cả Châu Hiên bắt đầu hoài nghi, nghĩ quẩn về quyết định của hắn liều mạng vào mật đạo, trái lệnh cấp trên do không chờ bảy doanh phía sau tập kết cùng nhau ngoài biên giới. Tự thân là chủ tướng nên hắn vẫn hạ nén cơn lo âu và tiếp tục cho các đô, các đội hành quân bất chấp nỗi sợ bao trùm cả đám.
Rầm…rầm…rầm…
Đột nhiên đất bụi thổi thẳng từ phía Nam bay vào mắt binh sĩ Hậu Sở làm chúng phải dừng lại che chắn bằng thuẫn, khỏi bị cay mắt.
“Mẹ kiếp, sao lại thành ra như vậy?” – một tên lính Sở vừa chửi vừa dùng thuẫn cố cản bụi đất –“ Đây đâu phải phương Bắc mà tiết trời quỷ quái tới vậy?”
“Ta cũng chịu, ngươi tự hỏi lũ địch đi. Bọn Lâm Nam này dùng chiêu tà phép xảo quyệt vô cùng…” – đồng bọn bên cạnh thở dài nói với hắn một cách bất lực.
Lúc gió và bụi tan đi thì trước mắt bọn Hỏa doanh là những hàng giáo dài nối tiếp nhau như những rừng cây thông cao chĩa thẳng lên trời mây, nó hiên ngang chắn cả một đạo không khác gì một hàng bức tường vững chải, kiên cố như bàn thạch.
Một người ở giữa hàng trường quân ấy bước ra đầy ngạo nghễ và oai phong, tô rõ trước mắt quân Sở bằng những miếng giáp trụ xanh lục như cây cỏ, ghép lại nhau trên người. Người chiến sĩ ấy liền cầm kích dài chĩa thẳng tới phía đối phương, mũi kích xoay qua, xoay lại mấy lần rồi ung dung, dõng dạc kêu to:
“Hãy hỡi kẻ thù của nước Sở, các ngươi hãy biết lợi – thiệt mà thu quân về nhà đi thì ta sẽ vì ân Đất Trời [4] để nể tha chết cho. Còn nếu các ngươi cố chấp, tiếp tục theo tối bỏ sáng thì tội phản tộc hoàn toàn đè nặng lên đầu mỗi người các ngươi. Suy xét kỹ trước khi mọi sự trở thành nỗi uất hận, hối tiếc cho các ngươi”
Lời ấy chấn động quân giặc, chúng càng thêm khiếp đảm, ai ai cũng hồn bay phách lạc hòa theo bầu trời âm u, mây tối che khuất ánh sáng của thái dương [5]. Từng lính Sở liếc nhìn nhau một cách ngơ ngác, miệng ấp úng vì không kẻ nào tin nổi mình phải đối diện với hàng thương mà từng đánh bại Trần Hào, Chu Thông không khác gì cối xay thịt biết di chuyển. Ở nhiều đội đã có tình trạng binh sĩ buông bỏ vũ khí, nằm xấp mặt xuống đất như muốn van xin sự sống cho chúng.
“Mau bắt đám nhát chết này trở lại chiến đấu!” – Bố Sâm bạo nộ trước thuộc cấp –“ Kẻ nào ngoan cố thì dùng quân lệnh mà trị!”
Đối với Châu Hiên, nét mặt ban đầu còn hoảng hốt thì đã bớt đi cơn sợ, sắc thái lại trầm ổn như trước. Hắn tự thân cưỡi ngựa tiến về phía người ngạo nghễ đó, tới chừng trăm bước thì dừng lại, khàn giọng hỏi:
“Ngươi là ai? Sao dám dùng lời thách thứ trước Châu Hiên ta một cách xác xược, sáo rỗng vậy? Có biết ta là chủ tướng của Hỏa doanh, là thân tướng của Bá Vương Đại Sở chinh chiến qua trăm trận đánh thắng nghịch Cô, tặc Ôn Ngu, giặc Thục hay không? Lũ Lâm Nam các ngươi xa cách triều đình nên dám ngông cuồng, không biết lường sức mình mà lao đầu vào cái chết, há trách bọn ta trị tội nặng nhẹ?”
