Khu rừng lại chìm vào tĩnh mịch. Chỉ còn tiếng thở dốc yếu ớt của Bộ Bộ và dáng đứng hiên ngang của Bạch lão trước mặt hắn. Ông đưa tay thu lại chín viên Ô Mộc Châu vào tay áo.
Đến lúc này, Bộ Bộ thật sự không chống đỡ nổi nữa. Hắn quỵ xuống, một tay chống đất, ngực phập phồng dữ dội. Hồn lực trong kinh mạch rối loạn, đầu óc choáng váng như trời đất đảo chiều. Tiếng chuông ban nãy vẫn để lại dư âm gõ mạnh trong thức hải, từng đợt đau nhức kéo tới khiến hắn suýt nữa ngất đi.
Bạch lão lật tay lấy ra một viên Bình Tâm Đan nhét vào miệng hắn, trầm giọng bảo:
"Mau phục dụng rồi vận chuyển công pháp để xoa dịu cơn đau. Ta hộ pháp cho ngươi."
Chừng nửa canh giờ trôi qua, hơi thở của Bộ Bộ cuối cùng cũng ổn định trở lại. Hắn chậm rãi mở mắt, đồng tử vẫn còn chút mệt mỏi nhưng linh quang đã thu liễm, không còn tán loạn như trước.
Bạch lão lập tức cúi xuống, giọng đầy gấp gáp:
“Bộ Bộ? Ngươi thấy thế nào rồi? Còn đau ở đâu không?”
Bộ Bộ thở ra một hơi dài, đưa tay xoa nhẹ thái dương, khóe môi cong lên nhạt nhẽo:
“Không sao rồi. Dược lực đã ổn định được kinh mạch… chỉ là người hơi yếu thôi.”
Nghe vậy, Bạch lão mới nhẹ lòng thở phào một tiếng. Ông đỡ Bộ Bộ đứng dậy, cả hai cùng bước tới chỗ xác của tên tu tiên giả. Thi thể nằm nghiêng dưới gốc cây, cái đầu đứt lìa mắt vẫn mở trừng trừng, vẻ hung hãn cùng tham lam trước khi chết còn chưa kịp tan đi.
Bạch lão cúi người kiểm tra một lượt, sắc mặt rất nhanh đã chuyển thành vẻ chán chường:
“Không có pháp bào, không có pháp giày.”
Ông đá nhẹ vào thanh sắt kế bên xác hắn, nơi một túi trữ vật méo mó cùng một thanh phi kiếm đang đặt lăn lóc trên đất:
“Cả người đúng hai món này.”
Ông nhếch môi, giọng đầy khinh bỉ: “Quỷ nghèo. Luyện Khí tầng 4 mà cũng dám ra tay cướp đoạt của ta.”
Dứt lời, ông khoát tay, chẳng buồn để tâm thêm nữa:
“Đi thôi. Bộ nhi, chúng ta về phủ.”
Bạch lão đưa tay dìu lấy hắn. Ánh mắt Bộ Bộ lướt qua bãi chiến trường đầy máu, tim vẫn còn đập nhanh vì dư chấn của trận tử chiến vừa rồi. Nhưng khi nhìn xuống đôi chân mình đang run nhẹ, cố nén để đứng vững, hắn bỗng bật cười. Nụ cười vừa nhẹ nhõm vừa sáng rỡ, hắn nhìn ông nói:
“Lão gia tử là mạnh nhất.”
Bạch lão nghe vậy khựng lại một chút, rồi khẽ bật cười theo, không đáp. Ông hơi khom lưng, bảo Bộ Bộ leo lên lưng mình để ông dùng độn pháp đưa cả hai về nhà. Bộ Bộ tự mình nhún người nhảy lên phía sau, hai tay vòng qua giữ chặt lấy bờ vai vững chãi của ông.
Bùm!
Tiếng đập chân khẽ vang lên xé gió, thân ảnh Bạch lão phóng đi như một vệt sáng trên con đường vắng, mang theo hai bóng người nhỏ dần trong ánh chiều tàn.
Sau lưng họ, khu rừng hoang tàn lại chìm vào im lặng — như thể mọi chuyện kinh hoàng vừa rồi chỉ là một cơn ác mộng ngắn ngủi trên con đường tu tiên vốn dĩ đã chẳng còn bình yên nữa.
