CHƯƠNG 6
Từ trường về làng Đồng Mít phải mất gần hai tiếng đi xe khách. Không xa đến mức phải mang theo đồ ăn cho cả ngày, nhưng cũng chẳng gần đến mức nhắm mắt một lúc là tới. Mỗi lần về quê, tôi thường đi chuyến xe chiều thứ sáu. Xe chạy qua mấy con đường quen thuộc, ban đầu còn đông người, cửa hàng san sát hai bên, rồi càng đi càng thưa. Đến đoạn gần quê thì nhà cửa bắt đầu thấp xuống, những biển hiệu lớn cũng ít dần, thay vào đó là những hàng cây mọc sát bên đường và những cánh đồng kéo dài đến tận cuối tầm mắt. Tôi thích nhất đoạn này. Nó giống như một cái công tắc. Đi qua khỏi cây cầu cũ là tôi biết mình sắp về đến nhà.
Làng Đồng Mít không phải một nơi có gì đặc biệt. Không có ngọn núi nổi tiếng, không có cái hồ đẹp để người ta chụp ảnh, cũng chẳng có di tích nào mà khách du lịch phải tìm đến. Nó chỉ là một cái làng nằm lọt giữa mấy cánh đồng, đường làng ngoằn ngoèo, nhà cửa nằm xen kẽ nhau, trước nhà này là một cây xoài, trước nhà kia là một bụi chuối, có nhà còn nuôi cả đàn gà chạy lung tung ngoài sân. Nhưng vì tôi lớn lên ở đó nên trong đầu tôi, từng thứ nhỏ nhặt đều có tên của nó.
Ngay đầu làng có một cây đa rất to. Gốc cây phải đến mấy người ôm mới hết, rễ mọc ngoằn ngoèo trên mặt đất, mùa hè bên dưới lúc nào cũng có vài ông các bác ngồi hóng mát. Cạnh cây đa là một cái quán tạp hóa nhỏ, bán đủ thứ từ mì gói, bánh kẹo đến dầu gội và mấy gói bim bim mà hồi bé tôi từng nghĩ là thứ ngon nhất trên đời. Bà chủ quán biết gần như tất cả trẻ con trong làng. Có đứa chỉ cần đi ngang qua là bà đã gọi tên, có đứa mẹ vừa dặn không được mua kẹo mà bà nhìn mặt một cái cũng biết ngay. Hồi nhỏ tôi từng đứng trước quán đó rất lâu chỉ để nhìn mấy viên kẹo đủ màu trong lọ thủy tinh, dù trong túi chẳng có đồng nào.
Đi qua cây đa một đoạn là con đường chính chạy xuyên qua làng. Con đường ấy không rộng. Hai chiếc xe máy tránh nhau còn phải nép một chút sang hai bên. Hai bên đường là những ngôi nhà xây đủ kiểu, có nhà cũ tường đã ngả màu, có nhà mới sơn lại còn sáng trưng, có nhà trước sân trồng hoa, có nhà phơi quần áo kín cả hàng rào. Mỗi buổi chiều, trẻ con trong làng thường chạy ra đường chơi. Có đứa đá bóng, có đứa đạp xe, có đứa chỉ đứng trước cửa nhà nói chuyện rồi cười ầm lên chẳng biết vì chuyện gì.
Phía sau những ngôi nhà là ruộng.
Mùa lúa xanh, cả cánh đồng nhìn giống một tấm thảm khổng lồ trải ra hai bên đường. Những ngày có gió, từng đợt lúa nghiêng qua nghiêng lại, nhìn từ xa cứ như có ai đang dùng tay vuốt lên mặt ruộng. Đến mùa gặt thì màu xanh biến thành màu vàng. Rơm chất thành từng đống bên bờ, có mùi khô khô ngai ngái, đi ngang qua một lúc lâu vẫn còn dính trong mũi. Buổi chiều, mặt trời xuống thấp, ánh nắng rơi lên những ruộng lúa làm cả làng sáng lên một màu vàng nhạt. Tôi hồi nhỏ chẳng bao giờ thấy cảnh đó đẹp gì cả. Với một đứa trẻ thì ruộng chỉ có nghĩa là chỗ chạy chơi, chỗ thả diều và chỗ bị mẹ mắng nếu chẳng may giẫm vào lúa nhà người ta.
