Kiệu đi chậm trên con đường lát gạch, gió đầu năm lùa qua khe rèm lụa, mang theo hơi lạnh khô và một thoảng mùi pháo cháy dở.
Trịnh Khải ngồi tựa vào thành kiệu, dải khăn tang thắt trên đầu hơi lệch, anh cũng không buồn chỉnh. Mùng Ba đã qua từ lâu. Trong phủ Chúa, những ngày ấy trôi đi lặng lẽ, không đèn, không pháo, không câu đối. Chỉ có hương khói sáng tối và tiếng người đi lại nhẹ chân, như sợ đánh thức thứ gì.
Kiệu đi ngang một cổng phụ bên hông gần Diệu Công Môn. Nơi đó có hai cánh cửa mở hé cho người đưa củi ra vào. Qua khoảng hở ấy, anh thấy một đoạn phố ngoài kia. Câu đối đỏ dán lệch trên cánh cửa một hàng bán chiếu. Cây nêu dựng trước vài nhà, dải giấy vàng phất phơ. Mấy người mặc áo mới xách gói mứt bọc giấy dó đi chậm rãi, người đang đi chúc Tết hết nhà này sang nhà khác. Xa xa có vài tiếng pháo lẻ, đì đẹt rồi tắt.
Một đứa nhỏ cầm cờ giấy chạy ngang qua cổng. Trịnh Khải nhìn theo cho đến khi chiếc kiệu đã đi xa.
Trong lòng anh, giờ chỉ còn một ngọn lửa cháy âm ỉ, nhưng vẫn rực sáng.
"Bẩm Chúa thượng, sắp đến rồi ạ."
Gia Thọ đi bên cạnh kiệu, một tay giữ cuốn sổ nhỏ. Sáng nay người của Công phiên mang thư đến, chỉ vài dòng của Lê Quý Đôn.
“Hầm khí đã hoàn thành, kính mời Chúa thượng đến xem. “
Anh đọc đến lần thứ ba mới đặt tờ giấy xuống. Trong ngực có thứ gì nhúc nhích, nhỏ thôi, nhưng lạ. Từ hôm hai mươi bốn tháng Chạp, anh chưa thấy mình mong đợi điều gì.
"Chưa chắc chắn điều gì." Anh tự nhủ.
Nhưng ngón tay đặt trên đùi đã gõ nhịp từ lúc nào không hay.
Lê Quý Đôn đứng chờ ở cổng Công phiên, hai tay chắp trong tay áo rộng. Trịnh Khải xuống kiệu, bước lại gần. Anh nhận ra ngay ông gầy đi một chút. Mắt trũng hơn, vùng da dưới mắt thâm lại, sắc mặt nhợt như người ngủ không đủ. Khi ông cúi người hành lễ, lưng dừng lại một nhịp rồi mới thẳng lên.
"Thần bái kiến Chúa thượng."
"Lão sư không cần đứng chờ ngoài gió."
"Thần quen rồi." Lê Quý Đôn mỉm cười, giọng vẫn khoan thai như mọi khi. "Hầm khí đã xong, mời Chúa thượng vào xem."
Trịnh Khải định bước đi, rồi thôi. Anh nhìn vị lão thần thêm một thoáng. Anh muốn hỏi, nhưng lại không biết hỏi gì, nên thốt ra chỉ là một câu hỏi thăm.
"Lão sư vất vả rồi."
Nghe vậy, Lê Quý Đôn quay lại nhìn anh. Lúc sau, ông chắp tay, đa tạ.
“Thần tạ ơn Chúa thượng quan tâm.”
Sau một nhịp như thể đắn đo điều gì, Lê Quý Đôn mới tiếp tục.
"Trước khi vào, thần có việc muốn bẩm." Lê Quý Đôn nói. "Trong lúc chờ công trình hoàn thiện, thần nhân rảnh đã hệ thống lại những điều Chúa thượng đã dạy, ghi thành một cuốn sách. Chỉ là còn sơ sài, đợi xong sẽ xin dâng Chúa thượng xem."