Khi Châu Hiên nói xong, sự im lặng tiếp sau tạo nên áp lực, căng thẳng giữa hai bên. Những tên lính Hậu Sở tuy hãy còn sợ, nhưng chúng cũng dần lấy lại sự tức giận trước một tên Lâm Nam thách thức uy quyền nước Sở chúng. Còn phía Lâm Nam, những binh sĩ cũng mặt đỏ bừng, nắm chặt thương giáo thật chắc bởi gã tướng phe Sở xem thường người xứ Nam họ, sỉ nhục danh dự và quê hương họ là xa xôi, quê mùa. Không khí ấy chỉ bị phá vỡ khi người chiến sĩ đối diện Châu Hiên ném thương trước hắn, cắm xuống đất làm người ngựa của chủ tướng Hỏa doanh loạng choạng một phen.
“Ngươi có là Triệu Trương, Từ Thông hay Lạc Tô mà làm trái ý Trời thì ngươi cũng ắt thua thảm bại thôi” – Người chiến sĩ ấy tự tin nói tiếp, với ánh mắt hiện ra một tia sục sôi cháy bỏng –“ Ta là Vương Lô, phó tướng đội chỉ huy Đương Sơn đại đội. Thay lời cho chủ tướng Nùng Tư Quốc, bọn ta quyết không lùi một bước trước đoàn quân bạo tàn của các ngươi. Người đời cho rằng dân châu Lạng bọn ta chỉ có hạng người bán nước cầu vinh, nhưng hôm nay Đương Sơn đại đội sẽ cho thế gian biết dân châu Lạng sẽ lấy máu rửa bùn, hi sinh thân mình cho đất Nam trường tồn!”
Nghe xong thì Châu Hiên chỉ biết tím mặt thúc ngựa đi về phía quân hắn, trong lòng không cam chịu nỗi sỉ nhục, chà đạp danh dự của Vương Lô dành cho hắn.
“Ngươi không biết lường sức mình” – Bố Sâm quát lớn về phía quân Lâm Nam với vẻ mặt đỏ bừng, điên loạn vì đối phương dám làm nhục chủ tướng hắn –“ Rồi tất cả lũ chuột nhắt các ngươi sẽ biết uy thế mạnh mẽ của Đại triều Sở quốc bọn ta!”
Hừ lạnh xong, tên phó tướng Hỏa doanh bèn ra lệnh cho hơn ngàn cung nỏ thủ tiến về bãi trống giữa hai quân, từng nhóm di chuyển chỉnh tề, đội hình ngăn nấp. Sắp xếp xong đội ngũ, hắn lập tức kêu tất cả cung thủ đồng loạt giơ cao cung lên mà phóng loạt mũi tiễn bay vút trên không trung. Những mũi tiễn ấy được bắn lên, hướng về phía Lâm Nam như mưa đen trút xuống trên đầu, một khắc có thể giết chết toàn bộ Đương Sơn đại đội.
Nhận ra tiềm họa, Vương Lô kêu các thuẫn quân tiến lên giữa các đội trường quân. Từng đội thuẫn quân lấy tấm khiên gỗ dày hình cánh quạt, trang trí hình hổ dữ che chở lấy người lính cầm thương dài. Các tấm khiên ấy đã chặn đứng từng đợt tiễn của quân Hậu Sở, tuy nhiều tiễn đã xước qua vai, chân của một số lính nhưng nhờ tấm giáp xích bền nên không đâm thủng vào da thịt họ nổi. Khi địch hết tên bắn thì Đương Sơn đại đội chỉ tử thương, hai mươi người khác bị thương nhẹ.
Nắm bắt thời cơ, Vương Lô thúc toàn quân sĩ tiến lên. Hàng thương dài, mũi sắc nhọn bén của trường quân tiến lên nhịp nhàng, vô cùng kỷ cương. Các nhóm thuẫn quân, nỏ binh đi theo phía sau yểm trợ cho lực lượng chiến lược quan trọng này của phe Lâm Nam. Với hơn sáu trăm binh sĩ lại thể hiện khí phách ngút trời, ngang nhiên giao chiến trực diện, sòng phẳng với đối phương đông hơn mấy lần.
“Giết chết quân thù, rửa nhục năm xưa!” – Vương Lô vừa đi, vừa hào hùng vang ca lời thề quyết chiến với giặc.
“Giết chết quân thù, rửa nhục năm xưa!”