Ở cuối làng có một cái ao khá lớn. Ven ao mọc đầy cỏ, mùa hè có mấy cây phượng đỏ cả một góc. Hồi nhỏ tôi với mấy đứa trong xóm từng ra đó câu cá, dù phần lớn thời gian chẳng câu được con nào. Có hôm ngồi cả buổi, đến lúc về thì mỗi đứa cầm một cái cần trống không, vậy mà vẫn cãi nhau xem ai câu giỏi hơn. Bây giờ lớn rồi, chẳng mấy khi tôi ra đó nữa. Nhưng mỗi lần đi qua vẫn nhớ được cái bậc đá cũ nơi ngày trước tôi từng ngồi.
Trong làng cũng có một con đường nhỏ dẫn ra bờ sông. Con đường ấy hẹp hơn đường chính, hai bên toàn bụi tre và mấy cây chuối mọc sát nhau. Trưa hè đi qua đó mát rượi, còn chiều tối thì hơi tối vì cây che hết ánh sáng. Người lớn trong làng thường đi đường ấy ra ruộng, còn bọn trẻ con thích đi vì có một đoạn dốc, đạp xe xuống rất nhanh. Hồi lớp sáu tôi từng đạp xe xuống dốc rồi ngã một trận đau điếng, sau đó phải giấu đầu gối bầm tím cả tuần vì sợ mẹ biết.
Đồng Mít cứ thế mà lớn lên cùng tôi.
Tôi biết nhà nào có con chó dữ, nhà nào hay phơi ngô ngoài sân, nhà nào có cây ổi ngon, nhà nào mỗi sáng đều mở nhạc to đến mức cả xóm nghe thấy. Tôi biết ông nào hay ngồi đánh cờ trước cửa, bà nào bán bánh rán ngon, đứa nào trong xóm năm nay lên cấp ba, đứa nào vừa được bố mua cho xe đạp mới. Ở thành phố, người ta có thể ở cạnh nhau mấy năm mà chẳng biết hàng xóm tên gì. Còn ở làng tôi, có khi chỉ cần đi qua nhà ai lúc bảy giờ sáng là người trong nhà đã biết tôi là con nhà nào.
Nhà tôi nằm gần cuối con đường chính, đi qua một cái miếu nhỏ rồi rẽ vào một con ngõ có hàng rào dâm bụt hai bên. Nhà An cũng ở gần đó.
Tôi biết chuyện này từ lâu.
Chỉ là trước đây tôi chưa bao giờ nghĩ nó có ý nghĩa gì.
Chiều thứ sáu hôm ấy, xe chạy qua cây đa đầu làng, tôi tự nhiên ngồi thẳng dậy.
Tài xế bấm còi hai tiếng.
Một đàn gà chạy ngang qua đường.
Có ông chú đang dựng xe trước quán tạp hóa, thấy xe khách thì quay lại nhìn.
Mấy đứa trẻ đang đá bóng cũng chạy ra sát lề đường.
Tôi nhận ra gần như tất cả.
Cảm giác về đến quê lúc nào cũng vậy. Chưa cần nhìn thấy nhà mình, chỉ cần nhìn cây đa, cái quán nước, cánh đồng phía bên trái là đã thấy nhẹ người.
Xe chạy chậm dần rồi dừng ở bến xe nhỏ đầu làng.
Bến xe Đồng Mít thật ra chẳng giống bến xe.