"Sách?"
"Bẩm, đúng vậy ạ. Thần cũng muốn người đời sau có thể dựa vào đó mà phát triển thêm.”
Trịnh Khải gật đầu, giữ nguyên nét mặt. Trong đầu anh, một con số tự hiện lên.
“Đã sang Quý Mão. Vậy sang năm là Giáp Thìn.”
“Chỉ còn một năm.”
"Lão sư làm vậy là tốt."
Anh giữ cho giọng mình không đổi khác.
"Mời lão sư dẫn đường."
Lê Quý Đôn cũng không nói thêm. Hai người cùng bước vào Công phiên, Gia Thọ theo sau.
Phía sau Công phiên có một khoảnh sân rộng giáp bức tường thấp. Tháng trước nơi này còn ngổn ngang gạch đất, giờ đã gọn gàng. Thân hầm nhô lên thành một ụ tròn, đất đắp kỹ, nắp gỗ phủ rơm khô để giữ ấm. Nhìn kỹ ở sườn ụ vẫn thấy vệt hồ vôi trám, lớp dầu trẩu quét bóng như mỡ. Những đường rạn từng chạy như mạng nhện trên thành gạch đã biến mất, chỉ còn một mặt vữa đều.
Trịnh Khải nhìn dọc xuống phần đất gần đó. Anh lia mắt tìm đường ống, nhưng chỉ thấy một đoạn nhỏ từ mặt đất nhô thẳng lên trời.
“Vậy là ống đã được lấp đất lên.”
Anh tiến đến gần hơn, nhìn lại cho kỹ.
Ống tre là loại tre già dày mà đội trưởng từng nói. Mối nối quấn da trâu đã khô se, siết thành từng vòng đen bóng. Cuối đoạn ống có một bộ phận bằng gỗ, mà anh nhận ra ngay từ cái hình dáng, dù chưa từng nhìn thấy nó ngoài tờ giấy than đen.
Đội trưởng cùng mấy người thợ đứng chờ cạnh ống, thấy anh liền cúi chào. Cả nhóm có người trẻ người già, người thợ nề gầy ngày nọ cũng có mặt, tay vẫn dính vôi. Bên cạnh ống đặt sẵn mấy thùng nước, vài bao cát, một cây sào dài dựng nghiêng vào tường. Một đoạn vạch vôi trắng kẻ trên mặt đất, cách đầu ống chừng ba trượng.
Trịnh Khải đưa mắt nhìn một lượt những thứ ấy, không nói gì.
Anh nhớ lại tờ giấy than đen hồi trước. Đường ống chỉ là một nét thẳng, cái van chỉ là một vòng khoen có vạch. Giờ thì nó nằm đó, bằng tre, bằng da, bằng gỗ, nặng thật, nhìn thấy được, sờ được.
"Tốt." Cuối cùng anh nói. "Khác hẳn cái mình vẽ."
"Van này, các ngươi làm thế nào?"
Đội trưởng nhìn sang Lê Quý Đôn, rồi mới gãi đầu đáp.
"Bẩm Chúa thượng, thân van bằng gỗ lim, khoét một lỗ tròn xuyên ngang. Trong lỗ có một cái chốt, cũng gỗ lim, tiện hơi thuôn một đầu cho ăn khít vào. Trên chốt khoét một lỗ ngang, trùng với lòng ống thì thông, xoay đi thì chốt chắn lại."
Ông hơi ngập ngừng, mắt nhìn sang chiếc van đang nằm bất động.
"Chốt bôi sáp ong, bọc da mỏng ở cổ, cho kín. Khó nhất là làm sao chốt xoay được mà không hở. Bọn thần làm hỏng mười hai cái mới được một cái này."
Gia Thọ ở phía sau đã mở sổ, ghi vội. Trịnh Khải liếc thấy y viết con số mười hai thật to.
Lê Quý Đôn cũng chắp tay, tiếp lời.
