Trò chơi tự nhiên hot lên như một cơn sốt âm ỉ nung nóng cái không khí lạnh ngắt của làng cứu nạn. Thao trường thung lũng ngầm lúc nào cũng kín tiếng súng phốp nổ lách cách và tiếng bước chân sột soạt. Đám trẻ nghiện trò này đến mức kể cả khi không đủ quân số chia đội, tụi nó vẫn kéo nhau ra bãi rêu lùng sục. Quần áo da ếch giặt chưa kịp khô, còn ướt nhoét và bốc hơi lạnh buốt, tụi nó vẫn trùm lên người rồi lao vào sương mù chơi tiếp. Mấy thằng có nhiệm vụ dệt vải ở xưởng lớn hối hả đạp khung cửi, đôi bàn tay gân guốc lướt nhanh thoăn thoắt để hoàn thành cho xong định mức trong ngày rồi ba chân bốn cẳng ôm súng phốp chạy ra nhập trận.
Trong khi cả làng đang cuồng nhiệt với những vệt màu trắng vàng, A Vo lẳng lặng ngồi một góc trong xưởng rèn, tập trung chế tạo nỏ và tìm cách cải tiến lực bắn. Cậu muốn những mũi tên tre phải lao đi với tốc độ xé gió. Nhưng vùng rừng già này không có nguyên liệu tốt, thiếu thứ gỗ gõ đỏ đủ độ đàn hồi và gân thú dẻo dai để làm dây căng. Sau vài lần bắn thử, cánh nỏ bị nứt toác, lực bật không ổn định dễ gây thương tích cho người dùng. A Vo lạnh lùng vứt xó chiếc nỏ cải tiến sang góc kho vũ khí nguy hiểm, nơi chứa những thứ bị cấm sử dụng vì độ sát thương mất kiểm soát.
Cậu chuyển hướng sang thiết kế, cải tiến lực bắn cho chính khẩu súng phốp của đám trẻ. Cậu thay đổi cấu trúc khấc nứa, nén khí chặt hơn. Kết quả thử nghiệm rất tốt, súng bắn ra những cây phi tiêu tre nhỏ bọc vải ngâm nhựa độc nhẹ. Với lực nén mới, việc dùng phi tiêu này có thể dễ dàng ám sát đối thủ ở cự ly mười bước chân mà không hề phát ra tiếng động. Nhưng nhìn thứ vũ khí vừa hoàn thành nằm im lìm trên bục đá, A Vo lại chau mày. Cậu dứt khoát cầm cụm súng phốp cải tiến, ném thẳng nó vào kho vũ khí nguy hiểm cùng với chiếc nỏ nứt cánh. Vũ khí chém giết quá nhanh sẽ triệt tiêu sự tính toán dài hạn của một nền văn minh.
A Vo đứng dậy, phủi sạch những dăm nứa dính trên gấu áo vải mịn. Cậu nhìn ra khoảng sân chung, nơi F Kio đang cùng đám trẻ phối hợp nhóm lửa luộc lại những rổ đạn quả rừng. Đầu óc cậu gạt phăng đi những tiếng phốp câm lặng của súng đạn. Cậu nghĩ, đã đến lúc phải chuyển sang giai đoạn tiếp theo của kế hoạch. Đánh trận không chỉ có máu và súng nứa. Phải đánh bằng kinh tế, bằng nông - lâm - ngư nghiệp, bằng cách kiểm soát dạ dày và nguồn sống của cả cái thế giới xích thép ngoài kia.
Trong giờ sinh hoạt cuối tuần, đống lửa giữa nhà sinh hoạt chung được chụm lớn, xua đi những làn hơi lạnh cuối cùng của mùa đông. Bốn mươi đứa trẻ của làng cứu nạn ngồi vây quanh, quần áo chỉnh tề, gương mặt đứa nào đứa nấy đều đã thôi vẻ con nít, thay vào đó là sự can trường của những chiến binh trải qua mùa luyện súng phốp.
