Cuối tháng 9 năm 1448, mùa đông năm nay đến sớm hơn mọi năm. Những bông tuyết đầu tiên đã bắt đầu rơi từ rạng sáng hôm qua, đến hôm nay thì đã tích tụ thành một cơn bão tràn đến ngôi làng Ozelot này. Ozelot không tính là nhỏ bé, nhưng một phần diện tích lớn trong làng thực ra là để dành cho căn biệt trang mới xây của một dòng tộc quyền quý.
Chả rõ tại sao gia đình dòng chính Wanvole lại chuyển từ thủ đô Ylsidios đến khu vực gần như là hẻo lánh ở miền Bắc lạnh giá này của Liên Bang. Nhưng nhiều người đã đoán là vì một số vụ đột nhập hụt vào biểu tượng cho tiền và quyền của Wanvole, "Lâu đài Bạc" ở Ylsidios.
Đêm đông hôm nay đánh dấu mốc 9 tháng từ khi họ dựng nên ngôi nhà mới cho mình ở phần rìa ngôi làng vẫn còn đang phụ thuộc vào phép thuật. Ozelot có lẽ còn cần vài thập kỷ nữa để vươn tay chạm đến những thứ đồ công nghệ sáng bóng và xa xỉ từ những nhà máy ở thủ đô. Và cũng vì không muốn quá nổi bật giữa những căn nhà ngập mùi than, căn biệt trang vẫn giữ lại những ngọn đuốc gắn tường.
Ánh đuốc cam hắt lên từng khuôn mặt đang chăm chú theo dõi, bị chặn lại bởi sự dày đặc của những đôi tai mèo trên đầu mỗi người trong căn sảnh rộng lớn, không chạm tới được tấm thảm đỏ dưới sàn. Tuy được đám người quây quanh, hai ông bà Wanvole vẫn có vẻ cô quạnh kỳ lạ. Đứng gần ông bà chỉ có duy nhất một người phụ nữ già nua, cổ đeo đầy những mặt dây chuyền khắc biểu tượng quái dị.
Cánh tay bà lão đặt lên trán của sinh linh nhỏ bé, bà nhắm mắt lại một lúc. Được một hồi lâu, bà lão ngồi xuống. Bàn tay nhăn nheo run lẩy bẩy rút về từ cái trán nhẵn bóng, non nớt của đứa bé được ông bà nhà Wanvole bế trong lòng. Mái tóc và đôi tai mèo mang sắc đỏ tạo ra sự rợn người khi quan sát quá lâu, đối lập hẳn với khuôn mặt ngây thơ đang say giấc.
- Chắc bà cũng biết... màu lông đặc trưng của dòng họ Wanvole, "dòng tộc của Bạc", là màu xám. Vậy tại sao... nó lại màu đỏ?
- Đứa trẻ này... chính là hiện thân của quỷ dữ! Con ông bà đã bị quỷ dữ đánh tráo, nó không nên là con hai người!
Lacato Wanvole nhíu mày, nhìn xuống vẻ vô tội của nó, rồi ném một ánh mắt nghi ngờ về phía bà lão tiên tri. Vợ ông, bà Cevalic Wanvole dường như mất hết hy vọng, và vùi đầu vào ngực ông mà khóc nấc lên. Đứa bé được chuyển hoàn toàn vào vòng tay của ông, Lacato cố trấn an bản thân.
- Sao có thể? Nó chỉ đơn giản là có màu sắc khác thôi mà. Chúng ta không thể tàn nhẫn với một đứa bé còn chưa biết đi được, không phải mấy cái thứ bà nói cũng chỉ từ truyền thuyết mà ra sao? Có gì ngu ngốc hơn chứ, bảo vợ tôi nuốt nó lại vào bụng hả?
- Tôi đã thấy n— nó... quỷ dữ. Đỏ hơn cả màu lông của nó, ác quỷ tắm trong máu và biển lửa. Nếu không bỏ nó, thì ông bà, bố mẹ, họ hàng sẽ cháy hết, cháy rụi!
Khi lời tiên tri được xướng lên, đám đông dần lùi xa khỏi ba người nhà Wanvole. Họ xì xào bàn tán. Có tiếng cầu nguyện, có tiếng thở dài, thậm chí có tiếng chửi rủa, mà không biết vì sợ hãi, thất vọng hay căm ghét.