“Giết chết quân thù, rửa nhục năm xưa!”
Quân sĩ Đương Sơn đại đội cũng đồng thanh hô to, hùng ca khắp khe núi trong mật đạo. Tiếp sau đó tiếng trống cất lên mạnh mẽ, lan tới phía giặc suýt làm cho chúng ù tai. Nhiều tên Hậu Sở chấn kinh, khớp ngón tay rã rời, muốn tuột vũ khí ra.
Mặc cho sĩ khí, tinh thần của Hỏa doanh sắp tới ngưỡng suy sụp, một khắc có thể tan rã thì Châu Hiên hắng giọng lên, vừa ban thưởng cũng như trừng phạt kẻ nào nhát gan. Vào thế lui hay đánh đều khó khiến đám binh Sở cố nuốt nước bọt mà bán mạng cho chủ tướng. Hàng ngàn trai tráng địch vừa cầm giáo nhỏ, vừa mang thuẫn bước lên phía trước về hướng quân Lâm Nam.
Vương Lô lệnh hàng trăm cung thủ bắn tới đội hình khiên mai rùa đang áp sát Đương Sơn đại đội. Từng mũi tiễn được phóng lên cao, đi nhanh như chim cắt bay xuống bắt mồi. Những làn tên ấy tuy không hạ gục nhiều tên giặc những đã làm cho chúng bị rối loạn đội hình một lúc, đủ giờ cho dàn trận ‘Phương Bách Quân’vô song bất bại kết thành một khối rừng thương dài.
Khi thấy đám lính Sở chần chừ, không dám đi tiếp thì Bố Sâm rút đao ra, vung thẳng lên trời hét lớn rằng:
“Ai dám xung phong giết giặc, lấy được một thủ cấp thưởng năm lạng bạc, giết mười thủ cấp thăng một bậc. Còn chém chết được thủ lĩnh giặc thì lập tức thăng làm cai trưởng, mau liều chết vì Đại Vương!”
Các tốp quân Sở ồ ạt tràn lên như thác, như bầy ong vỡ tổ tới hàng thương giáo quân Lâm Nam. Đôi mắt của những trường quân, thuẫn quân căng lên cực đại bởi số lượng đông đảo của địch nhiều vô kể, hòng nhấn chìm đội phương trận nhỏ bé.
“Hãy giữ vững đội hình!” – Vương Lô khô cả giọng vọng lớn –“ Không được để chúng tiến vào xứ Nam!”
Lúc giặc cách gần hai mươi bước thì đột ngột mặt đất rung chuyển liên hồi, lập tức đất bị nứt ra tạo thành nhiều mảnh hố kéo theo sĩ tốt nước Sở ngã vào. Những hố chứa đầy gai nhọn, cọc gỗ bọc sắt đâm vào người lũ giặc Sở ấy, làm cho chúng rên đau thê thương tột cùng. Bọn phía sau cũng té nhào xuống hố bởi chưa nhận ra đồng đội đằng trước đã gặp nạn. Đám tốp tiếp theo mới kịp chân dừng lại, thất hồn nhìn thấy lũ dưới hố sâu van xin khóc cha, gọi mẹ thê lương, thảm thiết sầu não.
“Cứu ta…cứu ta với…” – một tên lính rên kêu bởi bị cọc gỗ đâm xuyên người như xiên thịt, thể trạng vô cùng nguy kịch khó qua khỏi.
Kiệt sinh khí, nét mặt hắn chuyển sang tái nhợt, trắng bệch và lập tức tắt thở. Cảnh tượng đó làm cho lũ trên mặt đất hồn bay phách lạc, vứt hết cả binh khí chạy về phía nước Sở. Nhiều kẻ tháo chạy lao tới đâm vào đám còn tinh thần chiến đấu, chúng cũng ngơ ngác không hiểu. Cảnh tượng hai bên va chạm như hai dòng thủy triều vỗ sóng đập vào nhau, bọn nhát gan cố vượt qua đội hình giáo thuẫn tìm đường sống, còn đồng đội chúng cố la hét, dùng khiên đẩy đám chạy trốn quay lại chiến đấu, thậm chí đâm chém thị uy. Sự xô xác, hỗn loạn trận hình của Hỏa doanh diễn ra tức khắc, nhìn hệt như hai bên đang giao chiến lẫn nhau. Hơn trăm tên chết vì ngạt thở từ giẫm đạp và đâm chém bừa bãi, Bố Sâm tức tím tái cả người lên, quát lớn thì cuộc ẩu đả mới tạm ngưng.