"Thần xin thưa rõ để Chúa thượng định liệu công. Chỗ khóa mở, ý ấy là của Chúa thượng, do Chúa thượng mô tả. Còn cái lý vì sao một cái chốt xoay một phần tư vòng thì khí đi, xoay lại thì khí dừng, thần chỉ gỡ cho sáng, rồi cùng mọi người ngồi bàn cách đặt lỗ cho vừa, cách khớp mộng cho khít.”
Giọng ông bỗng to hơn, cũng chắc hơn đôi phần.
“Nhưng để làm ra được vật thật này, vẫn là tay những người đứng đây."
Anh gật đầu, quay sang nhìn mấy người thợ một lượt.
Đội trưởng cúi đầu. Người thợ nề gầy lau tay vào vạt áo, tránh ánh mắt anh.
Trịnh Khải bước tới, cúi người ngắm nghía cái chốt trên ống tre. Ngón cái anh miết theo thân gỗ nhẵn thín.
Kiếp trước, van là thứ mua ở tiệm vài đồng, vặn một cái là xong, anh chưa bao giờ nghĩ nó khó làm đến thế.
"Khéo thật."
Anh quay lại chỗ người đội trưởng.
"Ta thử mở."
Lê Quý Đôn khẽ nhíu mày. Đội trưởng vội thưa:
"Bẩm Chúa thượng, theo ý Lê đại nhân, bọn thần đã nối dài ống thêm gần hai trượng sau van, đầu ống đặt chếch ra khoảng đất trống kia. Cán gạt cũng làm dài để người đứng xa. “
Ông đưa tay chỉ về khoảng đất gần cái van.
“Nếu Chúa thượng đứng ở đây, lúc cần có thể gạt đóng ngay."
"Làm tốt lắm."
Anh đứng vào chỗ đã chỉ, cạnh thùng nước và bao cát.
Trịnh Khải nhìn dọc đường ống, rồi lại nhìn những người thợ đứng quanh đó. Không ai tỏ vẻ thấp thỏm hay chờ anh chỉ bảo từng bước. Gia Thọ cùng mọi người lùi ra sau vạch vôi. Đội trưởng cầm cây sào dài, đầu sào buộc bó rơm đã nhúng dầu, đứng ở đầu bên kia, mắt không rời Trịnh Khải. Mọi thứ đều có vẻ đã được sắp đặt từ trước.
“Xem ra, trước khi mình đến, lão sư và thợ đã tự mình thử qua không ít lần.”
Sự cẩn trọng ấy khiến anh yên tâm hơn đôi chút, nhưng anh vẫn cần nói.
“Tất cả giữ nguyên vị trí, không ai được tùy tiện tiến lại gần.”
Trịnh Khải đặt tay lên cán gạt. Gỗ hơi lạnh, hơi nhám, còn chút mùi sáp ong.
Anh hít một hơi, rồi xoay.
Rất chậm. Một chút. Rồi thêm một chút nữa.
Không có gì xảy ra.
Mọi người đứng im. Gió thổi qua sân, tiếng lá khô cọ vào nền gạch nghe rõ mồn một.
Người thợ nề trẻ nuốt nước bọt đánh ực. Có ai đó đằng sau thì thầm, "Chắc khí chưa đủ…", rồi bị người bên cạnh thúc cùi chỏ cho im.
Trịnh Khải không nhúc nhích. Anh nghe thấy tiếng mạch đập trong tai mình.
Rồi, từ đầu ống xa xa, có một âm thanh rất nhỏ. Một tiếng xì, nhẹ như hơi thở của người đang ngủ.
Mắt anh cũng theo đó mà sáng lên.
"Mau! Đưa lửa!"
Đội trưởng nín thở, từ từ đưa bó rơm đang cháy lại gần miệng ống. Ngọn lửa rơm bập bùng, rồi dạt hẳn sang một bên như bị ai thổi. Ngay sau đó, một vòng sáng xanh nhạt ôm lấy miệng ống, đứng yên.