Nó chỉ là một khoảng đất rộng bên đường, có mái tôn dựng lên để người ta đứng tránh nắng tránh mưa, phía dưới đặt mấy chiếc ghế nhựa đủ màu. Một bên là quán nước nhỏ, bên kia có người bán ngô luộc với khoai nướng. Mùa hè đứng ở đó nóng đến mức áo dính vào lưng, mùa đông thì gió từ cánh đồng thổi thẳng vào mặt. Mấy bác xe ôm thường ngồi một góc nói chuyện, thỉnh thoảng có người gọi khách về xóm này, xóm kia. Cạnh bến xe có một cây bàng, mùa hè lá xanh um, đến mùa đông thì rụng gần hết, cành trơ ra nhìn như một đống que khô.
Tôi vừa bước xuống xe đã nghe tiếng một cô bán nước gọi người quen.
"Nhà bác Hòa phải không?"
"Ừ."
"Để tôi gọi thằng út ra đón."
Những câu chuyện như thế lúc nào cũng có ở bến xe. Người từ xa về vừa bước xuống đã có người nhận ra. Có khi chẳng cần hỏi tên, chỉ cần nhìn mặt là biết con nhà ai.
Tôi kéo balo lên vai, định đi thì chợt nhìn thấy một người đứng cách đó không xa.
An.
Cô cũng vừa xuống một chiếc xe khác.
Tôi đứng khựng lại.
An mặc áo phông màu sáng với quần dài, tóc buộc gọn phía sau. Không váy, không đồng phục, không có cái vẻ gọn gàng thường thấy ở trường. Cô đang cầm chai nước, đứng nói chuyện với cô bán nước bên cạnh. Hai người chẳng biết đang nói chuyện gì mà An cười rất vui. Cô vừa cười vừa dùng tay diễn tả, đến mức chai nước trên tay suýt rơi.
Tôi đứng nhìn một lúc.
An ở trường đã hoạt bát rồi, nhưng về làng hình như còn hoạt bát hơn.
Có lẽ vì ở đây cô quen người.
Đi ngang qua, cô nào cũng chào, bác nào cũng biết. Có một đứa bé chạy ngang qua còn gọi:
"Chị An!"
An quay lại ngay.
"Gì?"
"Chiều chị ra chơi không?"
"Để xem."
"Đi mà!"
"Biết rồi, biết rồi."
Đứa bé chạy đi.
An cười nhìn theo, rồi vừa quay người lại đã nhìn thấy tôi.
"Minh?"
Tôi giật mình.
"Ừ."
"Minh cũng về à?"
Tôi gật đầu.
"Ừ."
An nhìn cái balo sau lưng tôi rồi nhìn con đường phía sau.
"Minh ở Đồng Mít mà đúng không?"
"Ừ."
"Nhà ở đâu?"
Tôi nói tên xóm.
An tròn mắt.
"Ơ, gần nhà An mà."
Tôi cũng ngạc nhiên.
"Thật à?"
"Thật. Nhà An ở qua cái miếu một đoạn."
Tôi im lặng vài giây.
Tôi biết nhà An cùng làng với mình, nhưng không ngờ lại gần đến thế. Ở trường, hai đứa ngồi cách nhau chưa đến một mét. Về đến nhà, hóa ra đi bộ cũng chẳng mất bao lâu.
An nhìn tôi rồi cười.
"Thế mà lâu nay không gặp."
"Chắc tại Minh ít ra đường."
"Minh già trước tuổi à?"
Tôi bật cười.
"Không."
"Thế sao?"
"Không biết."
An lại cười.
Tôi thấy cô cười cũng tự nhiên cười theo.
