CHAP 30: VÀNH ĐAI VÀ CON ĐƯỜNG
Tháng Chín năm Thiên Khải thứ hai.
Sáng thứ Hai, đúng chín giờ sáng.
Tiếng chuông đồng ngân vang từ Thái Cực Điện, thanh âm trầm hùng vang vọng khắp kinh thành Trường An, xé tan màn sương thu se lạnh của buổi sớm mai. Hôm nay là ngày thiết triều đầu tuần, cũng là ngày diễn ra buổi họp tổng kết Quý III của toàn bộ triều đình Thiên Khải.
Từng cỗ xe ngựa nối đuôi nhau tiến qua cổng Hoàng Thành. Các quan viên của Nội Các, Bộ Quốc Phòng, Quân Ủy Trung Ương, Bộ An Ninh, Bộ Nông Nghiệp, Bộ Thương Mại, Ngân Hàng Quốc Gia, Bộ Giáo Dục cùng Cẩm Y Vệ và Thiên Cơ Các lần lượt tề tựu.
Đối với bất kỳ ai từng quen thuộc với các triều đại trước, cảnh tượng bước vào Thái Cực Điện lúc này hoàn toàn trái ngược với những gì họ từng hình dung về một triều đình phong kiến. Không còn cảnh tượng văn võ bá quan đứng xếp thành hai hàng dài dằng dặc từ tờ mờ sáng tới tận trưa, không ai phải ôm hốt bản đứng đến mỏi nhừ hai chân, và càng không có cảnh quỳ lạy phủ phục triền miên dưới thềm đá.
Sau nghi thức quân thần ngắn gọn và chuẩn mực theo đúng lễ tiết cần thiết, toàn bộ quan viên lập tức tản về từng vị trí được sắp xếp quy củ của mình, nhẹ nhàng ngồi xuống.
Đại điện Thái Cực rộng lớn giờ đây được phân chia thành từng khu vực làm việc vô cùng rõ ràng. Phía trước là bàn làm việc của Nội Các, bên trái là các dãy bàn dành cho khối dân sự và kinh tế, bên phải là các vị trí của khối quân sự và an ninh, còn phía sau là đội ngũ thư lại cùng các quan ghi chép phụ trách biên bản.
Mỗi vị đại thần đều được bố trí một bàn làm việc riêng, ghế ngồi vững chãi, bên trên bày biện đầy đủ các xấp hồ sơ nghiệp vụ, sổ tay ghi chép, bản đồ chuyên ngành, biểu đồ số liệu và các văn bản tổng hợp. Đội ngũ thư lại mặc áo lam thoăn thoắt đi lại giữa các dãy bàn, nhanh chóng phân phát tài liệu hoàn chỉnh vừa được đóng dấu niêm phong từ xưởng in triều đình.
Trên trang bìa của xấp tài liệu dày cộp đặt trang trọng trước mặt mỗi người, dòng chữ in màu đỏ sẫm hiện lên rành mạch:
BÁO CÁO TỔNG KẾT QUÝ III THIÊN KHẢI NĂM THỨ HAI
Không gian bên trong đại điện vô cùng yên ắng. Không có tiếng hô hào thị uy, không có những lời bàn tán việc riêng. Tất cả những gì vang lên chỉ là tiếng giấy lật sột soạt, tiếng ngòi bút lông chấm mực lướt nhanh trên mặt giấy, tiếng bàn tính lách cách và tiếng bước chân khẽ khàng của các thư lại đang trao đổi văn kiện.
Bùi Uẩn nhận lấy xấp hồ sơ, khẽ nâng gọng kính lão trên sống mũi rồi tập trung rà soát từng số liệu tổng hợp của các châu đạo.
Dương Tú lật nhanh đến phần tổng hợp của Nội Các, tay cầm bút son không ngừng khoanh tròn vào những đề án đã hoàn thành.
Dương Dũng trực tiếp mở tập BÁO CÁO NÔNG NGHIỆP, ánh mắt sáng rực khi lướt qua sản lượng vụ mùa và các chỉ số diện tích khẩn hoang.
Ngu Thế Cơ vừa an tọa đã đặt ngay chiếc bàn tính gỗ lên mặt bàn, một tay lật sổ sách thu chi của Ngân Hàng Quốc Gia và ngân khố, tay kia thoăn thoắt gảy hạt tính, phong thái tập trung cao độ chẳng khác nào một vị tướng đang dàn binh tác chiến.
Cao Quýnh mở rộng tấm BẢN ĐỒ QUÂN KHU, bên cạnh là các bản thống kê chi tiết về quân số, công tác huấn luyện và năng lực bảo đảm hậu cần.
Dương Tố chăm chú đọc từng mục báo cáo hộ tịch và an ninh trật tự, thỉnh thoảng lại dừng bút ghi chú thêm vài dòng ý kiến bên lề trang sách.
Ngưu Hoằng mang theo cả một chồng giáo trình mới biên soạn dành cho các học phủ, cẩn thận xếp ngay ngắn bên cạnh báo cáo phổ cập giáo dục, khiến mặt bàn của ông cao ngất ngưởng so với xung quanh.
Lý Mật ngồi cách đó không xa, trước mặt là tấm bản đồ địa giới phía bắc cùng hàng loạt bảng thống kê cư dân vừa hoàn tất việc đăng ký định cư và nhập tịch.
Thái Cực Điện lúc này không còn mang dáng dấp của một chốn cung đình xa hoa cổ kính, mà thực sự đã biến thành một trung tâm điều hành đầu tàu của cả một đế quốc đang tăng tốc phát triển. Tiêu chuẩn đánh giá quan viên không còn dựa vào những lời hoa mỹ hay mối quan hệ thế gia, mà gắn chặt với từng chỉ số công việc cụ thể đã cam kết từ đầu năm.
Đúng chín giờ sáng, tiếng hô dõng dạc của viên quan chấp sự vang lên từ ngoài cửa điện:
"Bệ Hạ giá lâm!"
Toàn bộ quan viên trong điện đồng loạt đứng thẳng dậy hành lễ.
Thiên Khải Đế Dương Quảng sải bước tiến vào đại điện trong bộ thường phục long bào màu đen thêu chỉ vàng tối giản. Hắn bước đi vững chãi, không nhanh không chậm, toát lên phong thái điềm tĩnh và quyền uy tuyệt đối.
Tiến thẳng đến vị trí trung tâm, Dương Quảng ngồi xuống chiếc ghế rộng rãi. Hắn khẽ khoát tay ra hiệu cho toàn thể triều thần ngồi xuống vị trí làm việc.
Ánh mắt sâu thẳm của vị hoàng đế trẻ quét qua một lượt khắp Thái Cực Điện. Nhìn những chồng hồ sơ dày cộm, nhìn những tấm bản đồ trải rộng và từng gương mặt đại thần đang sẵn sàng bước vào cuộc đối chiếu số liệu, khóe môi hắn khẽ cong lên một nét cười kín đáo.
Hai năm trước, nơi này vẫn còn là một triều đình Đại Tùy ngổn ngang với bao mâu thuẫn phe phái, tranh đoạt quyền lực và những thủ tục rườm rà bế tắc. Hai năm sau, guồng quay của triều đình Thiên Khải đã vào phom, vận hành trơn tru và chính xác như một cỗ máy khổng lồ.
Dương Quảng mở tập hồ sơ ngự phê đặt ngay ngắn trước mặt. Trên trang bìa, dòng chữ lớn đập vào mắt hắn:
TỔNG KẾT QUÝ III THIÊN KHẢI NĂM THỨ HAI
Hắn cầm chén trà nóng bên cạnh lên, nhấp một ngụm nhỏ rồi từ tốn đặt lại xuống bàn. Tiếng chén sứ va chạm khẽ vang lên trong bầu không khí tĩnh mịch.
Không có bất kỳ bài diễn văn dông dài nào.
Cũng không có những lời xưng tụng khách sáo vô nghĩa.
Dương Quảng ngẩng đầu nhìn khắp đại điện, cất giọng trầm ổn, dứt khoát:
"Các ái khanh."
"Báo cáo tiến độ đi."