Bạch lão cõng Bộ Bộ dùng độn ảnh phi hành, tốc độ nhanh như chớp giật, chẳng mấy chốc cả hai đã vượt qua các gia nhân và hộ vệ trong phủ, đáp thẳng vào sâu trong mật thất của Bạch phủ.
Bạch lão đặt Bộ Bộ xuống, nhìn kỹ đệ tử một lượt rồi nghiêm giọng nói:
“Ở thế giới tu tiên này, ngươi như vậy cũng coi như đã chính thức bước chân vào Luyện Khí tầng một. Đã là tu sĩ thì nên học chút pháp thuật của tiên gia để hộ thân, không thể lúc nào cũng chỉ dựa vào phàm võ.”
Nói đoạn, ông lật tay lấy từ trong túi trữ vật ra hai quyển thuật pháp cổ xưa, đặt vào tay Bộ Bộ: một quyển là Khởi Vụ Thuật, quyển còn lại là Khống Vật Thuật. Chưa dừng lại ở đó, Bạch lão lại tháo sợi châu hạt gồm mười ba viên Ô Mộc Châu đeo bên người ra, cẩn thận truyền lại cho hắn:
“Sợi Thập Tam Ô Mộc Châu này chính là pháp bảo hộ thân theo ta nhiều năm. Ngươi cầm lấy, phối hợp với Khống Vật Thuật mà luyện tập. Đường tu tiên hung hiểm, có chúng bên người ta mới yên tâm.”
Bạch lão nhìn Bộ Bộ, ánh mắt chợt trở nên vô cùng nghiêm túc. Ông đặt tay lên vai hắn, trầm giọng nói:
“Hai quyển thuật pháp kia chỉ là nền tảng. Hôm nay, ta sẽ truyền lại cho ngươi tuyệt học do chính ta tự tay sáng tạo ra khi còn ở Luyện Khí kỳ. Năm xưa, ta dựa vào chiêu này mà oanh tạc, quét sạch mọi đối thủ cùng cấp. Chiêu này tên là [Khởi Vụ Ô Châu].”
Ánh mắt Bộ Bộ sáng lên, chăm chú lắng nghe từng lời của ông. Bạch lão tiếp tục giảng giải bí quyết:
“Nguyên lý của nó là dung hợp nhuần nhuyễn hai loại thuật pháp ngươi vừa cầm. Trước tiên, ngươi dùng Khởi Vụ Thuật để phóng ra màn sương đen dày đặc, hoàn toàn che mắt và cô lập thần thức của đối thủ. Sau đó, tận dụng màn sương làm vỏ bọc, ngươi vận dụng Khống Vật Thuật để điều khiển mười ba viên Ô Mộc Châu — biến chúng thành những món sát khí ẩn giấu trong bóng tối.”
Ông khẽ vuốt râu, lộ ra vẻ đắc ý của một bậc tông sư:
“Ô Mộc Châu có kích thước nhỏ gọn, cực kỳ linh hoạt nhưng lực công kích lại vô cùng dã man, trầm nặng. Kẻ địch ở trong sương mù sẽ không thể phán đoán được quỹ đạo của chúng. Ngươi phải học cách khéo léo điều khiển chúng nện, đập, va xoáy liên hồi từ những góc chết.
Một khi ngươi thành thạo thao túng cùng lúc cả mười ba viên, việc miểu sát những kẻ vượt hơn mình một cấp miễn là không cách biệt cả một đại cảnh giới nằm chắc trong lòng bàn tay.”
Bạch lão vỗ vỗ vai Bộ Bộ, trầm giọng đúc kết:
“Thuật pháp và pháp bảo nếu tách riêng ra thì rất dễ khiến bản thân bị phụ thuộc, nhưng nếu biết linh động kết hợp chúng lại với nhau, đó mới là kẻ tu tiên có kỹ nghệ chiến đấu thực thụ.
Sợi Ô Mộc Châu này là món đồ ta chế tác riêng có tác dụng ẩn mình trong khói, so với phi châm thì lực đả kích mạnh hơn, so với phi kiếm thì lại gọn nhẹ và chiếm ưu thế về số lượng. Trước mắt, ngươi cứ tập trung học cho thuộc Khởi Vụ Thuật trước đã, lúc nguy cấp còn có thể dùng để ẩn thân bỏ chạy bảo mạng.”