Nó nhỏ thôi, run rẩy, mỏng như một lớp sương. Nhưng nó ở đó.
Bó rơm ghé gần, bén lửa, bùng lên. Hơi nóng phả vào mặt những người đứng gần. Ngọn lửa xanh đứng vững, không khói, không nổ, chỉ cháy lặng lẽ như một đóa hoa quái lạ nở ra từ ống tre.
Trịnh Khải nhìn chằm chằm vào ngọn lửa, bàn tay vẫn đặt trên cán gạt.
Anh đã thấy thứ lửa này một lần, ở miệng hố phân, vài giây trước khi mái che đổ sập.
Lần ấy, nó khiến anh sợ hãi, chấn động. Còn lần này, nó đã quy phục mà tuân theo sự điều khiển của anh.
Thế rồi anh bật cười.
Tiếng cười ấy ra khỏi cổ họng trước khi anh kịp nhận ra. Khàn khàn, hơi lạc điệu, nghe lạ cả với chính anh, như thứ đồ lâu ngày không dùng đến.
Anh cười thành tiếng, rồi cười to hơn, vừa cười vừa lắc đầu.
"Cháy rồi! Gia Thọ, ngươi thấy không? Cháy rồi!"
Phía sau, mấy người thợ reo lên. Người thợ nề trẻ nhảy bật lên một cái rồi vội đưa tay bịt miệng. Đội trưởng đứng nguyên chỗ, bó rơm trên sào cháy gần hết, tay run run. Lê Quý Đôn đứng cạnh vạch vôi, mắt không rời ngọn lửa xanh, khóe môi hơi nhếch, gật đầu liên tục.
Gia Thọ thì cúi xuống lật lại cuốn sổ, giả vờ tìm trang, mãi không ngẩng lên.
"Ghi giờ!" Trịnh Khải gọi. "Ghi cho kỹ, nó cháy được bao lâu!"
Y giật mình như bị bắt quả tang.
"Thần… thần ghi đây ạ."
Ngọn lửa cháy ổn định chừng một tuần trà, rồi yếu dần, chập chờn, co lại thành một chấm xanh nhỏ như đầu kim. Khi nó lụi hẳn, Trịnh Khải gạt cán về, tiếng xì tắt theo. Anh buông tay khỏi cán, hít một hơi dài.
"Gia Thọ, ghi tên từng người."
Anh nói, vẫn chưa dứt nụ cười. Cánh tay đưa ra chỉ về từng người.
"Đội trưởng, thợ nề, thợ mộc, cả người nấu sáp. Mỗi người ba quan tiền, hai tấm vải. Việc này lấy từ nội khố, ghi sổ riêng. Vật thưởng đưa tận nhà, đừng để họ phải lên phủ xếp hàng."
Những người thợ đứng thẳng lại, có người quỳ xuống. Anh vội phẩy tay bảo họ đứng dậy trước khi tiếng tạ ơn vang lên.
"Còn lão sư."
Anh quay sang Lê Quý Đôn.
"Học trò sẽ cho người đưa mấy tấm lụa và hũ mực thượng hạng đến phủ. Lão sư đừng từ chối."
"Tạ ơn Chúa thượng ban thưởng. Thần không dám không tuân."
"Còn một việc nữa."
Trịnh Khải nhìn nhóm thợ, giọng nghiêm lại nhưng vẫn mềm.
"Ngày trước đã nói rồi, con cái của những người đứng đây, nếu muốn học chữ, hay muốn theo nghề khác, ta cho phép tự chọn, không bắt buộc phải nối nghiệp cha. Gia Thọ, ghi vào sổ."
Đám thợ im lặng như phỗng. Đội trưởng đứng sững, quên cả quỳ. Người thợ trẻ nhất, kẻ lần trước run bần bật khi bị Trịnh Khải vỗ vai, giờ đứng thẳng, hai tay siết vào nhau, mắt đỏ lên.
Lê Quý Đôn bước tới gần Trịnh Khải, hạ giọng.