Dương Quảng từ tốn đặt chén trà xuống mặt bàn ngự, thanh âm va chạm thanh thúy vang lên giữa bầu không khí trang nghiêm của Thái Cực Điện. Hắn tựa lưng vào ngai rồng, ánh mắt sắc sảo lướt qua hàng ghế của các đại thần phụ trách quy hoạch biên cương và vận tải chiến lược.
"Bắt đầu từ biên cương trước đi. Hệ thống đường sắt và đầu máy hơi nước của chúng ta đã nối dài tới đâu rồi? Tiến độ xây dựng tại Bắc Hải, Đôn Hoàng, An Tây, Thanh Hải và Lạp Tát ra sao?"
Lý Mật lập tức đứng thẳng dậy từ vị trí làm việc. Trong tay hắn là một tập hồ sơ dày cộp với những bảng biểu thống kê chi tiết vừa được đóng dấu đỏ từ xưởng in. Hắn lật mở trang đầu tiên, giọng nói rành rọt, bình tĩnh báo cáo:
"Khởi bẩm Bệ Hạ. Tiến độ xây dựng Bắc Hải Thành hiện tại đã hoàn thành được 85%."
Khắp đại điện khẽ vang lên những tiếng gật đầu tán thưởng. Dương Quảng hơi nhướng mày, khẽ gõ ngón tay lên mặt bàn:
"Chi tiết thế nào?"
Lý Mật cất giọng rành mạch:
"Khu dân cư số 1 đã hoàn tất toàn bộ cơ sở hạ tầng. Khu dân cư số 2 đã hoàn thành hơn 70%. Hệ thống dẫn nước sạch bằng ống gang đúc đã vận hành trơn tru. Y quán khu vực đã tiếp nhận khám chữa bệnh cho hơn 3.000 lượt người mỗi tháng. Học phủ Bắc Hải đã khai giảng khóa đầu tiên cho con em dân định cư và con em các bộ tộc mục dân. Quan trọng nhất, công tác lập sổ hộ tịch đã hoàn tất cho hơn 90% dân cư hiện hữu."
Dương Quảng tiếp tục truy vấn:
"Tuyến đường sắt vận tải ra sao?"
"Khởi bẩm Bệ Hạ, tuyến đường sắt Trường An - Đại Đồng - Bắc Hải đã thông tuyến hoàn toàn. Hiện tại, mỗi ngày có 6 đoàn tàu chuyên chở vật liệu xây dựng, lương thực và thiết bị cơ khí chạy suốt ngày đêm, cùng với 2 chuyến tàu chở hành khách định kỳ."
Ngưu Hoằng ngồi ở dãy bàn bên cạnh đang nâng chén trà nóng lên miệng, nghe đến con số này liền suýt chút nữa sặc nước trà. Lão học giả vội vàng đặt chén xuống, trong lòng không khỏi cảm thán sâu sắc. 2 năm trước, nếu muốn một phong thư hay một đoàn quân đi từ Trường An lên tới phương Bắc hoang vu ấy, người ta phải tính thời gian bằng từng tháng ròng rã, vượt qua bao gió tuyết và hung hiểm. Vậy mà giờ đây, những cỗ xe thép khổng lồ nhả khói trắng xé toạc màn sương đã biến khoảng cách nghìn dặm thành chuyện đi về trong chớp mắt.
Dương Quảng hỏi tiếp:
"Ồ! Tốc độ tăng trưởng nhân khẩu thế nào?"
Lý Mật cười khổ một tiếng, đáp:
"Bẩm Bệ Hạ! Tăng quá nhanh so với dự toán ban đầu của Nội Các. Hiện tại ở Bắc Hải Thành đã bắt đầu xuất hiện tình trạng thiếu hụt nhà ở cục bộ."
Cả Thái Cực Điện bỗng nhiên chùng xuống một nhịp, rồi không ít đại thần khẽ mỉm cười. Thiếu hụt nhà ở, vào thời điểm này, lại chính là thứ tin tức đáng mừng nhất đối với triều đình. Điều đó chứng minh mảnh đất xa xôi ngàn dặm không còn là chốn đày ải lam sơn chướng khí, mà đã trở thành miền đất hứa thu hút dân chúng tự nguyện đổ xô về an cư lập nghiệp.
Dương Quảng khẽ cong khóe môi:
"Một khó khăn đáng hoan nghênh. Tiếp tục báo cáo các cứ điểm còn lại đi."
Lý Mật nhanh chóng lật sang các trang tài liệu tiếp theo, ngón tay điểm qua từng con số:
"Đôn Hoàng mới đã hoàn thành được 78%. Thanh Hải đạt 65%. Lạp Tát vùng cao nguyên hiểm trở đạt 59%."
Dương Quảng hỏi:
"Còn An Tây thì sao?"
Lý Mật ngẩng đầu lên, trong mắt không giấu nổi một tia hưng phấn:
"Khởi bẩm Bệ Hạ, An Tây là nơi có tiến độ thần tốc nhất. Hiện tại đã hoàn thành tới 83%!"
Dương Quảng thoáng chút ngạc nhiên:
"Vùng cát vàng sa mạc ấy lại thi công nhanh nhất sao? Nguyên do từ đâu?"
Lý Mật ho nhẹ một tiếng, giải thích:
"Dạ bẩm, thứ nhất là do cư dân bản địa Tây Vực và các bộ tộc du mục tại đây làm việc vô cùng tích cực, năng suất vượt xa dự kiến."
Bùi Củ ngồi cách đó không xa lập tức đỡ lời bổ sung:
"Bẩm Bệ Hạ! Bởi vì tiền công xây dựng do triều đình phát ra luôn đúng kỳ hạn, sòng phẳng bằng ngân phiếu và bạc thật, cơm ăn 3 bữa có thịt có canh, tuyệt đối không có chuyện quan sai ăn chặn như các triều đại trước. Người dân Tây Vực chưa từng thấy vương triều nào đối đãi với sức lao động của họ công bằng đến vậy, thế nên họ tranh nhau đăng ký đi làm công trường."
Cả đại điện vang lên những tiếng cười khẽ đầy tự hào.
Ngu Thế Cơ ở hàng ghế tài chính lúc này cũng không nhịn được, đẩy nhẹ bàn tính gỗ sang một bên rồi chen vào:
"Khởi bẩm Bệ Hạ, còn có một nguyên nhân mang tính then chốt hơn nữa!"
Dương Quảng nhìn sang:
"Ngươi nói xem."
Ngu Thế Cơ vuốt chòm râu dê, hào hứng nói:
"Giới thương nhân khắp nơi đang tranh nhau đổ tiền về mua đất nền xung quanh các nhà ga An Tây! Bọn họ nhận định rằng, nơi nào có đường ray sắt chạy qua, nơi đó đất đai sẽ hóa thành vàng ròng. Tuyến đường sắt vừa đặt tới đâu là các thương gia đã kéo theo cả đống tiền bạc tới cắm mốc mua mặt bằng tới đó."
Dương Quảng im lặng một thoáng, rồi đưa mắt nhìn khắp quần thần. Không một ai có thể phản bác được nhận định ấy. Suốt 2 năm qua, chân lý thực tế của triều đại Thiên Khải đã chứng minh điều đó: Đường sắt vươn tới đâu, thương nhân buôn bán kéo tới đó. Thương nhân tới đâu, phố xá chợ búa mọc lên tới đó. Chợ búa sầm uất thì dân cư tự khắc tụ hội, ruộng đất hoang vu lập tức biến thành đất vàng tấc ngọc.
Lý Mật tiếp tục báo cáo phần kết của bản tổng hợp địa chính:
"Chính vì lẽ đó, hiện nay tại cả 5 cứ điểm Bắc Hải, Đôn Hoàng, Thanh Hải, Lạp Tát và An Tây đều đã tự phát hình thành các khu phố thương mại sầm uất bao quanh nhà ga. Nhiều nơi thậm chí đã cạn kiệt mặt bằng quy hoạch ban đầu, các thương hội đang dâng sớ xin triều đình mở rộng thêm địa giới hành chính đợt 2."