Nói xong, Bạch lão khẽ gật đầu rồi xoay người, tà áo bào lướt qua mặt đất khi ông thong thả bước ra ngoài, để lại không gian yên tĩnh của mật thất cho Bộ Bộ bắt đầu quá trình bế quan tu luyện.
Sau khi bước ra khỏi mật thất, Bạch lão gia tử thong thả dạo bước trở về sương phòng của mình. Hương trầm dịu nhẹ lan tỏa trong không gian thanh tĩnh giúp tâm trí ông bớt đi vài phần căng thẳng sau trận quyết chiến vừa rồi.
Ngồi xuống chiếc ghế thái sư bằng gỗ gụ cổ kính, ông khẽ gõ nhẹ đầu ngón tay xuống mặt bàn, trầm ngâm suy tính. Nhấp một ngụm trà nóng, ông cất giọng trầm dứt khoát truyền lệnh ra ngoài.
Chẳng mấy chớp mắt, gã quản gia lâu năm của Bạch phủ đã vội vã tiến vào, cúi đầu cung kính đứng hầu bên cạnh.
Lão gia tử vuốt râu, chậm rãi dặn dò từng việc:
“Ta muốn tuyển thêm vài tiểu đồng và nô tỳ mới cho phủ, lứa tuổi tốt nhất là dưới mười tuổi, tâm tính còn thuần khiết. Sáng sớm ngày mai, ngươi hãy đánh tiếng với mấy gã buôn người và nha bà uy tín nhất trong thành, bảo họ dẫn người đến đây để ta trực tiếp xem xét và chọn lựa.”
Nói tới đây, ông khẽ nhướng mày, ánh mắt sâu thẳm hướng về phía dãy hành lang dẫn sang khu vực lân cận, cất giọng thong thả nói tiếp:
“Sau khi chọn xong, ngươi hãy thu xếp vài đứa lanh lẹ đưa sang bên Khách Khanh viện kế bên để hầu hạ.
Ta thừa biết, người do chính tay gia chủ ta đưa sang, bọn họ ắt hẳn sẽ sinh lòng nghi ngại, không dám thực sự an tâm hay tin dùng. Nhưng bất luận thế nào, Bạch gia chúng ta đã mở cửa đón khách thì lễ số và tấm lòng chu đáo của chủ nhà vẫn phải làm cho trọn vẹn, không thể để người ngoài dị nghị.”
Gã quản gia chăm chú lắng nghe, vừa gật đầu lia lịa ghi nhớ từng lời thì Bạch lão gia tử đã gõ nhẹ tách trà xuống bàn, giọng nói trầm xuống đầy vẻ quan tâm:
“Còn một việc nữa, chuyện ta dặn ngươi chuẩn bị sương phòng và nơi ở riêng biệt cho tiên sinh mấy ngày trước, đến nay đã tiến triển ra sao rồi? Mọi thứ từ việc bố trí phong cảnh cây cỏ rồi giả sơn ao hồ cho đến cách trang trí trong viện như bình gốm tranh chữ, nhất là văn phòng từ bảo trong viện đều phải được thu xếp cẩn thận, tuyệt đối không được có chút sơ suất nào.”
Lão quản gia lập tức cúi đầu, cung kính thưa:
“Bẩm gia chủ, sương phòng và viện xá dành cho tiên sinh đã được dọn dẹp hoàn tất, gia cụ cùng bày trí đều dùng loại tốt nhất, mọi thứ chuẩn bị chu đáo chỉ còn đợi người vào ở mà thôi.”
Lão gia tử nghe vậy liền gật đầu, trong mắt lóe lên một tia thâm trầm, trầm giọng dặn thêm:
“Tốt. Cái lão bất tử đó tính tình hèn hạ lại cực kỳ cố chấp, ta phải tốn bao công sức, dùng đủ mọi tâm cơ mới mời được lão về đây. Tuyệt đối không được để xảy ra bất kỳ sơ suất nào làm uổng phí một phen tính toán này của ta.”