"Chúa thượng, việc này bá quan sợ không dễ chịu."
"Ta biết."
"Nếu thành tiền lệ…"
"Đây là thưởng, không phải lệ." Anh nói. "Thưởng cho công lao thật của những người thật. Ai muốn bàn thì cứ đến hỏi ta."
Lê Quý Đôn nhìn anh một lúc rồi gật đầu.
"Vâng, thưa Chúa thượng.”
Kì lạ là không ai quỳ lạy anh. Chỉ có người thợ nề gầy cúi đầu thật sâu, và đội trưởng chắp tay trước ngực rất lâu mà không nói được tiếng nào. Nhưng không hiểu sao, anh lại thấy lòng mình ấm áp hơn nhiều.
Ánh nắng đã lên cao. Trịnh Khải ngồi xuống một phiến đá thấp bên cạnh hầm, Lê Quý Đôn ngồi đối diện trên ghế gỗ thợ mang tới. Gia Thọ đứng chờ gần đó.
"Lão sư, hầm này chạy được rồi, học trò muốn đưa nó sang Thượng Thiện Cục."
Vừa nói, anh lại nhớ đến gương mặt Dự Vũ.
"Bếp bên ấy mỗi ngày đốt cả xe củi. Nếu thay được một phần bằng thứ khí này, đỡ được bao nhiêu."
Anh ngoảnh sang Gia Thọ.
"Ngươi qua Thượng Thiện Cục xem còn chỗ nào trống, đo thử. Về báo ta."
Gia Thọ cúi người đi ngay. Lê Quý Đôn đợi y khuất mới lên tiếng. Ông hắng giọng:
"Chúa thượng, hầm này sinh khí là nhờ ủ kín. Nếu muốn có khí dùng liên tục, e rằng phải tính đến việc nạp thêm nguyên liệu, lấy bớt bã ra theo từng đợt. Nhưng mỗi lần mở nắp hầm, khí lại thất thoát ít nhiều. Còn nếu đợi dùng hết một mẻ mới nạp mẻ khác, e rằng khó tránh những lúc thiếu khí.”
Trịnh Khải im lặng, ngón tay gõ lên đầu gối.
Anh biết điều ấy. Hoặc đúng hơn, anh biết loáng thoáng rằng ở kiếp trước người ta có cách nạp liệu mà không phải mở nắp. Nhưng cách ấy thế nào, đường ống ra sao, anh không nhớ nổi một nét.
Anh lại nhìn sang nhóm thợ đang đứng nói chuyện với nhau ở cuối sân. Vài người còn chỉ trỏ về phía đầu ống, miệng nói liến thoắng. Gương mặt người nào cũng nở nụ cười tươi rói.
"Làm ba hầm."
Trịnh Khải hơi chần chừ khi nói ra một con số cụ thể.
"Lão sư nghĩ sao? Ba hầm nối vào một ống chính. Lúc một hầm đang nạp hoặc lấy bã thì hai hầm kia vẫn cho khí. Cứ thế luân phiên, khí không đứt."
Lê Quý Đôn gật đầu chậm.
"Ý ấy hợp lý."
Rồi ông ngừng, như đang cân nhắc điều gì, và hỏi tiếp.
"Nhưng thần xin hỏi một điều. Mỗi ngày trong phủ gom được bao nhiêu phân? Nếu phải chờ đủ lượng mới nạp vào hầm, số phân ấy chứa ở đâu trong lúc chờ?"
Trịnh Khải khựng lại.
Anh nghĩ đến cái hầm đang đứng sau lưng, vừa cho ra ngọn lửa xanh một tuần trà. Hầm này đã nuốt phân của cả một khu phía tây phủ suốt nhiều ngày, chất đầy gần nửa lòng hầm. Ba hầm nghĩa là gấp ba lần ấy.
"Nếu nguyên liệu không đủ," Lê Quý Đôn nói thêm, "ba hầm chỉ là ba cái hố rỗng. Mỗi lần nạp liệu, lấy bã, khí lại thất thoát thêm một lần."