Dương Quảng nhìn Lý Mật, nửa cười nửa mếu hỏi:
"Ngươi đang dâng sớ báo cáo tin vui hay là đang gián tiếp đòi thêm ngân sách để mở rộng quy hoạch đây?"
Lý Mật hơi khựng lại, rồi gãi đầu cười xòa:
"Khởi bẩm Bệ Hạ, thần... thần thấy cả hai đều đúng ạ."
Tiếng cười rộ lên giòn giã khắp Thái Cực Điện, xua tan hoàn toàn cái lạnh lẽo của buổi sáng mùa thu.
Giữa lúc không khí đang rôm rả, Cao Quýnh uy nghiêm từ hàng ghế của Bộ Quốc Phòng đứng thẳng dậy. Vị lão tướng chắp tay hướng về phía ngự tọa, giọng nói đanh thép bổ sung từ góc độ quân sự:
"Bộ Quốc Phòng xin báo cáo bổ sung về mặt chiến lược phòng thủ! Nhờ có mạng lưới đường sắt và các trung tâm kho vận liên hoàn này, tốc độ điều động binh lực từ Trường An đến biên ải An Tây hiện nay đã rút ngắn gấp nhiều lần so với thời kỳ vó ngựa truyền thống. Đặc biệt, tốc độ vận chuyển quân lương, vũ khí và thiết bị chiến đấu hạng nặng từ nội địa lên thẳng Bắc Hải đã tăng tốc hơn 10 lần!"
Cao Quýnh vỗ nhẹ lên mép bàn, ánh mắt sáng rực khí thế của một bậc đại tướng:
"Hiện nay, nếu biên cương xảy ra bất kỳ biến cố nào, Quân Ủy Trung Ương hoàn toàn có thể cơ động điều chuyển cả một quân đoàn tinh nhuệ cùng đầy đủ hỏa lực, đạn dược tới bất kỳ cứ điểm nào trong số 5 khu vực trọng yếu nói trên chỉ trong vòng vài ngày đêm. Vấn nạn đứt gãy hậu cần ngàn năm của các triều đại trước kia, nay đã bị bánh xe sắt thép của Thiên Khải triều chúng ta nghiền nát hoàn toàn!"
Dương Quảng gật đầu hài lòng. Hắn nhìn những thành quả ấy, trong lòng dâng lên một niềm cảm khái sâu sắc. Những vùng đất từng bị coi là hoang dã, nằm ngoài tầm kiểm soát thực tế của triều đình Trung Nguyên, nay đã được liên kết chặt chẽ vào xương sống của đế quốc bằng đường sắt, bằng thương mại, bằng giáo dục, bằng mạng lưới y tế và những bản kế hoạch quản trị rành mạch.
Chờ cho tiếng bàn luận lắng xuống, Dương Quảng chuyển hướng ánh mắt sang Bùi Củ, người đang giữ chức vụ Thượng thư Bộ Thương Mại.
"Bùi Củ. Trẫm nghe Cẩm Y Vệ báo về, gần đây có rất nhiều đoàn thương nhân lớn đã hoàn tất chuyến đi xuyên qua Bắc Hải Hành Lang, men theo dải đất nam Siberia trở về, mang theo một lượng tài nguyên khổng lồ ngoài sức tưởng tượng?"
Bùi Củ lập tức đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Trong tay ông là một tập hồ sơ dày cộm nhất trong toàn bộ buổi thiết triều, phần phụ lục số liệu đính kèm dày gần 200 trang giấy.
Ông cúi người hành lễ:
"Khởi bẩm Bệ Hạ, đúng là như vậy!"
Nói đoạn, Bùi Củ ra hiệu cho 2 viên thư lại tiến lên, trải rộng một tấm bản đồ da thuộc khổng lồ ngay trên sàn đá hoa cương giữa lòng điện.
Trên tấm bản đồ ấy, một đường mực đỏ rực rỡ bắt đầu từ thành Trường An, xuyên qua Đại Đồng, vọt thẳng lên Bắc Hải, rồi từ đó uốn lượn men theo dải hành lang trù phú phía nam Siberia, chạy dài hàng ngàn dặm về phía tây, vượt qua vô số trạm dịch trạm thu mua mới lập, rồi vòng ngược trở lại các ngả đường tiến vào Đại Tùy.
Bùi Củ chỉ tay lên tuyến đường màu đỏ, giọng nói tràn đầy tự hào:
"Tính đến hết Quý III này, đã có 37 thương đoàn quy mô lớn hoàn tất trọn vẹn hành trình viễn chinh này và trở về Trường An an toàn. Hiện tại, có 126 thương đoàn khác đang trên lộ trình di chuyển, và tại các dịch trạm cửa khẩu, hơn 300 thương đoàn quy mô vừa và nhỏ đang rậm rịch làm thủ tục thông quan để xuất hành trước khi mùa đông đổ tuyết!"
Cả Thái Cực Điện khẽ xôn xao. 37 thương đoàn đi qua một vùng đất trước đây từng bị coi là cõi hoang vu, con số đó là một kỳ tích thương mại chưa từng có trong sử sách.
Dương Quảng hỏi:
"Thu hoạch thực tế ra sao?"
Đôi mắt của Bùi Củ rực sáng lên, ông lật nhanh tập báo cáo tài nguyên:
"Khởi bẩm Bệ Hạ, vượt xa mọi dự toán lạc quan nhất của Bộ Thương Mại! Các thương đoàn mang về bạt ngàn da thú quý hiếm của vùng hàn đới, hổ phách tự nhiên, sừng hươu tuyết, lông thú thượng hạng, mật ong rừng, sáp ong công nghiệp và vô số kỳ hoa dị thảo, dược liệu quý của phương bắc. Toàn bộ số hàng hóa xa xỉ này khi đưa về kinh đô và các đô thị lớn đều được tiêu thụ sạch sẽ với mức giá cực kỳ cao."
Ngu Thế Cơ ở bên cạnh nghe đến đó liền khẽ gật gù, ngón tay lại vô thức gảy nhẹ mấy hạt bàn tính tính toán tiền thuế thương mại thu được.
Bùi Củ tiếp tục, giọng nói hạ thấp xuống nhưng mang theo sức nặng ngàn cân:
"Đặc biệt nhất, các thương đoàn thám hiểm đi cùng đội ngũ địa chất của Thiên Cơ Các đã mang về hàng loạt mẫu vật quặng sắt lộ thiên với hàm lượng tinh quặng cực kỳ cao!"
Lần này, không chỉ có các đại thần kinh tế, mà cả Cao Quýnh, Dương Tố cùng các quan viên Công Bộ đều đồng loạt ngẩng phắt đầu dậy, dỏng tai lên nghe ngóng. Quặng sắt, vào thời điểm đại công nghiệp đường sắt và quân sự đang bùng nổ như hiện nay, chính là máu huyết của toàn bộ vương triều Thiên Khải!
"Không dừng lại ở đó," Bùi Củ nói tiếp, "các báo cáo khảo sát gửi về còn xác nhận sự tồn tại của những mỏ than đá lộ thiên khổng lồ, cùng các dấu hiệu rõ ràng của những mỏ sa khoáng đồng, chì và thiếc trải dài dọc theo các triền sông phương bắc. Hơn thế nữa, họ còn phát hiện những cánh rừng lá kim bạt ngàn vô tận, cây cối thẳng tắp cao hàng chục trượng!"
Lý Mật đang cầm bút ghi chép, nghe đến hai chữ rừng cây bạt ngàn thì ngòi bút bỗng khựng lại giữa không trung. Trong đầu vị đại thần này lập tức nhảy múa ra hàng loạt phép tính: rừng cây khổng lồ đồng nghĩa với nguồn gỗ tà vẹt vô tận cho đường sắt, gỗ xẻ làm nhà cửa cho các khu đô thị mới, gỗ đóng thùng xe, xưởng cưa, nhà máy giấy... Toàn bộ đều là tài nguyên chiến lược, toàn bộ đều là bạc trắng đổ vào quốc khố!
