[Chúc các bạn độc giả đọc truyện vui vẻ!]
...o0o…
Nhân gian một nét hoạ đời,
Trời xanh mây trắng, chơi vơi nỗi lòng.
Lang quân một vẻ oai phong,
Ngọc nhan khuynh tiếu, kính trong như rằm.
Bút lông vẽ trọn nét mực cuối cùng, hàng chữ Nôm đen thẫm dần hiện ra, nổi bật trên nền giấy trắng. Hồ Ngọc Thanh đưa tay cầm cuộn giấy lên, thích thú nhìn không chớp mắt từng nét bút tiêu dao, tự tại nhưng còn hơi cứng nhắc. Sau đó cậu hài lòng gật đầu mỉm cười: “Thơ hay! Thơ hay!”
Tự khen xong, cậu lập tức đứng lên đi đến bên cạnh bàn thờ được đặt sát tường ở trung tâm gian nhà, đốt một nén hương, nhang khói bốc thẳng lên một cột thẳng đứng, mảnh như nét bút tỉa kỹ. Đây được xem như điềm lành, tượng trưng cho môi trường thanh tịnh, trường năng lượng hài hoà, ổn định.
“Cha! Con trai tặng ngài một bài thơ cuối cùng. Hôm nay con phải xuất thế theo lời ngài dặn rồi.” Thanh vừa nói, vừa gắn dây vào cuộn giấy, rồi đặt nó lên móc treo cạnh bệ thờ: “Ngài đừng nhớ con trai quá…”
Nhìn vào bức di ảnh của cha nuôi, cậu nhớ lại những năm tháng rèn luyện khổ cực, những trận đòn roi khi bản thân trốn tập mà lén học đạo thuật,… nỗi niềm nhớ nhung người cha già thoáng chốc tan biến.
“Hừ! Cũng chờ ngày hôm nay lâu rồi…” Thanh đột ngột quay lưng, đưa tay tự chỉnh đốn lại trang phục của mình: “Đừng tiễn con!”
Chàng đạo sĩ trẻ mang theo một chiếc ba lô sờn cũ của cha, bước chân ra khỏi căn nhà ba gian mái ngói được xây trên lưng Núi Lang Quân. Cậu ngậm ngùi đưa mắt ngắm nhìn toàn cảnh nơi mình lớn lên vài phút. Những hình ảnh thuở bé hiện về trong tâm trí cậu: những lần chợt té trên cọc gỗ sẽ bị cha mắng nhưng tay ông ấy luôn xoa vào những chỗ đau đầu tiên; mỗi khi gánh nước mỏi nhừ cả người, cậu sẽ vứt gánh ngồi tựa gốc cây mà ngủ gật, dẫn đến cha đi tìm khắp nơi; đống củi khô là nguyên liệu để cậu và cha có bữa ăn ấm cúng trong ngày, đôi lúc ông ấy còn tranh giành đùi gà nướng trong bát cậu;...
Những khoảnh khắc xưa cũ, giờ đây chỉ còn một thân cô độc khiến tấm lưng kiên cường và tự tin mới nãy bỗng hơi còng xuống. Thanh run run đút tay vào ngực áo Tràng Vạt màu đen xám (áo Giao Lĩnh thời Lý - Trần - Lê, loại áo có cổ bắt chéo trước ngực như loại áo tràng vạt của các nhà sư hiện nay), từ đó lấy ra một đồng kim tiền, rồi búng nó lên cao, đến khi kim tiền rớt xuống ngang đầu thì quơ tay bắt lấy.
Cậu dán mắt nhìn vào chữ phía Nam (南) được khắc trên bề mặt tiền xu đang hướng về phía trước: “Hướng Nam sao?” Cậu lẩm bẩm, rồi ngập ngừng vài nhịp, cuối cùng bước thẳng về phía cánh rừng già.