A Vo đứng trên bục đá, nhìn một lượt qua những mái đầu xanh, giọng ngắt nhịp trúc trắc nhưng âm vang, rành rọt:
- Tụi mày đã đủ kỹ năng để thay đổi thế giới. Nhìn lại mình xem. Tụi mày biết mài sắt thành kim, biết khâu vá, biết dệt vải mịn. Tụi mày biết võ công siết cơ, biết dùng súng nứa câm lặng. Biết vẽ tranh có linh hồn, biết hát, biết nhảy múa, biết tự làm nhạc cụ để sưởi ấm lòng nhau. Đầu óc tụi mày biết tính toán cao cấp, có ngôn ngữ và chữ viết riêng để lưu lại kế hoạch. Tụi mày có tất cả mọi thứ của một nền văn minh độc lập.
Cả gian nhà im phăng phắc. Đ đám trẻ nín thở nghe vị chỉ huy của mình tuyên cáo. A Vo dừng lại một nhịp, ánh mắt chợt quét qua F Kio đang ngồi bất động, rồi cậu hạ giọng, thản nhiên thả vào một câu trần trụi:
- Và tụi mày thiếu vợ.
Tiếng xôn xao lập tức rộ lên. Đ đám thanh niên mười hai tuổi vạm vỡ nhìn nhau, đứa gãi đầu, đứa đỏ mặt cười trừ. A Vo giơ tay ra hiệu im lặng, dứt khoát đưa ra mệnh lệnh cuối cùng:
- Cả làng sẽ rời đi. Đi kiếm vợ và bắt đầu gây ảnh hưởng tới thế giới ngoài kia. Chúng ta không trốn trong hang đá vôi này nữa.
Mọi cánh tay đồng loạt giơ lên, những tiếng hô đồng ý rền vang cả vách đất nện. Sự kỷ luật sắt bấy lâu nay biến thành một ngọn lửa hăm hở muốn thiêu rụi cái thế giới xích thép bên ngoài. Nhưng trước khi bước vào cuộc viễn chinh tàn khốc, Cường bước lên, đại diện cho đám trẻ nhìn A Vo:
- Anh A Vo, tụi tôi đi, không ai sợ chết. Nhưng ai cũng muốn ăn mừng vài ngày trước khi rời đi. Cho tụi tôi được vui chơi một lần cuối.
A Vo lặng im một hồi rồi khẽ gật đầu.
Ba ngày vui đùa bên nhau bắt đầu. Súng phốp, súng nứa được cất hết vào kho khóa chặt. Cả làng mang hết những chum rượu ủ bằng men lá rừng ra giữa sân, những bát cơm ngô dẻo quánh thơm lừng được xới đầy ắp, không còn ai phải nhịn đói hay bị trói chân hai gang tay nữa. Tụi nó ôm lấy những cây đàn tự đẽo bằng gỗ dẻ, gảy lên những giai điệu hoang dại của rừng già. Đám trẻ mười tuổi, mười hai tuổi cùng F Kio khoác vai nhau nhảy múa quanh đống lửa lớn, tiếng ca vang động cả thung lũng ngầm, làm tan chảy những mảng băng cuối cùng trên vách đá.
Tụi nó cười đùa, uống rượu say khướt, rồi ôm nhau khóc nức nở giữa đêm sương. Ba ngày vui chơi ấy trôi qua điên cuồng và ngắn ngủi, như thể tụi nó đều biết rằng, khi bước chân ra khỏi ranh giới của cái làng đất nện này, thế giới ngoài kia sẽ chia cắt tụi nó thành những mũi dao găm cắm vào các vương quốc, và có thể, sẽ không một ai còn cơ hội gặp lại nhau nữa.