Tuy nhiên, Bùi Củ bất ngờ gấp tập danh mục tài nguyên lại, hít sâu một hơi rồi cất lời trầm ấm:
"Thế nhưng, khởi bẩm Bệ Hạ, thứ thu hoạch vĩ đại nhất của Bắc Hải Hành Lang... lại hoàn toàn không nằm ở sắt thép hay da thú."
Dương Quảng nhướng mày:
"Vậy là cái gì?"
"Là Dân Tâm và Dân Cư."
Cả Thái Cực Điện lập tức chìm vào một khoảng lặng sâu lắng. Bùi Củ xúc động nói:
"Dọc theo tuyến hành lang dài vạn dặm ấy, hàng chục bộ lạc bản địa trước đây sống cô lập, man rợ giữa rừng sâu núi tuyết, nay đã chủ động tìm đến tiếp xúc với các thương đoàn Đại Tùy. Họ không chỉ mang sản vật ra trao đổi lấy dao sắt, nồi gang, trà và vải vóc, mà họ còn vây quanh những người kể chuyện, tò mò hỏi thăm về thế giới Hoa Hạ."
Dương Quảng thu lại nụ cười, ánh mắt trở nên thâm trầm:
"Họ hỏi những gì?"
"Bọn họ nghe những người đánh xe, những thương nhân kể lại rằng: ở phương Nam xa xôi, dưới triều đại Thiên Khải, trẻ con sinh ra đều được cắp sách tới trường học chữ; người nghèo đều có ruộng đất cày cấy; quan phủ và công xưởng thuê mướn lao dịch đều trả tiền công sòng phẳng, đầy đủ; người già yếu đau ốm đều có y quán bốc thuốc chữa trị... Rất nhiều tù trưởng và mục dân phương bắc khi nghe xong đã rơi nước mắt, họ cho rằng đó chỉ là những câu chuyện thần thoại về chốn thiên đường bồng lai."
Bùi Củ nghẹn ngào, nhìn thẳng lên ngai vàng:
"Họ hỏi các thương nhân rằng, làm cách nào để bộ tộc của họ có thể xin được tấm thẻ căn cước và đăng ký vào sổ hộ tịch của Đại Tùy? Làm thế nào để họ trở thành một phần của vương triều này? Cho nên thần xin khẳng định: Bắc Hải Hành Lang giờ đây không còn đơn thuần là một thương lộ tìm kiếm lợi nhuận nữa. Nó đã thực sự trở thành một trục huyết mạch lan tỏa ánh sáng văn minh, nhân đạo và trật tự của Hoa Hạ đến tận cùng trời cuối đất!"
Một làn sóng cảm xúc dâng trào khắp đại điện. Các vị lão thần Nho gia như Tô Uy, Ngưu Hoằng khẽ lau khóe mắt. 2 năm trước, Đại Tùy còn chìm trong cảnh phu phen chết như rạ bên dòng kênh đào, trăm họ lầm than oán thán. 2 năm sau, thể chế và tư tưởng mà họ cùng vị hoàng đế trẻ này dày công kiến tạo đã trở thành ngọn hải đăng soi sáng cho cả những mảnh đất hoang sơ ngoài biên thùy.
Dương Quảng gật đầu thật chậm:
"Rất tốt. Nhưng hãy nhớ kỹ lời Trẫm: Thứ chúng ta mang tới phương bắc tuyệt đối không chỉ là hàng hóa hay bạc trắng. Thứ chúng ta gieo xuống mảnh đất đó là tương lai của cả một nền văn minh."
"Thần xin khắc ghi thánh huấn!"
Bùi Củ cúi đầu cung kính.
Thế nhưng, vị Thượng thư Bộ Thương Mại vẫn chưa chịu ngồi xuống. Khóe môi ông khẽ nhếch lên một nụ cười đầy vẻ bí hiểm và hưng phấn, ông rút thêm một tập hồ sơ đặc biệt bọc bìa gấm xanh từ trong tay áo ra:
"Khởi bẩm Bệ Hạ, nhân nói về thương mại viễn chinh, Bộ Thương Mại còn một báo cáo đặc biệt tối mật muốn trình lên!"
Dương Quảng nhướng mắt:
"Ồ? Còn điều gì khiến khanh hào hứng đến thế?"
Bùi Củ mở tập tài liệu mang tên BÁO CÁO THƯƠNG LỘ Á - ÂU, hắng giọng dõng dạc nói:
"Bẩm Bệ Hạ! Trong Quý III vừa qua, trên các tuyến giao thương quốc tế đã xuất hiện một tầng lớp thương nhân hoàn toàn mới. Phương thức kinh doanh của họ đã phá vỡ toàn bộ quy tắc buôn bán truyền thống ngàn năm qua của giới thương trường!"
Cả triều đình lập tức dỏng tai chú ý. Dương Tú tò mò hỏi chen vào:
"Bùi Thượng thư, phương thức mới là thế nào? Chẳng lẽ buôn bán lại không phải là chở hàng đi bán rồi chở bạc về sao?"
Bùi Củ lắc đầu, chỉ tay lên tấm bản đồ da thuộc:
"Thứ phụ đại nhân! Từ xưa đến nay, thương nhân Trung Nguyên đi Tây Vực là chở lụa là gấm vóc sang, bán lấy vàng bạc rồi quay về. Thương nhân Tây Vực tới Trường An cũng chỉ mua hàng rồi mang về nước bán lại. Đi một chuyến, về một chuyến, lời lãi gói gọn trong một lượt khứ hồi. Nhưng nhóm thương nhân mới này thì hoàn toàn khác!"
Ông dùng ngón tay vẽ một vòng tròn khép kín nối liền từ Trường An, vọt lên Bắc Hải, quét qua Siberia, vòng xuống Trung Á, rồi men theo Con Đường Tơ Lụa cổ xưa trở về lại Trường An:
"Bọn họ không chờ đến điểm cuối mới bán hàng kiếm lời. Bọn họ vừa đi, vừa mua, vừa bán liên tục suốt dọc đường! Đi tới đâu, họ giao dịch tới đó!"
Toàn bộ đại điện rơi vào yên lặng, từng vị đại thần bắt đầu căng não suy ngẫm về mô hình kinh doanh kỳ lạ này.
Bùi Củ tiếp tục phân tích:
"Thần lấy ví dụ thực tế từ đoàn buôn của đại thương nhân họ Trần tại Lạc Dương. Rời kinh thành, họ chất đầy xe những thứ Trung Nguyên sản xuất thừa mứa nhưng biên cương lại cực kỳ khan hiếm: trà mạn ép bánh, giấy in Thiên Khải, dao kéo thép tốt và nông cụ gang đúc. Đích đến chặng đầu tiên là Bắc Hải Thành."
Dương Dũng ngồi ở hàng ghế nông nghiệp liền tò mò lên tiếng:
"Đến Bắc Hải thì họ bán lấy bạc rồi quay về sao?"
Bùi Củ lắc đầu cười:
"Nếu quay về thì đã chẳng gọi là cao tay! Tại Bắc Hải, người bản địa thiếu nông cụ sắt và trà bánh trầm trọng, nhưng lại thừa thãi sản vật rừng già. Thương đoàn liền dùng số nông cụ và trà mạn đó để đổi lấy thứ được coi là vàng mềm phương bắc: da chồn Zibeline đen nhánh, da cáo tuyết và sáp ong tự nhiên với giá rẻ như cho."
Dương Dũng nhíu mày:
"Da lông quý hiếm ở kinh thành đắt như vàng. Gom được từng đó da chồn da cáo, sao họ không lập tức chở về Trường An mà bán kiếm lời lớn?"
Cao Quýnh ở bên cạnh nghe vậy liền khẽ vuốt râu, mắt sáng lên tiếp lời thay Bùi Củ:
"Bởi vì nếu quay xe về Trường An ngay, chuyến xe đi về cũng mất cả nửa năm, chỉ ăn được đúng một lần lãi! Bùi Thượng thư, đoàn buôn đó mang đống da lông ấy đi tiếp sang phía tây đúng không?"