Bến xe lúc ấy khá đông. Một chiếc xe máy chạy ngang làm bụi bay lên. Cô bán ngô ngồi quạt than, khói bay nghi ngút. Một bác nông dân xách hai túi rau đặt xuống ghế rồi ngồi thở. Phía bên kia đường, mấy con vịt lạch bạch đi thành một hàng, chẳng hiểu từ đâu ra. Xa hơn một chút là cánh đồng đang ngả màu vàng dưới nắng chiều. Gió từ ruộng thổi vào mang theo mùi rơm khô và mùi đất, khác hẳn mùi đường phố mà tôi đã quen suốt cả tuần.
Tôi tự nhiên thấy vui.
Không phải kiểu vui vì được về nhà.
Mà là kiểu vui vì người đang đứng cạnh mình lại là An.
An chẳng hề im lặng hay ngại ngùng như tôi tưởng. Cô nói đủ thứ chuyện. Hỏi tôi cuối tuần có ra sân bóng không, hỏi mẹ tôi còn nuôi con chó cũ không, hỏi năm nay cây xoài trước nhà tôi còn sai quả không. Có chuyện tôi biết, có chuyện tôi không biết. Có chuyện An nhớ còn rõ hơn tôi.
Đến lúc chiếc xe khách về xóm chạy tới, hai đứa còn đứng nhường nhau lên trước.
"Minh lên đi."
"An lên đi."
"Minh."
"An."
Phía sau có một bác đang xách bao tải nhìn hai đứa.
"Không lên thì bác lên trước nhé."
An bật cười rồi bước lên xe.
Tôi đi theo sau.
Trên xe không còn nhiều chỗ. An chọn ghế cạnh cửa sổ, tôi ngồi bên cạnh.
Xe rời bến.
Qua cửa kính, làng Đồng Mít từ từ chạy ngược lại phía sau.
Cây đa đầu làng nhỏ dần.
Quán tạp hóa nhỏ dần.
Những căn nhà quen thuộc lần lượt hiện ra rồi biến mất sau lưng.
Đường chính của làng chỉ đi một đoạn là bắt đầu chia thành những con đường nhỏ. Một đường dẫn ra ruộng, một đường vòng qua ao, một đường đi về phía trường tiểu học cũ. Hai bên đường có những hàng cây thấp, thỉnh thoảng lại gặp một chiếc xe đạp dựng trước cửa nhà. Có nhà đang nấu cơm, khói bếp bay lên từ sau mái ngói. Có nhà đang phơi lúa ngoài sân. Có mấy bà ngồi nhặt rau trước hiên, vừa làm vừa nói chuyện. Một ông cụ dắt xe đạp chậm chậm đi trên đường, phía sau là con chó vàng lẽo đẽo chạy theo.
An chống cằm nhìn ra ngoài.
"Về nhà thích thật."
Tôi nhìn ra cửa kính.
"Ừ."
"Ở trường An chỉ muốn về suốt."
"Nhớ nhà à?"
"Nhớ cơm mẹ nấu."
Tôi bật cười.
"Thế là nhớ nhà rồi."
"Không. Nhớ cơm thôi."
Tôi nhìn cô.
"Khác gì nhau?"
"Khác."
An nói rất nghiêm túc.
Tôi chẳng biết cãi thế nào nên thôi.
Xe chạy tiếp qua cánh đồng.
Lúa hai bên đường đang vào mùa, gió thổi làm những ngọn lúa nghiêng sang một bên. Xa xa có mấy người đang làm ruộng, bóng họ nhỏ xíu giữa màu vàng của đồng. Một con cò trắng bay lên từ mép ruộng, lượn một vòng rồi đáp xuống chỗ khác. Ánh nắng cuối ngày chiếu xiên qua cửa kính, nằm thành một vệt dài trên ghế.
Tôi nhìn ra ngoài rồi lại nhìn An.
An vẫn đang nhìn cánh đồng.
Cô cười một mình, chẳng biết đang nghĩ gì.
Tôi cũng không hỏi.
Chuyến xe hôm ấy vẫn mất gần hai tiếng.
Nhưng không hiểu sao tôi lại thấy nó ngắn hơn mọi lần.