Phía bên trong nhà, ngay cạnh bàn thờ, một bóng trắng hiện ra quan sát bốn câu thơ của Thanh vừa viết. Sau đó ngóng về phía cậu, bóng lưng cao lớn dần hoá thành bóng hình non trẻ, một giọng nói trầm đục đầy dịu dàng vang lên: “Tiêu dao và tự tại à? Cầu mong các Đức Thánh Thần phù hộ cho con… Đi đường cẩn thận nha con trai của ta…”
Tiếp đó, bên cạnh hai câu thơ cuối do Thanh viết bỗng hiện thêm bốn câu thơ, nét bút tự do, phóng khoáng:
Nhân gian một nét hoạ đời,
Trời xanh mây trắng, chơi vơi nỗi lòng.
Đạo nhân một vẻ thanh phong,
Ngọc tâm vô cấu, tựa trăng giữa rằm.
(Thơ được viết bởi Mặc Nguyệt Thư Các.)
Ngay sau đó từ trong nhà bay ra một con hạc giấy, bay cao lên bầu trời. Đến khi trời tối đen, hạc giấy đã bay hàng vạn cây số đến Núi Cổ Linh để truyền tin, cho một người đàn ông mặc áo Đối Khâm màu xanh đen, dưới thắt lưng có một ngọc bội màu vàng khắc chữ Lại (吏).
Người đàn ông trung niên nhận được hạc giấy thì nhanh chóng mở ra, trên giấy viết:
[Hồ Ngọc Thanh - Đạo hiệu Kính Nguyên. Hiện đạo hạnh đạt Sơ cấp Hạ Vũ. Bần đạo tự ban phẩm cấp là Tòng Nhất phẩm Lễ vị Pháp sư.
Kính Nguyên Đạo sĩ đã chính thức xuất thế, về phía Nam núi Lang Quân.
Ký bút: Chánh Lục phẩm Hình vị Pháp sư - Mặc Diêu Đạo sư.]
“Nhanh chóng thêm vào hồ sơ!” Người đàn ông đọc xong thì đưa giấy cho thanh niên đứng bên cạnh.
“Hướng Nam của Núi Lang Quân sao… Thông báo cho tam đệ tử của Pháp Luân Đạo sư, nhờ hắn chăm sóc đứa trẻ này!”
“Vâng!” Người thanh niên nhanh chóng nhận lấy tờ giấy, nhưng anh vẫn đứng bất động một chỗ.
Ngập ngừng vài giây, anh cúi đầu chắp tay, kính cẩn hỏi: “Dạ thưa thầy! Con có chút thắc mắc về việc tam đệ tử của Pháp Luân Đạo sư đã phá giới từ lâu, vậy thì tại sao…?”
Người đàn ông nở nụ cười hiền từ, vẫy tay ra hiệu thiếu niên đưa đầu lại gần: “Không sao.”
“Bởi vì đứa trẻ này là…”
Thiếu niên nghe xong thì trợn to mắt, ngạc nhiên nhìn người đàn ông. Cậu vừa há miệng thì đã bị ngón tay thon mảnh của ông ta chặn lại: “Chết là hết! Nhưng luân hồi vẫn xoay, nhân quả vẫn phải trả.”
…o0o…
Vào giờ Tý canh ba (khoảng 23 giờ đêm hôm trước đến 1 giờ sáng hôm sau), âm khí trời đất giao hoà cực thịnh, đây cũng là lúc Hồ Ngọc Thanh thoát khỏi cánh rừng, đặt chân đi đến Quốc lộ 21 dưới chân núi Lang Quân.
Đúng lúc này, giữa không gian tĩnh mịch, hiện trường tai nạn giao thông đập vào mắt cậu. Một chiếc ô tô con màu xám bạc có vẻ đã mất lái phá xuyên qua dải phân cách, rồi đâm xùm vào thân cây cổ thụ bên đường khiến đầu xe nát bét.