Bùi Củ chắp tay tán thưởng:
"Cao tướng quân liệu việc như thần! Đoàn buôn không quay đầu, mà theo Bắc Hải Hành Lang tiến thẳng vào dải rừng tuyết Siberia hướng về dãy núi Ural. Tại đây, khí hậu giá lạnh khắc nghiệt, các bộ tộc săn bắt vùng đóng băng vĩnh cửu lại càng khao khát muối hạt, nồi gang và vải vóc. Thương đoàn dùng số hàng nặng nề còn lại để đổi lấy hai thứ vô cùng kỳ dị: ngà voi ma mút hóa thạch nguyên vẹn được đào từ lòng đất đóng băng, cùng những con chim cắt trắng Bắc Cực dũng mãnh!"
Dương Tố nghe đến đây liền chấn động:
"Chim cắt trắng săn mồi và ngà voi ma mút phương bắc? Hai thứ này đối với vương công quý tộc phương Tây chính là bảo vật vô giá để thể hiện uy quyền!"
Bùi Củ gật đầu:
"Đúng vậy! Có được ngà voi ma mút và chim săn, đoàn buôn vượt qua sườn núi Ural tiến thẳng sang các bộ tộc ven biển Baltic ở Bắc Âu. Nơi đó, người dân phương bắc tuy dũng mãnh nhưng cực kỳ thiếu đồ sắt luyện tốt và tơ lụa mềm mại. Thương đoàn liền dùng tơ lụa Trung Nguyên đổi lấy hổ phách Baltic trong suốt màu mật ong, ngà hải mã cứng cáp săn từ Bắc Băng Dương và phôi kiếm thép Bắc Âu trứ danh!"
Ngu Thế Cơ ở hàng ghế tài chính nãy giờ vẫn chăm chú lắng nghe, lúc này liền kéo nhẹ kính lão, chen vào chất vấn:
"Đi qua ba chặng như thế, hàng hóa tích lại càng lúc càng nhiều. Toàn là ngà voi ma mút, ngà hải mã, hổ phách, da lông quý... Bọn họ làm sao vận chuyển nổi qua ngàn dặm tuyết phủ?"
Bùi Củ mỉm cười, giọng nói đầy vẻ đắc ý:
"Ngu đại nhân hỏi rất trúng tim đen! Tại Bắc Âu, họ xuôi thuyền theo các nhánh sông lớn thông xuống phương nam, trực tiếp tiến vào hai đế quốc hùng mạnh nhất trời Tây: vương triều Byzantine và đế quốc Ba Tư!"
Dương Tú sốt sắng hỏi dồn:
"Đến Byzantine và Ba Tư thì thế nào?"
Bùi Củ ngẩng cao đầu:
"Đến đó chính là thời khắc bùng nổ lợi nhuận! Giới hoàng gia Byzantine và vương công Ba Tư cực kỳ say mê lông chồn Zibeline, ngà hải mã và hổ phách Baltic để may áo lễ phục hoàng gia hay tạc vương miện. Thương đoàn lập tức bán sạch toàn bộ số sản vật phương bắc với mức giá đắt tựa vàng ròng, trong đó có cả phôi kiếm thép Bắc Âu!"
Dương Tú lại hỏi:
"Bán sạch lấy một núi vàng bạc ở Tây Á rồi, họ làm sao mang về? Chở bạc nặng nề qua sa mạc hiểm trở chẳng phải tự rước họa cướp bóc vào thân sao?"
Bùi Củ vỗ tay đánh bốp một cái:
"Đó chính là nét tinh hoa tuyệt đỉnh của chuyến buôn! Tại Ba Tư và Tây Vực, họ không ôm tiền đồng hay bạc thỏi nặng nề. Họ dùng toàn bộ số tiền kiếm được để vét sạch những thứ nhẹ nhất nhưng giá trị lại liên thành: nghệ tây Ba Tư đắt hơn vàng đỏ, nhũ hương thượng hạng, đá lưu ly xanh biếc, thảm dệt chỉ vàng tinh xảo, thủy tinh La Mã trong suốt và tiền vàng Solidus tinh khiết!"
Bùi Củ dừng lại, ánh mắt rực sáng:
"Toàn bộ hàng hóa cồng kềnh ban đầu sau bốn chặng đổi chác giờ đây đã cô đọng lại thành vài chục rương bảo vật nhỏ gọn. Họ dùng tiền mua thêm đàn lạc đà khỏe mạnh, chất những rương vàng ngọc hương liệu nhẹ tênh lên lưng chúng, thong dong men theo Con Đường Tơ Lụa xuôi về Trường An bán lại cho giới quý tộc và cự phú nội địa!"
Cả Thái Cực Điện lặng đi vài nhịp thở trước sự tính toán ma mãnh và tinh vi đến từng bước đi nước bước của giới thương nhân.
Dương Tú khẽ thở dài thán phục:
"Xuất phát bằng hàng nặng giá rẻ, kết thúc bằng hàng nhẹ giá đắt. Suốt dọc đường liên tục lấy sản vật rẻ rúng xứ này đập vào chỗ khan hiếm của xứ khác. Đám con buôn này quả thực tinh quái đến cực điểm!"
Ngu Thế Cơ vội vàng kéo bàn tính lại gần, hai mắt trố ra hỏi:
"Vậy rốt cuộc sau một vòng tuần hoàn như thế, bọn họ đút túi bao nhiêu tiền?"
Bùi Củ thong thả giơ hai ngón tay:
"Theo số liệu kiểm toán thuế thực tế của Bộ Thương Mại: Lợi nhuận trung bình của các thương đoàn này cao gấp 11 đến 13 lần so với việc buôn bán một chiều truyền thống!"
Ngu Thế Cơ giật bắn mình, suýt nữa đánh rơi chiếc bút son trên tay. Lão thần lắp bắp:
"Gấp... gấp 13 lần? Tiền đẻ ra tiền kiểu này thì quốc khố thu thuế thế nào cho xuể?!"
Bùi Củ bật cười:
"Thế nên thần mới nói, họ không kiếm tiền từ giá trị bản thân của món hàng, mà kiếm tiền từ sự chênh lệch thị trường giữa các vùng đất cách nhau vạn dặm!"
Dương Quảng ngồi trên ngai rồng, khẽ nhấp một ngụm trà, trong lòng không khỏi tán thưởng.
"Đám con buôn này quả nhiên nhạy bén. Tự thân vận động đã biết chạy chuỗi đổi hàng xuyên lục địa chẳng khác nào cơ chế trao đổi hàng hải trong truyền thuyết để vét sạch lợi nhuận."
Bùi Củ dừng lại một nhịp, đưa mắt nhìn quanh các vị đại thần đang sững sờ:
"Đây không còn là một chuyến buôn bán đơn lẻ nữa. Đây là một vòng tuần hoàn thương mại liên lục địa khép kín!"
Ngu Thế Cơ vội vàng hỏi dồn:
"Vậy... vậy tổng kết lại, lợi nhuận của một vòng tuần hoàn như thế là bao nhiêu?"
Bùi Củ mỉm cười, thong thả đáp:
"Theo số liệu kiểm toán thuế thực tế của Bộ Thương Mại: Lợi nhuận trung bình của các thương đoàn này cao gấp 11 đến 13 lần so với các thương nhân buôn bán thông thường!"
"Bao nhiêu cơ?!"
Ngu Thế Cơ đang cầm chén trà chuẩn bị nhấp ngụm nước, nghe đến con số 13 lần liền giật bắn mình, suýt nữa đánh rơi chiếc chén sứ xuống đất. Lão thần tròn mắt, lắp bắp:
"Gấp... gấp 13 lần? Bọn họ in ra tiền đấy à?!"
Bùi Củ nhịn không được bật cười:
"Ngu đại nhân, lúc đầu thuộc hạ báo lên, ta cũng tưởng bọn họ làm giả sổ sách! Nhưng sau khi Cẩm Y Vệ và Cục Thuế phối hợp kiểm tra thực tế, sự thật đúng là như vậy. Bọn họ không kiếm tiền đơn thuần từ giá trị bản thân của món hàng, mà kiếm tiền từ sự chênh lệch cung cầu giữa các thị trường cách xa nhau vạn dặm! Một thứ cỏ rác vô giá trị ở phương Bắc lại là bảo vật nghìn vàng ở Tây Vực; một tấm thảm bình thường ở Ba Tư lại có giá liên thành tại Trường An. Bọn họ liên tục khai thác và xoay vòng sự chênh lệch đó trên từng dặm đường di chuyển!"