"Thêm phân gia súc thì sao?" Anh hỏi, chưa kịp nghĩ.
"Phủ Chúa chuồng ngựa chỉ có chừng ấy con."
"Rơm mục, rau thừa của bếp?"
"Cũng chỉ có chừng ấy."
Anh im lặng. Các cách tính cứ hiện lên rồi tự dập tắt trong đầu. Gom rác ở đâu, chở bằng gì, ai làm, trả công thế nào.
"Bí rồi."
Tuy không đến mức nói ra thành tiếng, nhưng vai anh đã chùng xuống một chút.
"Hiện tại chưa làm nổi ba hầm."
Cuối cùng Trịnh Khải thở dài thừa nhận, ngẩng đầu lên.
"Nhưng học trò vẫn cho rằng mô hình này không vô dụng. Nếu là quân doanh, nơi cả ngàn người ăn ở, phân và rác bếp nhiều gấp bao nhiêu lần, thì ba hầm mới có việc để làm."
"Thần cũng nghĩ vậy."
"Vậy tạm giữ một hầm này thôi. Khi cạn khí thì chờ ủ thêm, chấp nhận lửa đứt quãng. Dù sao đây mới là công trình thử."
Anh nhìn Lê Quý Đôn.
"Mỗi lần nạp bao nhiêu, bao lâu thì có khí, cháy được bao lâu, cứ ghi cho đủ. Khi nào quy mô lớn hơn, phiền lão sư giúp tính cách khác."
“Thần xin lĩnh mệnh.”
Trịnh Khải ngả người về sau, chống tay lên phiến đá, nhìn bầu trời xám nhạt. Ngọn lửa xanh vẫn còn đọng lại sau mi mắt.
Anh hắng giọng, giọng bỗng nửa đùa nửa thật.
"À, lão sư. Học trò có việc xin."
"Chúa thượng xin cứ nói."
"Từ nay đến hết tháng Giêng, cho học trò nghỉ học được không? Tết nhất, lại đang tang kỳ, đầu óc không nhét thêm nổi chữ nào nữa."
Anh đã chuẩn bị sẵn vài ba lý lẽ, tính cả chuyện mặc cả qua lại.
Lê Quý Đôn nhìn anh một lúc, bàn tay đặt lên thành ghế như tìm chỗ tựa.
"Được."
Trịnh Khải ngẩn người.
"Lão sư đồng ý nhanh vậy sao?"
"Lời Chúa thượng đã nói, thần xin tuân."
Ông không nói thêm. Trịnh Khải nhìn ông, không biết mình nên mừng hay nên hỏi tiếp. Lý do anh chuẩn bị sẵn, vậy là bị bỏ không.
Tiếng bước chân vội vã vang lên ngoài sân. Gia Thọ chạy tới, thở không ra hơi, quỳ xuống trước phiến đá. Trịnh Khải nhìn thần sắc y trước khi nghe lời, và nụ cười trên mặt anh đã bắt đầu nhạt.
"Bẩm Chúa thượng." Gia Thọ cúi thấp. "Thụy Quận công đang ở Nội Điện, xin cầu kiến."
Nụ cười của Trịnh Khải thu lại, từ từ, như bị ai vặn nhỏ ngọn đèn.
“Thụy Quận công. Trịnh Lệ. Mới thả khỏi ngục chưa bao lâu.”
Lê Quý Đôn dường như cũng nhận ra tước vị này. Nhưng ông vẫn giữ vẻ trầm tư.
“Có lẽ người chú này đến để tạ ơn. Nhưng nếu không phải chỉ có vậy thì sao?”
Trịnh Khải đứng dậy, phủi bụi trên vạt áo tang.
"Lão sư, hôm nay đến đây thôi nhé."
Lê Quý Đôn chắp tay, không nói gì.
Trịnh Khải bước ra cửa, bước chân nhanh hơn lúc đến. Gia Thọ cũng vội vã chạy theo sau.