Nói đoạn, ông xua tay, thản nhiên xua đuổi:
“Ba ngày sau ngươi hãy dẫn người hầu mới đến cho ta chọn. Giờ thì lui ra đi.”
Sau khi gã quản gia khom lưng hành lễ rồi lặng lẽ lui ra ngoài, cánh cửa gỗ nặng nề khép lại sau lưng hắn. Tiếng then cửa khẽ va vào nhau vang lên trong gian phòng vốn đã tĩnh lặng, rồi rất nhanh cũng chìm vào màn đêm yên ắng.
Ánh đèn dầu đặt trên án nhỏ lay động theo từng cơn gió len qua khe cửa. Ngọn lửa vàng nhạt lúc sáng lúc tối, kéo bóng những món đồ trang trí trên tường thành những hình thù méo mó, chập chờn. Mùi trầm hương vẫn còn vương trong không khí, nhưng sự bình yên vốn có của gian phòng dường như đã không còn nữa.
Bạch lão gia tử đã trở về phủ.
Tin tức ấy thoạt nhìn chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Gia chủ đi xa trở về vốn là chuyện hết sức bình thường, trong phủ cũng chẳng thiếu người ra vào để nghênh đón. Thế nhưng, lần trở về này lại khác.
Khác đến mức khiến những kẻ vốn quen với việc cúi đầu nghe lệnh cũng không khỏi âm thầm sinh lòng nghi hoặc.
Bởi vì Bạch lão gia tử không trở về bằng xe ngựa.
Cũng không có đoàn tùy tùng đông đúc theo sau.
Không có những chiếc rương chứa đầy hàng hóa vốn phải được áp tải từ bên ngoài trở về, càng không thấy bóng dáng đám hộ vệ thân cận thường ngày luôn như hình với bóng bên cạnh ông.
Ông trở về một mình.
Hơn nữa, còn là dùng độn pháp để lặng lẽ tiến vào phủ.
Một chuyện như vậy, đối với người ngoài có lẽ chỉ là một điều kỳ lạ. Nhưng đối với những kẻ quanh năm sống trong Bạch phủ, nơi mỗi ánh mắt, mỗi câu nói đều có thể ẩn chứa một tầng ý nghĩa khác, thì sự bất thường ấy chẳng khác nào một viên đá bị ném xuống mặt hồ vốn đang phẳng lặng.
Sóng ngầm, đã bắt đầu nổi lên.
Ở gian phòng phía Tây, ma ma thân cận của Bạch phu nhân đang đứng sau tấm mành trúc, ánh mắt lặng lẽ hướng về phía hành lang. Bà đã theo hầu Bạch phu nhân nhiều năm, tính tình cẩn trọng, làm việc kín kẽ. Những chuyện không nên nghe tuyệt đối không nghe, những chuyện không nên hỏi cũng chưa bao giờ tùy tiện mở miệng.
Nhưng chính vì quanh năm ở bên cạnh chủ mẫu, bà hiểu rất rõ những biến động dù là nhỏ nhất trong phủ.
Vừa rồi, bà đã tận mắt nhìn thấy bóng dáng Bạch lão gia tử xuất hiện trong viện. Điều khiến bà cảm thấy kỳ quái không phải là việc gia chủ trở về, mà là cách ông trở về.
Không có xe ngựa.
Không có đoàn tùy tùng.
Ngay cả số hàng hóa vốn phải được vận chuyển cùng lão gia tử cũng hoàn toàn không thấy bóng dáng.
Bạch lão gia tử cứ như vậy một mình xuất hiện trong phủ bằng độn pháp, lặng lẽ đến mức nếu không phải có người tình cờ trông thấy, e rằng ngay cả những quản sự trong phủ cũng chưa chắc biết ông đã trở về.
Cách đó không xa, một gã sai vặt cũng đang âm thầm nghe ngóng tin tức. Khác với ma ma, hắn không phải người của Bạch phu nhân. Hắn là kẻ được Tam phu nhân, tức chính thất của Bạch Tam Lang, âm thầm thu phục từ trước khi cả nhà bà trở về đây.
Công việc của hắn vốn chỉ là một tên sai vặt bình thường, ngày ngày chạy tới chạy lui trong phủ, truyền lời, đưa đồ, hầu hạ các viện. Bởi vậy, hắn có rất nhiều cơ hội đi qua những nơi mà người khác ít để ý. Chính sự tầm thường ấy lại trở thành lớp vỏ che giấu tốt nhất cho thân phận thật sự của hắn.