Dương Quảng ngồi trên ngai vàng, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười sâu sắc.
"Đây chính là sự trỗi dậy của tầng lớp tư bản thương mại liên lục địa đầu tiên."
Hắn thầm nghĩ trong đầu. Khi hạ tầng giao thông kết nối các vùng đất xa xôi lại với nhau, dòng chảy của tư bản và hàng hóa sẽ tự động tìm đến những nơi có độ chênh lệch cao nhất để sinh sôi nảy nở.
Bùi Củ tiếp tục:
"Hiện nay, giới thương nhân trong thiên hạ đang gọi những đoàn buôn tiên phong này bằng một cái tên rất đặc biệt: Thương đoàn Con Đường. Bọn họ tuyên bố rằng, đối với họ, điểm đến cuối cùng không còn quan trọng nữa, mà toàn bộ không gian dọc theo hành trình vạn dặm này chính là một thị trường khổng lồ không biên giới!"
Không gian bên trong Thái Cực Điện hoàn toàn tĩnh lặng.
Tất cả các đại thần, từ những người làm chính trị lão luyện như Bùi Uẩn, Dương Tú cho đến những tướng lĩnh trận mạc như Cao Quýnh, Dương Tố đều cảm nhận được một luồng sinh khí mới mẻ, vĩ đại đang ùa vào tâm trí họ.
2 năm trước, Đại Tùy còn đang loay hoay với những cuộc nổi dậy nông dân và gánh nặng đào kênh Vận Hà.
1 năm trước, Thông Thiên Thành mới chỉ là một công trường ngổn ngang gạch đá.
Nửa năm trước, Bắc Hải Hành Lang mới chỉ là một đường kẻ táo bạo trên giấy mực của vị hoàng đế trẻ tuổi.
Vậy mà hôm nay, mạng lưới các đô thị đã kết nối thành chuỗi, các tuyến thương lộ đã đan xen thành hệ thống, và một thị trường kinh tế khổng lồ kết nối 2 bờ lục địa Á - Âu đã bắt đầu tự vận hành một cách trơn tru, mạnh mẽ!
Và đứng ở vị trí trái tim, vị trí trung tâm điều phối của toàn bộ cỗ máy vĩ đại ấy, chính là Đại Tùy, là Thông Thiên Thành, là Bắc Hải, và là trục Con Đường trong đại chiến lược mà Dương Quảng đã dày công vạch ra.
Dương Quảng nhìn tấm bản đồ trải rộng giữa điện thật lâu, rồi khẽ cất tiếng hỏi:
"Đã có bao nhiêu thương đoàn hoàn tất trọn vẹn vòng tuần hoàn vĩ đại này trở về kinh đô rồi?"
Bùi Củ mỉm cười rạng rỡ:
"Khởi bẩm Bệ Hạ, có 3 đoàn đầu tiên đã về tới nơi an toàn vào cuối tháng 8 vừa qua. Hiện tại, cả 3 vị chủ thương đoàn đó đều đang vung bạc trắng mua đất lớn, thuê thợ giỏi nhất để xây đại biệt phủ nguy nga tại phía Nam thành Trường An ạ!"
Cả Thái Cực Điện lập tức nổ tung một tràng cười sảng khoái và phấn khởi.
Ngu Thế Cơ vội vàng cầm bút son ghi chép lia lịa vào sổ thu thuế, miệng lẩm bẩm đầy vẻ tâm đắc:
"Tốt! Quá tốt! Xây biệt phủ càng to càng tốt! Bổn quan nhất định sẽ đích thân cử người đến thu đủ thuế trước bạ và thuế môn bài không thiếu một đồng nào!"
Tiếng cười sảng khoái và những lời bàn tán rôm rả về việc tận thu thuế của Ngu Thế Cơ dần lắng xuống trong lòng Thái Cực Điện. Không khí vừa trở lại vẻ trang nghiêm thì Thiên Khải Đế Dương Quảng đã bất chợt bật cười lớn, tiếng cười sảng khoái vang vọng khắp các hàng cột gỗ đỏ sẫm.
Hắn từ tốn đặt chén trà sứ xuống bàn ngự, ánh mắt lấp lánh ngọn lửa tham vọng nhìn thẳng vào hàng trăm vị đại thần đang ngồi ngay ngắn phía dưới.
"Haha! Tốt! Tốt lắm!"
Dương Quảng đứng dậy, bước xuống thềm ngọc, hai tay chắp sau lưng, phong thái ung dung đĩnh đạc nhưng toát lên một luồng khí tràng áp đảo.
"Con Đường thì các khanh đều đã tận mắt nhìn thấy rồi. Bắc Hải Hành Lang, Con Đường Tơ Lụa, hệ thống đường sắt quốc gia, những dòng chảy khoáng sản và các thương đoàn liên lục địa tự phát... Chúng ta đã bước đầu liên kết được đất liền, đã có được Con Đường vững chãi."
Hắn dừng lại trước tấm bản đồ thế giới khổng lồ trải rộng giữa lòng điện, ngón tay nhẹ nhàng gõ lên mặt da thuộc phát ra những tiếng lộp bộp trầm đục.
"Nhưng một nửa bức tranh còn lại vẫn đang bỏ ngỏ. Để hoàn tất đại chiến lược Vành Đai và Con Đường, hôm nay Trẫm sẽ chỉ cho các khanh thấy rõ: Vành Đai rốt cuộc là cái gì!"
Toàn bộ Thái Cực Điện lập tức im phăng phắc. Hai chữ Vành Đai vừa thốt ra khiến ngay cả những đại thần mưu lược sâu sắc như Bùi Uẩn, Cao Quýnh hay Bùi Củ cũng đều ngẩn người, nín thở chờ đợi lời giải đáp.
Thế nhưng, Dương Quảng lại không lập tức giải thích mà đột ngột chuyển tầm mắt sang hàng ghế của Công Bộ, cất giọng gọi lớn:
"Vũ Văn Khải!"
Viên đại công trình sư kiệt xuất của triều đình lập tức đứng bật dậy khỏi vị trí làm việc, chắp tay nghiêm cẩn:
"Thần có mặt!"
Dương Quảng nhìn thẳng vào ông, giọng nói mang theo sự truy vấn đầy sắc bén:
"Báo cáo tiến độ về số lượng tàu viễn dương cho Trẫm. Trẫm nhớ không lầm thì nửa năm qua, triều đình đã phê duyệt cấp cho khanh cơ man máy móc gia công cơ khí chính xác hiện đại nhất, lại còn ưu tiên xây dựng riêng một đập thủy điện công suất lớn chỉ để cấp điện năng liên tục cho các đại xưởng đóng tàu duyên hải. Khanh đã dùng những thứ vũ khí cơ khí ấy để làm được những gì rồi?"
Nghe thấy Hoàng Đế nhắc đến chuyện đóng tàu, không ít quan viên trong điện đưa mắt nhìn nhau, trong lòng dấy lên nỗi nghi hoặc. Đang bàn về vận mệnh đại chiến lược kinh tế và quân sự của cả đế quốc, tại sao Bệ Hạ lại đột ngột rẽ sang chuyện xưởng mộc, xưởng thuyền?
Vũ Văn Khải cẩn thận mở tập hồ sơ đóng bìa da màu xanh thẫm mang tên Kế hoạch Hàng Hải Hoa Hạ đặt trên bàn. Vừa lật mở trang số liệu đầu tiên, khóe miệng vị đại sư công trình này đã giật giật, trên gương mặt phong trần lộ ra một nụ cười vừa khổ sở lại vừa phấn khích tột độ.
Ông ngẩng đầu lên, gãi nhẹ mái tóc hoa râm, ấp úng cất lời:
"Khởi bẩm Bệ Hạ... Thần... thần thực sự không biết phải dùng từ ngữ nào để báo cáo cho người thấu triệt nữa."
