Xe khách chạy qua khỏi con đường lớn thì bắt đầu chậm lại. Đường vào làng Đồng Mít không rộng, hai bên chẳng có cửa hàng hay biển quảng cáo gì lớn. Chỉ có mấy hàng cây thấp, những bụi tre mọc sát nhau và vài căn nhà nằm lùi vào phía trong, trước cửa nhà nào cũng có một khoảng sân nho nhỏ. Có nhà lát xi măng, có nhà vẫn để sân đất nện, đi vài bước là nghe tiếng sỏi lạo xạo dưới dép. Mấy con gà mái dẫn đàn con đi ngang qua đường, chiếc xe khách bóp còi một tiếng thì chúng hoảng hốt chạy tán loạn vào bụi cỏ, còn người trong nhà thì chẳng ai buồn chạy ra đuổi. Ở đây những chuyện như vậy xảy ra suốt ngày.
Tôi biết mình đã thật sự về đến làng khi nhìn thấy cây đa đầu đường.
Cây đa ấy già hơn cả tôi. Gốc cây to, rễ nổi lên khỏi mặt đất thành từng đoạn ngoằn ngoèo, chỗ cao chỗ thấp, trẻ con trong làng thường ngồi lên đó chơi. Bên cạnh cây đa là một cái quán nhỏ dựng bằng gỗ, mái lợp ngói cũ đã ngả màu. Trước quán có mấy cái ghế thấp bằng nhựa, một cái bàn gỗ đã xước hết mặt. Bà chủ quán thường ngồi ở đó từ sáng đến tối, trước mặt là mấy lọ kẹo thủy tinh, vài hộp bánh, chai nước ngọt xếp ngay ngắn thành từng hàng. Phía sau là mấy cái chum sành đựng nước, miệng chum đậy bằng nắp gỗ. Tôi hồi nhỏ từng nghĩ mấy cái chum ấy lúc nào cũng có nước mát, nhưng có lần lén mở ra thì bị bà chủ quán phát hiện, từ đó không dám nghịch nữa.
Qua cây đa là đường chính của làng.
Con đường vẫn giống hồi tôi còn nhỏ.
Hai bên là những căn nhà thấp, mái ngói đỏ đã cũ, có chỗ rêu xanh bám dọc theo mép mái. Có căn nhà tường vàng đã bạc màu, cửa gỗ nâu sẫm, trước sân dựng một chiếc xe đạp cũ. Có nhà mới hơn, tường quét vôi trắng, nhưng vẫn giữ cái sân rộng phía trước và hàng rào bằng những thanh tre đan chéo nhau. Có nhà trồng cau trước cửa. Những cây cau cao vút, thân thẳng, lá xòe trên đầu như mấy cái quạt xanh. Bên dưới thường có vài bụi chuối, có cây còn đang trổ buồng, tàu lá to đến mức che gần kín cả một góc sân.
Nhà ở quê chẳng nhà nào giống hẳn nhà nào, nhưng nhìn một lúc lại thấy chúng có chung một kiểu gì đó. Nhà nào cũng có hiên. Có nhà kê một cái chõng tre dưới mái hiên, chiều đến ông bà ngồi đó quạt nan, uống nước chè và nhìn người đi qua. Có nhà treo mấy cái lồng chim trước cửa. Có nhà dựng một cái võng giữa hai cột, gió thổi thì võng đưa qua đưa lại dù chẳng có ai nằm. Một số nhà vẫn dùng cửa gỗ hai cánh, buổi tối đóng lại nghe tiếng then cài lạch cạch. Mấy cái bếp phía sau nhà thường thấp hơn nền chính một chút, có chỗ còn giữ cả bếp củi. Những hôm trời lạnh, khói từ bếp bay lên qua mái ngói, vướng vào mấy cành cây trước sân rồi mới tan.
Tôi thích nhất là những buổi chiều như thế.
Chẳng có gì xảy ra.
Nhưng cũng chẳng cần có gì xảy ra.
Một người phụ nữ ngồi nhặt rau trước hiên. Một ông cụ cầm cái quạt nan phe phẩy, bên cạnh là ấm trà nhỏ. Một đứa trẻ cởi trần chạy ngoài sân, tay cầm chiếc xe đồ chơi đã mất một bánh. Một con chó nằm dưới gầm bàn, nghe tiếng xe đi qua thì ngẩng đầu lên nhìn rồi lại nằm xuống. Xa xa có tiếng gà gáy dù trời đã gần tối. Một chiếc radio cũ phát chương trình gì đó từ trong nhà vọng ra, tiếng được tiếng mất.