Không một chút chần chừ, Thanh thi triển bộ pháp, chạy đến với tốc độ cực nhanh, chỉ trong vài chục giây ngắn ngủi đã vượt qua vài trăm mét. Ngay khi vừa đến cách hiện trường năm mét, cậu đột ngột dừng bước, bộ pháp vững chãi như đóng đinh xuống mặt đường.
Đôi lông mày cậu khẽ nhíu lại, không phải vì sợ hãi, mà bởi linh cảm nhạy bén đã phát giác được từng mảng âm sát nồng đậm đang hội tụ nơi đây.
Thanh khẽ lẩm bẩm: “Oán khí đã tích tụ rồi sao? Chết thật!”
Theo sau đó, cậu nghiêng người tháo ba lô xuống để lấy vật dụng cần thiết gồm hương, đăng, hoa, quả, trà. Trong tình thế gấp rút, cậu chỉ có thể dùng vài quả táo rừng vừa hái ban chiều để thay thế cho cả hoa.
Phải biết giờ Tý canh ba là thời gian âm thịnh dương suy, cộng thêm việc nạn nhân chết bởi tai nạn rất dễ nảy sinh chấp niệm với nhân gian, từ đó sinh ra oán niệm. Thanh phải mau lập đàn cầu siêu tạm thời để trấn an vong linh. Nếu không thì họ sẽ hoá thành oán linh, về sau sẽ khó mà siêu độ đầu thai.
Đầu tiên Thanh đổ nước sạch vào chén thế cho trà, sắp xếp mọi thứ vào đúng vị trí. Tiếp đó, vừa dùng tay trái bắt ấn, vừa dùng tay phải vung bút lông đã chấm mực chu sa, viết lên mảnh giấy vàng được đặt dưới đất một dòng chữ: Phụng thỉnh vãng sinh vong linh tử nạn vị tiền.
Tiếp theo Thanh lấy ra chiếc chuông nhỏ, vừa lắc nhẹ ba hồi, vừa bắt ấn quyết xin phép thổ địa cho vong linh về đàn thụ hưởng lễ vật và nghe cầu siêu.
Ngay sau đó cậu đưa tay đốt đèn cầy và ba nén hương trầm hướng về phía chiếc xe hơi. Ánh lửa đèn cầy bập bùng soi rõ khuôn mặt trái xoan nghiêm nghị, đôi lông mày kiếm cau chặt, cậu bắt đầu lầm bầm tụng niệm: “Đức Thánh oai hùng, siêu luân nhược hải… U ám thông quang, tội khiên tiêu diệt…”
(Tài liệu tham khảo, không khuyến khích làm theo!)
Ngay tức khắc, hương khói dâng lên đứt đoạn và tản mạn khiến cậu trợn mắt, trán bất giác đổ mồ hôi hột. Cậu không biết với đạo hạnh hiện tại của mình liệu có thể xử lý vụ việc này hay không?
Theo như cha dạy, khi hương tản mạn thì là lúc tâm trạng bất ổn, cần tạm hoãn quyết định quan trọng, do trường năng lượng không hài hoà, dễ gặp trở ngại. Thế nhưng, khi nhìn vào hiện trường vụ án và oán khí đang càng nồng đậm hơn, Thanh không tiếp tục chần chừ, lập tức ngồi xếp bằng xuống, tay bắt ấn Cam Lộ (ngón cái bấm vào gốc ngón áp út), tâm niệm Tiêu Dao Quyết do cha dạy để giữ lòng thanh tịnh.
Sau khi tập trung, Ngọc Thanh mới bắt đầu niệm chú cầu nguyện, mượn lực từ các Đức Thánh (Anh linh của các vị anh hùng dân tộc):
“Trời Nam khí tiết, vạn cổ anh linh.
Sơn hà chung đúc, hiển hách uy linh.
Tiền nhân phò chính, hậu thế tòng tâm.
Thánh Đức quảng đại, tà khí bất xâm.
Cấp cấp như luật lệnh!”