Dương Quảng nhướng mày, nửa cười nửa trách:
"Nói tiếng người xem nào."
Cả Thái Cực Điện lập tức bật cười khúc khích trước màn đối đáp quen thuộc giữa hai thầy trò ngành kỹ thuật.
Vũ Văn Khải ho khan một tiếng để lấy lại vẻ nghiêm túc, hai mắt sáng rực như đuốc:
"Khởi bẩm Bệ Hạ, tiến độ chế tạo thực tế đã vượt xa mọi dự toán ban đầu của Công Bộ! Vượt xa đến mức... đến mức bản thân thần khi cầm bảng tổng kết vào đêm qua cũng cảm thấy hoài nghi nhân sinh!"
Tiếng cười lại rộ lên khắp các dãy bàn làm việc. Vũ Văn Khải hít sâu một hơi, chỉ tay vào từng cột số liệu chi tiết:
"Nhờ có nguồn điện năng dồi dào, ổn định suốt ngày đêm từ đập thủy điện đưa về, cùng với hàng loạt cưa máy, búa máy hơi nước và máy tiện cơ khí chính xác mà Thiên Cơ Các cung cấp, ba đại xưởng đóng tàu huyết mạch tại Quảng Châu, Phúc Kiến và Dương Châu đã hoàn tất việc mở rộng quy mô ụ tàu lên gấp 4 lần. Trước đây, một thân gỗ cổ thụ ngàn năm muốn xẻ thành ván cong chịu lực phải tốn hàng chục thợ cả đẽo gọt ròng rã nửa tháng trời, nay lưỡi cưa máy chạy điện chỉ mất đúng 2 canh giờ là hoàn tất một kiện gỗ chuẩn xác đến từng ly! Năng lực gia công cơ khí của các xưởng hiện tại đã vượt qua toàn bộ lịch sử đóng thuyền ngàn năm của Hoa Hạ cộng lại!"
Các quan chức thuộc khối kỹ thuật ngồi phía sau đồng loạt gật đầu tán đồng. Đối với những người trực tiếp làm việc với sắt thép và gỗ đá, họ hiểu quá rõ sự khủng khiếp của một xưởng gia công cơ khí chạy bằng điện lực giữa thời đại này. Đó thực sự là một con quái vật công nghiệp nuốt gỗ nhả thuyền.
Vũ Văn Khải lật sang trang báo cáo tiếp theo, giọng nói sang sảng vang rền khắp đại điện:
"Báo cáo Bệ Hạ, chiếc Viễn Dương Thuyền nguyên mẫu đầu tiên theo đúng bản vẽ thiết kế ba cột buồm vượt sóng đã hoàn thành 100%, hiện đang neo đậu tại quân cảng Quảng Châu để chờ ngày lành làm lễ hạ thủy! Chiếc thứ 2 đã lắp xong khung xương và lớp vỏ ngoài, đang bước vào giai đoạn hoàn thiện nội thất và hệ thống dây buồm. Chiếc thứ 3 đã chính thức đặt ky tại xưởng Phúc Kiến!"
Toàn bộ đại điện khẽ ồ lên kinh ngạc. Mới chỉ nửa năm mà đã có thể đóng xong một cự hạm vượt biển khổng lồ, tốc độ này quả thực là chuyện không tưởng.
Thế nhưng, Vũ Văn Khải vẫn chưa dừng lại ở đó:
"Ngoài 3 chiếc nói trên, hiện tại trên khắp các triền đà của 3 xưởng lớn đang có thêm 17 chiếc Viễn Dương Thuyền khác được thi công đóng mới đồng thời!"
Lần này thì Bùi Củ, Dương Dũng cùng toàn thể triều thần đều trố tròn mắt, không kìm được mà hít sâu một hơi khí lạnh.
Bùi Củ nghẹn ngào thốt lên:
"17 chiếc đóng cùng một lúc? Vũ đại nhân, ngài... ngài lấy đâu ra nhiều nhân lực và gỗ tốt để làm điên cuồng như vậy?"
Vũ Văn Khải nhìn Bùi Củ, vẻ mặt đầy nỗi bất lực:
"Bùi Thượng thư hỏi thần, thần biết hỏi ai bây giờ? Tất cả là nhờ ơn của các thương hội lớn dưới quyền quản hạt của Bộ Thương Mại đấy thôi!"
Cả Thái Cực Điện lại dỏng tai lên nghe ngóng. Vũ Văn Khải lắc đầu thở dài:
"Kể từ khi tin tức về các Thương Đoàn Con Đường trở về từ Bắc Hải Hành Lang mang theo núi vàng núi bạc lan truyền ra ngoài, toàn bộ giới thương nhân khắp Giang Nam, Lạc Dương và Sơn Đông đều phát cuồng lên cả rồi! Họ nhận ra tiềm năng buôn bán đường dài lớn đến mức nào. Nhưng đường bộ thì xa xôi hiểm trở, năng lực vận tải bằng xe ngựa lại có hạn. Thế là ngày nào cũng có hàng chục vị hội trưởng thương hội kéo đến vây kín cổng Công Bộ và các xưởng đóng tàu. Họ đập cả rương bạc trắng xuống bàn, van nài thần nhận tiền đặt cọc trước, hỏi thần đúng một câu duy nhất: Bao giờ thì xưởng giao tàu? Bao giờ thì bán tàu ra ngoài? Ngày nào cũng hỏi, giờ nào cũng hỏi! Thần cảm giác nếu Công Bộ không tăng tốc đóng tàu cho nhanh, đám thương nhân đó sẵn sàng kéo chiếu ra nằm ngủ la liệt trước cổng xưởng để gây sức ép mất!"
Tiếng cười lại bùng nổ khắp Thái Cực Điện. Các quan viên đều cười nghiêng ngả trước cảnh tượng dở khóc dở cười mà vị đại sư kiến trúc phải chịu đựng.
Dương Quảng mỉm cười gật đầu, rồi thu lại nét mặt cợt nhả, hỏi vào trọng tâm quân sự:
"Còn đồ án Trấn Hải Hạm thì sao?"
Nhắc đến Trấn Hải Hạm, thần sắc của Vũ Văn Khải lập tức trở nên vô cùng nghiêm túc, sự cẩn trọng của một công trình sư hàng đầu hiện rõ trên gương mặt:
"Khởi bẩm Bệ Hạ, cỗ máy chiến tranh này phức tạp hơn Viễn Dương Thuyền gấp bội phần. Động cơ hơi nước hàng hải cỡ lớn do Thiên Cơ Các chế tạo cơ bản đã chạy thử nghiệm thành công trên bệ thử, công suất đạt chuẩn vượt sóng. Tuy nhiên, việc bọc các tấm giáp thép tôi luyện lên thân gỗ và khả năng chống chịu sự ăn mòn của nước biển mặn vẫn đang gặp phải một số trở ngại kỹ thuật. Dự kiến phải sang đến Quý II năm sau, nguyên mẫu Trấn Hải Hạm bọc thép đầu tiên mới có thể chính thức hạ thủy bắn thử pháo hạm."
Cao Quýnh ở hàng ghế quốc phòng nghe vậy liền khẽ gật đầu hài lòng:
"Sang năm hạ thủy là đã quá nhanh rồi. Một thứ vũ khí chiến lược định hình lại toàn bộ lối đánh trên biển như vậy, cẩn trọng một chút là điều tối cần thiết."
Dương Quảng khẽ ừ một tiếng tán đồng. Sau đó, hắn chậm rãi bước tới sát mép chiếc bàn tròn khổng lồ, ánh mắt dán chặt vào tấm bản đồ thế giới.
Trước sự chứng kiến của hàng trăm đại thần, Dương Quảng nâng cánh tay phải lên, ngón trỏ đặt từ vùng biển duyên hải Hoa Đông và vịnh Giao Chỉ, rồi từ từ kéo một đường vòng cung dài thênh thang: lướt qua Biển Đông, men theo eo biển Malacca hiểm yếu, vạch một đường thẳng tắp xuyên qua lòng Ấn Độ Dương bao la, chạm vào bờ cõi vịnh Ba Tư và bờ biển Đỏ, rồi từ đó mở rộng vòng cung ôm trọn lấy biển Địa Trung Hải và vươn thẳng tới bờ cõi Tây Âu xa xôi.