Có những căn nhà buổi chiều mở toang cửa.
Người đi ngang qua có thể nhìn thấy cả gian nhà bên trong: bộ bàn ghế gỗ đặt giữa nhà, cái tủ kính đựng bát đĩa, trên tường treo lịch, bên cạnh là mấy bức ảnh gia đình đã hơi bạc màu. Có nhà vẫn dùng cái quạt đứng cũ, quay chậm chậm, mỗi lần xoay sang hướng khác lại phát ra tiếng kêu két một cái.
Mấy thứ đó ở thành phố chắc chẳng ai để ý.
Ở làng thì chúng nằm đó từ năm này sang năm khác.
Đến cả cái giếng nước gần đình làng cũng vẫn còn. Bây giờ ít nhà dùng giếng để lấy nước nữa, nhưng mấy cái gáo dừa cũ vẫn treo bên thành. Chung quanh giếng mọc đầy rêu, nền gạch lúc nào cũng hơi ẩm. Hồi nhỏ tôi từng bị mẹ cấm chạy quanh đó vì sợ ngã xuống. Tôi chẳng bao giờ hiểu tại sao người lớn cứ nghĩ trẻ con sẽ ngã vào mọi cái giếng trên đời.
Đi thêm một đoạn là đình làng.
Đình không lớn. Mái ngói thấp, cong lên ở hai đầu, phía trước có mấy bậc đá đã mòn. Hai bên là hai cây cổ thụ tỏa bóng xuống sân. Ban ngày nơi đó khá yên, chỉ có mấy người lớn tuổi ngồi nói chuyện hoặc mấy đứa trẻ chạy vào chơi. Đến những ngày lễ thì cả làng mới đông lên, còn ngày thường chẳng ai vội vàng gì.
Ngay bên cạnh đình có một con đường đất nhỏ dẫn ra cánh đồng.
Chiều xuống, con đường ấy vắng hẳn.
Gió từ đồng thổi vào mang theo mùi lúa, mùi đất và mùi rơm khô. Những đống rơm được chất bên bờ ruộng thành từng ụ vàng vàng, có cái cao gần bằng người lớn. Mấy chiếc nón lá treo trên hàng rào, vài đôi dép để ngoài sân. Xa xa có tiếng máy bơm nước chạy đều đều, thỉnh thoảng lại tắt, để lại một khoảng im lặng rất rộng.
Tôi ngồi trên xe nhìn những thứ ấy lướt qua cửa kính.
Tự nhiên thấy dễ chịu.
Ở trường, một ngày lúc nào cũng có tiếng người. Tiếng giáo viên, tiếng chuông, tiếng ghế kéo, tiếng Tuấn nói nhảm, tiếng Hưng chửi nó, tiếng Phúc hỏi ăn gì. Còn ở đây, có những lúc tôi đi cả một đoạn đường mà chỉ nghe tiếng gió và tiếng bánh xe nghiến lên sỏi.
Làng Đồng Mít không giàu.
Nhưng cũng chẳng ai có vẻ vội vàng muốn nó phải giàu.
Người ta sống ở đó bằng những thứ rất đơn giản. Sáng dậy mở cửa, quét sân, tưới mấy luống rau, cho gà ăn. Trưa thì đóng cửa tránh nắng. Chiều kéo ghế ra hiên ngồi nói chuyện. Tối trẻ con chạy ngoài đường, người lớn gọi nhau về ăn cơm. Nhà nào có việc thì hàng xóm sang giúp. Nhà ai có đám cưới thì cả xóm biết. Nhà ai vừa mua cái tủ lạnh mới thì vài hôm sau gần như cả làng cũng biết.
Tôi từng nghĩ hồi nhỏ những chuyện ấy thật chậm.
Lớn lên rồi mới thấy cái chậm đó cũng có cái hay của nó.
Xe khách dừng lại ở bến nhỏ gần đầu làng.
Mọi người lần lượt xuống xe.
Tôi vừa bước xuống đã nghe tiếng An gọi phía sau.
"Minh."
Tôi quay lại.
An cũng đang xuống xe. Cô mặc áo phông sáng màu, quần dài, tóc buộc gọn phía sau. Về đến quê rồi nên cô chẳng còn cái vẻ chỉnh tề như lúc ở trường. Một tay An xách túi, tay kia cầm điện thoại, vừa xuống xe đã có một đứa nhỏ chạy tới gọi chị.