Ngay khi lời niệm kết thúc, một dòng nguyện lực màu vàng nhạt bay ra từ cơ thể Thanh, phân tán tạo thành một chiếc bát úp ngược bao phủ toàn bộ hiện trường tai nạn. Tiếp đó, cậu vừa minh tưởng vẽ một thanh bảo kiếm trong linh thức (linh hồn ý thức), vừa niệm linh chú:
“Duyệt binh trảm tướng, khí quán ngưu tinh.
Vạn kiếp linh từ, trấn nhiếp tà linh.
Thủ trì bảo kiếm, dẹp sạch u minh.
Vong hồn bạt độ, tà khí hoá thanh.”
Thanh bảo kiếm trong minh tưởng dần hiển hiện ra sau lưng cậu, khi hoàn toàn hiện nguyên hình thì lập tức chém ngang qua chiếc bát. Cũng ngay sau đó, một luồng oán khí bùng lên khiến chiếc bát lung lay không ngừng. Từng đợt oán khí phóng tới như kim châm đâm vào da thịt, Thanh cắn nhẹ đầu lưỡi nhằm giữ vững sự tập trung.
Bỗng cơ thể Thanh phát ra một ánh hào quang vàng nhạt, bao trùm bản thân, chặn lại oán khí ở bên ngoài. Lúc này mồ hôi hột lấm lem khắp vạt ngực áo, cậu tĩnh tâm lại vài giây, lần nữa mấp máy đôi môi mỏng niệm tiếp giải oán chú:
“Nhân kiệt địa linh, thánh đức từ bi.
Chánh đạo quang minh, tẩy tịnh sầu ưu.
Quy bước tiền nhân, rũ bụi trần ai.
Hồn nương chính lộ, trực chỉ luân hồi.”
Phụt! Thế nhưng một luồng oán niệm đột ngột bộc phát mạnh mẽ, phá vỡ chiếc bát, thậm chí đánh bay Thanh bay về phía sau. Pháp chú bị cắt ngang khiến cậu phun ra một ngụm máu đặc, cơ thể cũng suy yếu đi.
“Không! Ta hận! Ta hận!” Ngay sau đó là tiếng vọng khàn đặc, âm ỉ vang ra khắp vùng.
Đến cuối cùng thì đạo hạnh của Ngọc Thanh vẫn quá thấp. Cậu đưa mắt chăm chăm nhìn vào nơi ghế lái đã nát bét, cũng là nơi oán khí hội tụ mạnh nhất, thầm than không ổn.
(Hết chương)
(2265)
Phần lời niệm chú được làm bởi Mặc Nguyệt Thư Các.
Tầng cảnh giới trong truyện: Hạ Vũ - Trung Vũ - Thượng Vũ - Địa Linh - Thượng Linh - Tuệ Cảnh.
Mỗi tầng cảnh giới phân chín giai từ nhất giai đến cửu giai, cứ mỗi tam giai là một cấp:
- Nhất giai đến Tam giai là Sơ cấp.
- Tứ giai đến Lục giai là Trung cấp.
- Thất giai đến Cửu giai là Thượng cấp.
Phân cấp trong giới pháp sư gồm Lục vị, Chín phẩm, Tam cấp:
- Sáu vị gồm: Lại vị, Hộ vị, Lễ vị, Binh vị, Hình vị, Công vị. (Dựa theo Lục bộ trong triều đình Việt Nam)
- Chín phẩm gồm: Nhất phẩm đến Cửu phẩm.
- Tam cấp gồm: Chánh, Thừa, Tòng. (Ban đầu chỉ có Chánh, Tòng trong triều đình, nhưng tôi thêm Thừa cho đủ bộ 3 - 6 - 9. Chánh là chỉ huy, Thừa là những người có kinh nghiệm lâu năm, Tòng là lính mới.)
Nguyện lực là sự thành tâm cầu nguyện đến các Đức Thánh Thần sẽ hình thành nguyện lực hỗ trợ trong việc trừ ma, xua đuổi tà khí hay vận rủi,…