Sai lầm nối tiếp sai lầm gây ra xung kích lớn, nghiêm trọng khủng khiếp làm cho toàn lực lượng Hỏa doanh từ tiểu tốt cho đến cấp chỉ huy chỉ muốn cầu sống thôi. Bởi không thể điều khiển đám lính này nữa, Châu Hiên ngậm bùi cay đắng thốt lên:
“Mau…mau lệnh một đội ở lại cản địch…còn lại thì rút khỏi cái mật đạo chết tiệt này…”
Bọn quân Sở miễn cưỡng rút lui có kỷ luật do lệnh nghiêm từ chủ tướng, từng đội từng ngũ rút quân ra khỏi “hang cọp tử thần” này. Dù trong lòng mỗi kẻ mang uất hận, không cam tâm vì để thua trước một đám Lâm Nam ít quân số hơn bội phần. Chúng thề sẽ nghiền nát, diệt tận gốc từng kẻ chống đối “Đại Sở” trên con đường xưng bá toàn Trung Nguyên khi thoát ra khỏi mật đạo, quyết trả thù lần sau.
Nhưng chẳng được dễ thở bao lâu thì trong thung lũng mật đạo lại xuất hiện các toán quân kỵ mặc giáp nâu gỗ đi ra từ một đường nhỏ, các chiến mã tràn ra như thác nước trào xuống hạ nguồn. Điều này làm cho Hỏa doanh trở nên mất hồn, nhiều tên đã tự ướt sũng nước trong quân do hoàn toàn kinh hãi trước làn ranh sinh tử.
“Sao…sao…Lạng Phùng Kỵ lại ở đây?” – Bố Sâm cố hốt ra nghi vấn, trong khi trán hắn chảy mồ hôi đầm đìa rất nhiều.
Tiếng vó ngựa đạp mạnh xuống nền đất đá, làm cả thung lũng mịt mù như cát bụi hoang mạc. Những đội kỵ Lâm Nam dũng mãnh xông vào đội hình trông quy củ những thực chất đã nát như tương từ trong sĩ khí của đám Hậu Sở.
Chỉ huy Phùng Thế vừa cầm thương, vừa quay đầu về hướng kỵ sĩ đồng hương mà nói:
“Giết chết lũ giặc Sở này! Báo thù cho Phùng tù trưởng [6]!”
“Giết chết Sở tặc! Báo thù cho Phùng tù trưởng!”
“Giết chết Sở tặc! Báo thù cho Phùng tù trưởng!”
“Giết chết Sở tặc! Báo thù cho Phùng tù trưởng!”
Tiếng reo hò, đồng ca cùng lúc của các kỵ sĩ Lạng Phùng Kỵ đã rung chuyển cả mật đạo. Mặc cho đội hình thuẫn giáo giặc đông như kiến, những người cưỡi ngựa cầm thương này dùng hết bình sinh mà lao thẳng vào đội hình đó, mỗi mũi thương đều cố gắng hạ gục từng tên một. Quân Hỏa doanh không còn khả năng chiến đấu nữa, nhiều tên chạy thục mạng bỏ đội ngũ của chúng. Trận chiến sau đó không khác gì một cuộc thảm sát: hơn ba ngàn quân Sở nằm lại trên chiến trường, cùng với chủ tướng Châu Hiên. Hơn mấy dặm trong mật đạo bốc mùi thi thể, hòa cùng mùi khói lửa từ xe ngựa.
Lá cờ kỳ khắc chữ ‘Sở’ ủ rũ được cắm giữa trận địa, bên cạnh một người lính mặc giáp xanh tím đã nằm ngửa với toàn thân đầy cung tên; có lẽ hắn đã tắt thở, bỏ lại thân xác ở đất khách xa lạ này. Ít ra người hắn còn lành lặn, trong khi bằng hữu hắn có kẻ bị đứt lìa tay, lìa đầu hoặc bị ngựa đối phương giẫm lên thành thịt vụn, lòng phổi tuông ra khỏi cơ thể. Những thi thể địch ta đều được chôn cất tại chân núi Sa Lì ( cách mật đạo 11 dặm về phía Tây) vào những ngày sau đó, nơi ấy được hậu thế gọi là “núi Lính Ngủ” – bởi là nơi an nghỉ cho quân nhân tử trận.