Mặt của ông chủ biệt trang nhà Wanvole đanh lại, Lacato phẩy tay ra lệnh. Đám người hầu tự biết ý, dẫn hết đám đông và cả vị nữ tiên tri già ra ngoài cổng. Tiếng động và ánh sáng cuối cùng cũng đánh thức đứa trẻ. Tiếng òa khóc của nó vang vọng khắp sảnh, hòa thành một bản giao hưởng hỗn độn với âm thanh của cơn bão bên ngoài.
- Không sao hết, đừng lo gì cả, nó sẽ ổn thôi. Nó sẽ ổn m—
- Nhưng còn lời tiên tri thì sao? Bà ấy đã nói—
Âm thanh cãi vã của hai ông bà vẫn tiếp tục, kể cả khi nó bị át đi bởi những lời xôn xao đầy hoang mang và căng thẳng của dòng người trôi qua cổng, tiếp tục đến khi sự trống trải lại một lần nữa lấp đầy từng hành lang ngoắt nghéo, được phủ gần kín những tấm gia huy đủ kích thước, hay những bức chân dung cổ kính của dòng họ. Cánh cổng đóng lại, ngôi biệt trang chìm vào sự im ắng từ trước đến nay chưa từng có, nhưng chỉ trong một khoảnh ngắn. Văng vẳng đâu đó tiếng sụt sịt của một người mẹ, và giọng trầm đục của một người cha.
- ...Nhưng tiên tri vẫn có thể sai, nếu con chúng ta cũng chỉ là một đứa trẻ bị đột biến gene màu lông thôi thì sao? Em không nên tin những thứ làm hại đến mình.
- ...Cũng muộn rồi, chúng ta nên đi ngủ.
- Hứa với anh là em sẽ không nghĩ về chuyện này nữa.
- Em sẽ cố... vì tương lai của con chúng ta, Lana—
Nhìn từ bên ngoài, cuộc sống của gia đình nọ vẫn tiếp tục như không có chuyện gì, không thay đổi gì. Như thể sự kiện đứa bé nhà Wanvole ra đời chẳng khác nhiều khi đem so với chuyện cổ tích.
Họ quên nó đi, rồi lại nhớ đến nó trên bàn nhậu và trong các hàng quán, ở cùng một chỗ với những tin đồn về chính trị và người nổi tiếng.
Đúng, sự tồn tại của đứa con nhà lý thuyết phép thuật Lacato Wanvole chìm vào sự nghi ngờ, và hóa thành một thứ mù mờ mà những người ở cùng tầng lớp với ông không ai quan tâm hay xác minh, giống như một mục trong tờ báo lá cải.
Vì nó đã được giấu đi.
Thời gian trôi như thoi đưa, thấm thoát đã qua nửa thập kỷ. Cái màn sương che giấu của họ cũng mỏng dần, chỉ còn chờ một cái phẩy tay đủ mạnh để tiêu tan hoàn toàn.
- Hiện tại thì không sao... Nhưng còn tương lai thì sao, ai sẽ là người kế nhiệm của dòng tộc?
- Hãy cứ để anh sắp xếp, tình hình hiện tại đang rất căng thẳng. Ảnh hưởng của chúng ta đang suy yếu—
- Vì không ai trong giới biết về con chúng ta nên ảnh hưởng của ta mới suy yếu!
Cevalic rơm rớm nước mắt. Khuôn mặt khắc khổ của bà đã dần không còn cố giấu sự hoảng loạn. Còn Lacato thì ngồi im, tẩu thuốc để trên bàn. Mùi khói của thuốc cũng không còn quá hiệu quả để xua đi nỗi bất an của ông.
Một khoảng khắc hiếm hoi trong dòng chảy lịch sử, mà thế đối đầu của 4 dòng quý tộc Liên Bang Felineria lệch hẳn về một bên. Wanvole và Union từ bao đời nay theo phái cải cách, cân bằng lại ảnh hưởng của phái thân vua, dẫn dắt bởi Navallel và Clynoir.
Thế nhưng Navallel và Clynoir đã có sẵn những bước tiến từ trước nhằm lật đổ phe cải cách. Mục tiêu chính hiện tại không ai khác ngoài họ. Thiên thời địa lợi, lời tiên tri về đứa con mà họ đang giấu khỏi công chúng của mấy năm trước vẫn còn đó, như một quả mìn chờ được kích nổ. Và phái thân vua cũng sẽ, sớm hay muộn thôi, lần được ngòi nổ.