Những chuyện hắn nghe được, những động tĩnh hắn vô tình trông thấy, chỉ cần có giá trị, cuối cùng đều sẽ được truyền tới tay Tam phu nhân.
Ma ma lập tức cảm thấy trong lòng nặng xuống. Bà không biết trên đường đã xảy ra chuyện gì, càng không dám tùy tiện suy đoán, nhưng nhiều năm hầu hạ Bạch phu nhân khiến bà hiểu một đạo lý rất đơn giản: với thân phận của Bạch lão gia tử, nếu không có nguyên nhân đặc biệt, ông tuyệt đối sẽ không bỏ lại toàn bộ xe ngựa và tùy tùng rồi một mình trở về.
Gã sai vặt cũng nghĩ đến điều tương tự. Hắn không dám ở lại lâu, chỉ cúi thấp đầu, giả bộ như chưa từng để ý đến ánh mắt của ma ma rồi nhanh chóng xoay người rời đi. Hắn phải lập tức đem tin này về bẩm báo Tam phu nhân.
Ma ma cũng không chậm trễ. Bà quay người trở vào phòng, trong lòng đã âm thầm tính toán cách đem tin tức này truyền đến tai Bạch phu nhân mà không để những người khác phát giác.
Hai người từ hai phe khác nhau, mỗi người mang theo một tâm tư riêng, lặng lẽ biến mất về hai hướng đối lập. Chẳng ai biết đối phương sẽ báo cáo những gì, cũng chẳng ai biết chủ tử phía sau mình sẽ phản ứng ra sao.
Nhưng có một điều, cả hai đều không thể phủ nhận.
Lần trở về này của Bạch lão gia tử tuyệt đối không bình thường.
Đêm đã về sâu, bóng tối như vệt mực loang lổ bao phủ lấy toàn bộ cấu trúc đồ sộ của Bạch phủ. Dưới những mái ngói uốn cong cổ kính, không khí yên tĩnh đến lạ thường nhưng đằng sau sự tĩnh mịch ấy lại là những đợt sóng ngầm cuồn cuộn chảy giữa các viện.
Phòng Ma ma lặng lẽ rời khỏi khu vực gần phòng gia chủ, bóng bà ta đổ dài trên những phiến đá xanh lót đường rồi nhanh chóng mất hút vào dãy hành lang dẫn về viện của Bạch phu nhân.
Bà khẽ đẩy cánh cửa gỗ, nhẹ nhàng bước vào nội thất rực rỡ hương trầm. Sau khi khom người hành lễ đầy vẻ cung kính, bà thấp giọng gọi:
“Phu nhân.”
Bạch phu nhân lúc này đang ngồi tĩnh lặng trước án thư, tay nâng nhẹ một quyển cổ thư, ánh đèn dầu chập chờn chiếu lên gương mặt thanh tú nhưng đầy vẻ sâu thẳm của nàng. Nghe tiếng gọi, nàng không vội ngẩng đầu, chỉ khẽ nhướng mi mắt, giọng nói thong thả bình thản:
“Có chuyện gì?”
Phòng Ma ma tiến lên vài bước, cúi gập người, hạ thấp tông giọng đến mức tối đa rồi bắt đầu đem toàn bộ tin tức thăm dò được kể lại tỉ mỉ.
Từ việc Bạch lão gia tử xuất hiện một cách đột ngột và quỷ dị ở trung tâm Bạch phủ, cho đến việc không hề thấy bóng dáng của xe ngựa gấm vóc, hàng hóa châu báu hay đoàn tùy tùng rầm rộ như mọi khi. Bà nhấn mạnh chi tiết gia chủ đã thi triển độn pháp cao cường để vượt qua các lớp bảo hộ mà trực tiếp trở về.
Bạch phu nhân lắng nghe từng chữ một cách vô cùng tập trung. Ngón tay thon dài của nàng dừng lại trên trang sách, suốt quá trình tuyệt nhiên không ngắt lời dù chỉ một câu.