"Chị An!"
An cúi xuống.
"Gì đấy?"
"Chị em mượn điện thoại."
Bỗng đâu ra 1 đám nhóc lại xuýt xoa, thằng bé kia phổng mũi:"Đây là chị An, chi hai tao, chị hai tao có điện thoại di động đấy"
Những tiêng khen ngợi từ đám trẻ xung quanh:"chị mày tuyệt ghê""Ước gì tao cũng có chị"
An cười rồi xoa đầu nó.
"Về đi, tối chị mua kẹo."
Thằng bé lập tức chạy mất.
Tôi đứng cạnh nhìn.
An quay sang.
"Minh cười gì?"
"Không có."
"Cười rõ ràng."
"Thấy vui thôi."
An nhìn tôi một lúc rồi cũng cười.
Bến xe lúc này đã vắng hơn. Chiếc xe khách chạy đi, để lại một đám bụi mỏng trên đường. Cô bán nước kéo cái ghế nhựa vào trong. Một bác lớn tuổi xách túi rau đi về phía con đường bên kia. Mấy con gà lại từ đâu chạy ra giữa đường, cứ như thể lúc nãy chưa từng có chiếc xe khách nào chạy qua.
Tôi đeo balo lên.
"Minh về hướng nào?"
"Qua đình."
"An cũng."
Hai đứa đi cùng nhau được một đoạn.
Con đường từ bến xe vào trong làng nhỏ hơn tôi nhớ. Có những đoạn chỉ vừa đủ hai chiếc xe máy tránh nhau. Hai bên là hàng rào tre thấp, phía trong là sân nhà. Có nhà đang phơi ngô. Có nhà vừa nấu cơm xong, mùi khói bếp còn vương ngoài hiên. Một bà cụ ngồi trước cửa nhặt rau, thấy An thì gọi:
"An về đấy à?"
"Vâng ạ."
"Bao giờ nghỉ?"
"Chủ nhật cháu lại lên."
"Ừ, đi học ngoan nhé."
An cười.
"Vâng."
Đi thêm một đoạn, một người khác lại nhận ra cô. An cứ thế chào hết người này đến người khác. Có người hỏi chuyện học, có người hỏi bố mẹ, có người hỏi cuối tuần có ở nhà không. Cô trả lời hết, lúc nào cũng cười, chẳng hề tỏ vẻ mệt.
Tôi đi bên cạnh, tự nhiên thấy hơi buồn cười.
"An quen cả làng à?"
"Không."
"Thế sao ai cũng biết An?"
"Thì ở đây ai chẳng biết nhau."
Tôi gật đầu.
Cũng đúng.
Đến trước cái miếu nhỏ, hai đứa phải rẽ hai hướng.
Nhà tôi đi bên trái.
Nhà An đi bên phải.
An dừng lại, nhìn tôi.
"Minh."
"Gì?"
"Tối đi chợ đêm không?"
Tôi mất đúng hai giây để hiểu mình vừa nghe gì.
"Chợ đêm?"
"Ừ."
"Đi với ai?"
"An."
Tôi nhìn cô.
An nhìn lại tôi, rồi bật cười.
"Chứ Minh tưởng ai?"
Tôi cũng cười.
"Ừ. Đi."
"Khoảng bảy giờ nhé."
"Ừ."
"Đừng quên."
"Không quên."
An gật đầu rồi quay đi.
Đi được mấy bước, cô còn quay lại nói:
"Minh mà tới muộn là An đi trước đấy."
Tôi giơ tay.
"Biết rồi."
An chạy về phía con đường bên phải.
Tôi đứng nhìn một lúc rồi mới quay về nhà mình.
Con đường về nhà vẫn vậy. Hàng cau trước sân nhà bác Tư, cái giếng cũ cạnh đình, bụi tre rung trong gió, mấy mái ngói đỏ nằm thấp sau hàng cây. Trời lúc này đã dịu hẳn. Mặt trời sắp lặn sau cánh đồng, ánh sáng cuối ngày còn vương trên những mái nhà và những ngọn cau.
Tôi bước đi mà trong đầu chỉ còn nhớ đúng một chuyện.
Bảy giờ tối.
Chợ đêm.
An.
Tự nhiên quãng thời gian từ lúc về nhà đến bảy giờ tối dài kinh khủng.