Chỉ vài tháng là đủ để vạch ra những cái kết đã sắp đặt sẵn cho dòng tộc của màu xám. Nhưng khi những bánh răng của những kế hoạch sặc mùi chính trị đang chuyển động, một cậu bé vẫn đang ngồi trong thư phòng của biệt trang Wanvole, cười khúc khích trước những câu chuyện đầy màu sắc từ trong những trang sách. Tựa như lá chắn bình yên của nơi này sẽ không bao giờ sụp đổ.
Nhưng chính cậu có lẽ đã nhìn ra vài vết nứt. Vài ngày gần đây, bố không còn dạy học cho cậu nữa. Ông ngày càng bận bịu, cả ngày chỉ ra khỏi phòng làm việc lúc ăn mà thôi. Mẹ của cậu thì cũng hành động rất lạ. Mỗi khi bà ấy ngồi một mình, trông mẹ luôn mệt mỏi. Nhưng cứ khi cậu chạy đến hỏi thăm, thì mẹ lại trở về bình thường. Bà ấy khác với bố, luôn mỉm cười khi kể chuyện cho cậu về thế giới ngoài kia.
- Mẹ ơi, sao hôm nay lại ít người hầu vậy ạ?
- ...Không sao đâu, chỉ cần bố mẹ, và con ở cùng nhau, chuyện gì ta cũng lo được. Mọi chuyện đều sẽ ổn thôi.
- ...vâng.
Cậu không cảm thấy mẹ đang nhìn mình. Ánh mắt của Cevalic hướng ra đâu đó, xuyên qua người cậu, về một miền xa xăm mơ hồ.
Nhưng khi bà bắt đầu kể chuyện thường ngày, và ông Lacato cũng đồng ý dành thời gian cho cậu dưới dạng một buổi dạy học, cậu bé đó dần quên đi những lo âu mà cậu đã cảm thấy từ họ. Tựa như sự bình yên ấy sẽ mãi ở lại trong căn biệt trang, nhưng không. Cậu sẽ sớm nhận ra cậu không còn có thể là một cậu bé đam mê phép thuật và sống dưới sự bảo hộ của gia đình nữa.
Bắt đầu có lẽ là từ vụ ám sát công tước Ivor, một đồng minh thân cận của gia đình họ, và tiếp sau đó là đồng nghiệp, là trợ lý của ông bà Wanvole. Người ta lục tìm lại trong đầu, và hình ảnh họ thấy, trong căn sảnh hôm nào đó, là đứa bé, "ác quỷ màu đỏ" trong lời tiên tri.
Họ liên kết ký ức nọ với những cái chết, và hét lên từ phía ngoài cánh cổng rằng ông bà phải t-rừ khử cái hiểm họa chết tiệt mà ông bà đang nuôi dưỡng đi. Khi yêu cầu gặp phải sự kháng cự, họ phẫn nộ, và họ cứ thế muốn hoàn thành cái "sứ mệnh" ấy cho bằng được. Hàng chục thú nhân tràn vào biệt trang. Có những ngọn đuốc, lửa bén và đám cháy dần lan rộng. Nhưng đám bọn họ chả bao giờ tìm được cái họ săn lùng, khi nó đã chạy trốn, bỏ lại hai ông bà vật lộn trong cơn thịnh nộ của cả ngôi làng.
Họ trói Lacato và Cevalic lại trước khi phát hiện đám cháy. Và mặc kệ cặp đôi gào thét, cầu cứu trong lúc căn biệt trang sụp đổ, lụi tàn trong ánh lửa của sự nhẫn tâm. Không ai ngoái đầu lại để chứng kiến sự kết thúc của gia đình Wanvole, chỉ có một bóng hình nhỏ con đứng từ xa lặng lẽ quệt nước mắt và quay đầu chạy tiếp.
Sau đêm kinh hoàng, trên đường phố và trong các ngõ hẻm vùng ngoại ô dần xuất hiện một bóng hình trẻ con. Đứa trẻ đó lang thang khắp nơi, với hy vọng mong manh rằng mọi thứ "sẽ ổn thôi" như lời mẹ nói. Rằng nó sẽ được quay lại cuộc sống bình yên của ngày trước. Nhưng trước hết, nó cần phải sống sót để đợi đến ngày được trở về.
Chỉ có một điều mà nó không hề được báo trước, rằng thứ đón chào nó ở đây không có gì giống như căn nhà quen thuộc đã bị ngọn lửa nuốt chửng. Không có lò sưởi, không có thức ăn ngon và không có nước uống sạch. Không còn quần áo mới hay những cuốn sách hay ho đã nuôi dưỡng bộ óc trẻ thơ của nó.