Khi Phòng Ma ma dứt lời, gian phòng rơi vào một khoảng không im lặng đè nặng tâm trí. Bạch phu nhân chậm rãi khép quyển sách lại, ngón tay khẽ miết qua mép bìa da đã sờn. Ánh mắt nàng ngưng trệ, thăm thẳm như hồ nước mùa thu không đáy. Lâu thật lâu sau, từ bờ môi thắm mới thoát ra một tiếng thở dài thượt, thâm trầm và u uẩn:
“Người ấy... đã ra tay rồi sao?”
Câu cảm thán mơ hồ khiến Phòng Ma ma đứng bên cạnh không khỏi rùng mình, tim đập thót một nhịp. Bà hoàn toàn không đoán được "người ấy" trong lời phu nhân là vị tồn tại khủng bố nào, càng chẳng có gan để cất lời gặng hỏi.
Bạch phu nhân cũng không có ý định giải thích. Nàng im lặng chìm đắm trong dòng suy nghĩ của riêng mình, rồi bất chợt ngước mắt lên, ánh nhìn sắc lẹm xoáy thẳng vào Phòng Ma ma:
“Vậy ngươi có thấy đứa bé trai đeo mặt nạ gỗ đi theo lão gia tử trở về không?”
Phòng Ma ma thoáng ngẩn người, nét mặt hiện rõ sự ngơ ngác. Bà lập tức lục tìm lại toàn bộ hình ảnh mà mắt mình đã chứng kiến tại khu vực đó.
Một thân ảnh già nua độc hành trong bộ y phục sẫm màu.
Không xe ngựa kéo.
Không tùy tùng tùy vệ.
Không hề có bất kỳ ai đi cùng.
Bà đã cố ý nấp sau lùm cây, dốc toàn bộ thị lực để quan sát cực kỳ kỹ lưỡng, nhưng quả thật từ đầu đến cuối không hề thấy bóng dáng của bất kỳ đứa trẻ nào. Phòng Ma ma lắc đầu chậm rãi, giọng khẳng định:
“Bẩm phu nhân, nô tỳ không thấy. Quả thực chỉ có một mình lão gia tử đơn độc trở về.”
Bạch phu nhân lại chìm vào khoảng im lặng đáng sợ. Hàng mi dài cụp xuống che đi thần sắc phức tạp trong mắt. Mắt nàng không nhìn ra chút vui buồn hay giận dữ, nhưng sóng gió trong lòng thì đã dâng cao ngùn ngụt.
Nếu đứa trẻ đeo mặt nạ gỗ thực sự tồn tại, vậy hiện tại nó đang ở đâu? Nếu nó không đi cùng lão gia tử, phải chăng đã bị mai phục và bỏ mạng trên đường?
Hay là... ông ấy đã cố tình che giấu nó vào mật thất từ trước? Hoặc thậm chí, ngay từ đầu những suy đoán của nàng về lai lịch đứa trẻ đó đã hoàn toàn sai lệch?
Hàng loạt giả thuyết liên tục đan xen trong trí óc sắc sảo của Bạch phu nhân, nhưng không có bất kỳ manh mối nào đủ vững chắc để đưa ra kết luận cuối cùng. Nàng hít một hơi sâu, gạt bỏ sự nôn nóng, bình thản đè nén mọi nghi hoặc xuống đáy lòng.
“Được rồi. Chuyện này tạm thời giữ kín, tuyệt đối không được truyền ra ngoài nửa lời.” Nàng ngẩng đầu dặn dò Phòng Ma ma,
“Tiếp tục cho người âm thầm theo dõi mọi động tĩnh bên viện của lão gia tử. Dù là chi tiết nhỏ nhất cũng phải lập tức về báo cho ta.”
“Vâng, phu nhân.”
Phòng Ma ma khom người tạ lễ rồi lặng lẽ lui ra ngoài. Tiếng cánh cửa gỗ đóng lại vang lên khô khốc.
Trong phòng, Bạch phu nhân vẫn ngồi bất động bên án thư, bóng nàng ngả dài trên tường theo nhịp lắc lư của ngọn đèn dầu chập chờn. Trong tâm trí nàng lúc này chỉ còn lại duy nhất một câu hỏi đầy ám ảnh:
Đứa bé trai đeo mặt nạ gỗ kia... rốt cuộc đang trốn ở đâu?