Ba ngày điên cuồng trôi qua, đống lửa lớn giữa khoảng sân chung lụi dần, chỉ còn lại những vệt than hồng âm ỉ xộc lên mùi củi tàn. Tiệc tàn. Cái không khí náo nhiệt bỗng chốc sụp xuống, nhường chỗ cho những tiếng khóc nấc nghẹn ngào vang lên từ những hốc tối của nhà sinh hoạt chung. Đám thanh niên mười hai tuổi vạm vỡ, những kẻ vốn lầm lì trước roi vọt và súng phốp, giờ đây ôm chặt lấy nhau, nước mắt giàn giụa lấm lem khuôn mặt dính đầy bùn đất.
Tụi nó ngồi bó gối bên nhau trong cái se lạnh của buổi sớm, đồng loạt ngoảnh đầu nhìn về phía cửa hang đá vôi – nơi dẫn xuống thung lũng ngầm sâu hoắm. Ký ức về những ngày đầu tiên rơi xuống lòng giếng cổ cuộn xoáy trở về. Đứa nào cũng nhớ về cái cảm giác kinh hoàng khi bị tước đi một phần cơ thể, nhớ về lý do tàn bạo mà hoàng cung bắt tụi nó phải chết, phải biến thành thứ quái thai trần truồng để làm trò tiêu khiển cho vương quyền. Rồi tụi nó nghĩ về tuổi thơ vô tư ngắn ngủi từng có trước khi bị bắt đi, nghĩ về gia đình, về người mẹ hay ngồi bên bực cửa dệt vải thô, về người cha lom khom trên những luống ngô cằn cỗi nơi quê nhà. Mọi nỗi đau và lòng căm hận được dồn nén bấy lâu nay bỗng chốc vỡ òa, hòa lẫn vào tình anh em ruột thịt của những đứa trẻ cùng lớn lên từ cõi chết.
Sáng ngày thứ tư, sương mù tan hẳn, để lộ bầu trời đầu xuân trong vắt. Những tiếng khóc lóc quyến luyến được gạt phăng, thay bằng sự dứt khoát của một đội quân văn minh. Đám trẻ tập hợp giữa sân, lẳng lặng cầm cọ vẽ. Tụi nó tự tay vẽ cho nhau những họa tiết đẹp nhất, tinh xảo nhất lên da thịt – những hình đàn chim sải cánh, những đường cong sóng biển của T Ri, những ký hiệu binh pháp của A Vo. Màu vẽ nhựa độc được kết hợp cùng với thứ mỡ lợn đun đi đun lại nhiều lần qua ba ngày đêm, cô đặc đến nỗi nó biến thành một loại chất béo bền vững, không trôi, giữ cho các mảng màu bám chặt vào da thịt như một ấn ký bất biến, chống chọi lại mọi thứ thời tiết khắc nghiệt ngoài kia.

Mỗi người đeo lên vai một chiếc ba lô da ếch cỡ lớn dệt mịn, bên trong đựng đầy những bộ quần áo vải mềm dự phòng và vô số kỷ vật thiêng liêng cùng anh em trong làng – một thanh sắt mài dở, một mẩu giấy lá khô ghi chép binh pháp, hay một chiếc súng phốp nứa kỷ niệm.
Không một lời từ biệt rườm rà. A Vo đứng trên bục đá phẳng, khoác hờ tấm áo dệt mịn, ánh mắt phẳng lặng dõi theo đoàn quân. Bốn mươi cái bóng bọc kín trong trang phục da ếch thô dày dứt khoát quay lưng, đồng loạt bước ra khỏi ranh giới của khu rừng già đại ngàn. Đến ngã ba thung lũng, tụi nó dừng lại một nhịp ngắn, nhìn nhau lần cuối rồi chia nhau ra các hướng, tỏa về các vương quốc, các kinh đô xa xôi. Những bước chân giẫm lên lớp bùn tuyết tan không còn khoảng cách hai gang tay, vững chãi và đanh thép, mang theo toàn bộ nền văn minh đất nện đi thay đổi thế giới xích thép.