Lúc Nùng Tư Quốc quay trở lại Đương Sơn đại đội từ ải Nam Dương, ông đã rất bất ngờ khi nhận được tình hình do Vương Lô kể lại, sắc mặt ông phấn kích hỏi rằng:
“Anh thực sự đánh tan Hỏa doanh sao?”
“Quả thực là như vậy, bẩm chủ tướng” – Vương Lô đáp lại với vẻ hào hứng –“ Đám Hỏa doanh tự nộp mình vào chỗ chết, bởi thói kiêu căng, hách dịch của chúng. Chúng nghĩ dùng kế dụ Lạng Phùng Kỳ thì có thể ngang nhiên tiến vào mật đạo như chốn không người, nhưng lại mắc bẫy của chúng ta”
“Sao Lạng Phùng Kỵ có thể trở lại mật đạo nhanh chóng như vậy? Anh hãy cho ta biết thông suốt vấn đề” – Nùng Tư Quốc tiếp tục hỏi.
“Đa số quân Lạng Phùng Kỵ không hề rượt theo chiến mã của địch, họ đều chờ sẵn ở trong đường rẽ nhỏ của thung lũng mật đạo. Chỉ có số ít đuổi theo đám Trịnh Bình mà thôi…” – Vương Lô lại tiếp tục trả lời chi tiết, đầy đủ về tình tiết cho chủ tướng thấu hiểu sự tình chiến trận ở mật đạo.
Nùng Tư Quốc lại quay sang Phùng Thế thắc mắc thêm với ánh mắt còn hoài nghi:
“Có phải Lạng Phùng chỉ huy đã phối hợp với Vương Lô cùng nhau tiêu diệt Hỏa doanh chăng?”
“Bẩm Đương Sơn chỉ huy, hạ tướng thật đã phá tan toàn quân Sở tiến vào mật đạo vào hôm đó” – Phùng Thế giải đáp nghi vấn của vị tướng họ Nùng.
Rồi một kỵ sĩ tiến ra vén màn, tên này mang theo cờ hiệu rách nát của Hỏa doanh tới trước các chỉ huy trong lều trướng, ấy là bằng chứng cho thấy hai đội đã giành chiến thắng trước lực lượng áp đảo của Hậu Sở.
Nùng Tư Quốc lúc này đã hoàn toàn buông bỏ sự ngờ vực của mình, ông đã cười nhẹ một tiếng rồi nói với hai vị chỉ huy trẻ:
“Hai vị cùng các anh em chiến đấu thật là anh dũng, ta không thể nào dám đem sự nghi ngoặc của ta cho hai vị lần nữa. Ta sẽ gửi thư báo thắng trận về cho Lý tướng quân và Lê Đô Đạo, họ sẽ vô cùng phấn khởi trước tin tức thắng giặc Sở này và cũng sẽ khao thưởng huynh đệ tráng sĩ hậu hĩnh. Dân quân châu Lạng quyết lau bùn, rửa nhục chứ quyết không phục vụ ngoại bang!”
“Tạ ơn Nùng chủ tướng, bọn tôi sẽ không phụ lòng ơn này của chủ tướng!” – cả Vương Lô và Phùng Thế đều chấp tay cảm tạ lấy sự khen thưởng của Nùng Tư Quốc.
Chú thích:
[1] Tức là Chu Lệ.
[2] Lạng Phùng Kỵ là đội kỵ 600 người của Phùng Thế.
[3] Đó là biệt hiệu cho chỉ huy của Nhị đô đội trong quân Hậu Sở.
[4] Theo ghi chép thời xa xưa, tộc Người vốn do Đấng Trời sáng tạo ra và cũng nhờ các sứ giả ánh sáng từ phương Tây cứu giúp nên phương Đông mới đánh bại được ác quỷ. Người đời mãi ghi nhớ ân sủng mà luôn nhắc về “ân Đức Trời” khi làm sự tha thứ hoặc mong muốn sự tha thứ.
[5] Mặt trời.
[6] Phùng tù trưởng: túc là Phùng Tôn, trọng tướng giũa ải Nam Dương năm xưa(1916), đã bị Hạng Danh sát hại.