Nơi đây cho nó nước mưa, đồ thừa. Cho nó những cơn ớn lạnh từ những ánh mắt dò xét của đám côn đồ địa phương. Cho nó những con chuột chết và đủ các loại cây cỏ kỳ lạ và cực kỳ bốc mùi.
Đêm thứ tư sau khi nó chạy thoát, nó đã tìm đường vào một bãi đổ rác công cộng và định nghỉ tạm trong đó. Nhưng mùi hôi thối, cộng thêm cơn đói, khiến nó không thể ngủ. Đứa trẻ đó đi vòng qua những núi vỏ chai lọ và mảnh kim loại chồng chất, tiến đến chỗ để vải thừa, đồ đạc vứt đi.
Đang rón rén né tránh mảnh sành dưới đất, chợt từ bên cạnh của nó phát ra tiếng lục cục. Con mèo đỏ đứng sững lại, đôi đồng tử màu hồng ngọc nhìn trân trân về phía bên trái. Hai chấm trắng lóe lên giữa sắc đen hồng mờ ảo của bầu trời chạng vạng. Một hình bóng lưng gù tiến đến ngày càng gần. Đứa bé đó bắt đầu run lên, cơ thể nó, dù vì mệt hay vì sợ, cũng đã cứng đờ ra, không dám bước nửa bước lùi lại.
Ông già di chuyển ra khỏi chỗ bị bóng của những thanh phế liệu che khuất, lộ ra chỏm râu bờ bụi, khuôn mặt đầy nếp nhăn, sống mũi gồ lên như đã gãy, và một cái tai xanh dương duy nhất trên đầu. Chỗ đáng lẽ là cái tai mèo còn lại bị bịt lại bằng một cái mũ quái dị có những tua rua mọc ra. Bởi vì thực ra nó được chắp vá từ những cái tất thủng, các đường khâu lại chằng chịt không được giấu đi.
Ông ta đi đến trước mặt nó thì dừng lại. Tính ra ông ấy cao hơn nó nhiều, nhưng vì cột sống đã còng xuống quá nặng nên hai cặp mắt của họ vẫn gần như ngang nhau. Nhìn chằm chằm một lúc, đứa trẻ lông đỏ cũng dần dần thả lỏng, nó mấp máy môi.
- Xi—xin chào...?
Không có lời phản hồi. Nhưng ông ta vẫn có vẻ hiểu, mí mắt ông hơi cụp xuống. Ông quay người, vẫy tay như bảo nó đi theo, rồi nó cũng cứ thế mà bám theo sau tấm lưng gù, dù trong lòng vẫn đang hoang mang.
Hai người di chuyển đến một các hốc, có vẻ là tàn tích còn lại của một cái ống trụ rỗng lớn, đã bị thủng một lỗ ngang thân đủ vừa để nó lách vào dễ dàng. Cái hốc này cũng không có gì, chỉ có một tấm chiếu đứt mất một góc và một tấm lưới đánh cá cũ kỹ giắt đầy vỏ trái cây, phần lớn trông như được khâu dính lên.
Nghĩ đến trái cây làm bụng nó cồn lên, tiếng ùng ục lớn đến mức ông già kia cũng nghe thấy. Ông dắt nó ngồi xuống, và móc từ cái quần có quá nhiều túi hơn mức bình thường ra một bọc giấy gói. Mở bọc ra, trong đó là một cái gì đó dẹp lép, màu nâu xỉn, trông hơi ướt. Một vài mảnh vụn rơi ra khi ông bóc giấy, khiến ông cúi xuống nhặt từng vụn, rồi bỏ vào mồm.
Đứa bé mới từ cảnh ngậm thìa vàng ra sao có thể chịu được cảnh đó? Nó có cảm giác buồn nôn, nhưng rồi, dạ dày nó còn gì để nôn đâu. Nó đã không ăn gì được ba ngày rồi. Ông lão dừng lại, như đang băn khoăn vấn đề gì to tác, và cuối cùng cũng bẻ cho nó một nửa, rồi ông đưa nửa còn lại lên cắn. Cắn lí nhí, từng chút một, cứ như thứ đó là cao lương mỹ vị, ngàn năm có một. Nó lưỡng lự, rồi cũng nhận lấy "món quà" của ông ta. Hai người chia sẻ nhau một mẩu bánh mỳ mềm oặt, vỏ bánh mủn cả ra do nước mưa.
Nếu không bị cơn đói che mắt, có lẽ nó đã để ý nửa của nó hơi dài hơn của ông.