Một vòng tròn hải trình vĩ đại bằng mực đỏ hiện lên rực rỡ, khép kín lại với tuyến đường sắt và các đoàn bộ hành trên bộ!
Dương Quảng thu tay lại, giọng nói trầm hùng, uy nghiêm vang dội khắp không gian Thái Cực Điện:
"Các khanh! Nhìn cho kỹ vào!"
"Đây... mới chính là Vành Đai!"
Hắn ngẩng cao đầu, ánh mắt rực sáng niềm kiêu hãnh của một bậc đế vương kiến tạo thời đại:
"Con Đường là tuyến huyết mạch xuyên qua lục địa, dùng đường sắt và vó ngựa để kết nối Á - Âu. Nhưng Vành Đai... Vành Đai chính là đại dương xanh thẳm ôm trọn lấy quả địa cầu này! Chỉ khi nào Con Đường trên cạn và Vành Đai trên biển cùng nhau vận hành, hỗ trợ và khép kín lại thành một thể thống nhất, thì đại chiến lược Vành Đại và Con Đường của Hoa Hạ mới thực sự hoàn thành sứ mệnh kết nối toàn bộ văn minh nhân loại!"
Trong khoảnh khắc ấy, cả Thái Cực Điện rơi vào một sự tĩnh lặng tuyệt đối.
Các bậc lão thần như Tô Uy, Bùi Uẩn, Cao Quýnh hay Dương Tố đều chết lặng trước tầm nhìn vượt thời đại đang phơi bày trước mắt. Bọn họ giờ đây mới bàng hoàng nhận ra, những chiến công rực rỡ suốt hai năm qua, từ việc bình định Đột Quyết, xây dựng Thông Thiên Thành, kéo đường sắt lên Bắc Hải hay mở thông Bắc Hải Hành Lang... hóa ra tất cả mới chỉ là những bước chạy đà sơ khai cho một ván cờ thiên hạ rộng lớn đến nghẹt thở!
Không để quần thần kịp định thần, Dương Quảng quay phắt người lại, tà long bào đen phần phật tung bay, buông ra một quyết sách kinh thiên động địa tiếp theo:
"Toàn bộ số Viễn Dương Thuyền này, sẽ là loại tàu vận tải thương mại chủ lực của Đại Tùy ta trên đại dương!"
Hắn dõng dạc tuyên bố:
"Chúng không phải là chiến hạm bảo mật của quân đội, không phải là bảo vật quốc gia cất trong kho kín, càng không phải là vật cấm lưu hành trong dân gian! Chúng sinh ra để làm hàng hóa phục vụ thương mại!"
Cả đại điện ngơ ngác nhìn nhau. Bùi Củ lắp bắp:
"Bệ... Bệ Hạ định..."
"Đúng vậy!"
Dương Quảng khẳng định:
"Công Bộ chịu trách nhiệm tập trung toàn lực đóng tàu theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật. Còn Bộ Thương Mại... Trẫm giao toàn quyền cho khanh đem số tàu này bán ra ngoài cho các thương hội tư nhân!"
"Bán ra ngoài?!"
Bùi Củ suýt nữa đánh rơi chiếc bút lông trong tay, kinh hãi thốt lên:
"Một cự hạm vượt sóng vĩ đại như vậy mà đem bán cho giới thương nhân sao? Bán theo hình thức nào ạ?"
Dương Quảng cười nhạt, thong thả buông hai chữ:
"Đấu giá!"
"Đấu giá công khai tại kinh thành Trường An! Bất kể là đại thương hội Giang Nam, thương gia Quan Trung, hay thậm chí là các thương đoàn giàu có đến từ Tây Vực hay thảo nguyên, chỉ cần tuân thủ nghiêm ngặt luật pháp Thiên Khải, có đủ bạc trắng đóng vào quốc khố, ai trả giá cao nhất thì người đó được quyền sở hữu tàu!"
Bùi Củ hít sâu một hơi khí lạnh, hai bàn tay khẽ run rẩy. Lão thần thương nghiệp nhìn thấy ngay một cơn địa chấn kinh hoàng sắp sửa quét qua giới tài phiệt khắp thiên hạ.
Dương Quảng giơ một ngón tay lên, chốt hạ mức giá:
"Mức giá khởi điểm cho chiếc Viễn Dương Thuyền đầu tiên: 80 vạn lượng bạc trắng!"
"Ầm!"
Dù không có sấm sét giữa trời quang, nhưng con số 80 vạn lượng bạc vừa thốt ra chẳng khác nào một tiếng nổ long trời lở đất giáng thẳng vào tâm trí của từng vị quan viên đang có mặt.
80 vạn lượng bạc cho một con tàu!
Dương Dũng trợn tròn mắt nhìn Vũ Văn Khải. Vũ Văn Khải há hốc mồm nhìn Bùi Củ. Còn Bùi Củ thì bất giác quay phắt sang nhìn Ngu Thế Cơ ở hàng ghế tài chính.
80 vạn lượng bạc đủ để nuôi sống cả một quân đoàn tinh nhuệ trong vòng nhiều tháng trời, vậy mà đem ra làm giá sàn cho một phương tiện di chuyển trên nước!
Thế nhưng, trái ngược hoàn toàn với vẻ bàng hoàng của mọi người, Ngu Thế Cơ sau một hồi thoăn thoắt gạt bàn tính gỗ thì chậm rãi ngẩng đầu lên, nét mặt bình thản đến kỳ lạ. Lão thần vuốt râu, cất giọng tỉnh bơ:
"Khởi bẩm Bệ Hạ... Thần thấy mức giá 80 vạn lượng này... có vấn đề."
Dương Quảng nhướng mày:
"Sao? Khanh chê đắt quá, sợ đám thương nhân không mua nổi à?"
Ngu Thế Cơ lắc đầu dứt khoát:
"Không! Thần thấy giá đó... quá thấp!"
Cả Thái Cực Điện lập tức hóa đá tại chỗ.
Bùi Củ trố mắt nhìn người đồng liêu lâu năm của mình như nhìn một kẻ điên. Cao Quýnh, Dương Dũng cùng các tướng lĩnh quân đội thì suýt nữa cắn phải đầu lưỡi. 80 vạn lượng bạc trắng mà còn chê thấp?!
Ngu Thế Cơ không hề nao núng, bình tĩnh mở cuốn sổ kiểm toán tài chính ra đối chiếu:
"Các vị đại thần chớ vội nhìn lão phu như vậy! Hãy nhìn vào thực tế mà xem! Một Thương Đoàn Con Đường của họ Trần chỉ cần đi một vòng tuần hoàn trên bộ bằng lạc đà và xe ngựa thô sơ qua Bắc Hải Hành Lang, mất hơn một năm trời ăn gió nằm sương, mà lợi nhuận thu về đã vượt quá 300 vạn lượng bạc trắng!"
Lão thần vỗ mạnh lên mặt bàn tính, giọng nói đanh thép đầy tính thuyết phục:
"Một chiếc Viễn Dương Thuyền khổng lồ ba cột buồm kia có tải trọng hàng hóa lên tới hàng trăm tấn, gấp mấy chục lần một đoàn lạc đà! Nó chạy bằng sức gió trên biển, không tốn cỏ nuôi súc vật dọc đường, tốc độ di chuyển lại nhanh hơn đường bộ gấp nhiều lần. Một chuyến hải trình viễn chinh sang phương Tây xuôi chèo mát mái, lợi nhuận mà nó mang về cho chủ tàu tuyệt đối không dưới 500 vạn lượng bạc!"
Ngu Thế Cơ đẩy bàn tính sang một bên, khẳng định chắc nịch:
"Một cỗ máy kiếm bạc khủng khiếp như thế, đem bán với giá khởi điểm 80 vạn lượng thì đám thương nhân giàu nứt đố đổ vách kia sẽ tranh nhau vỡ đầu để cướp lấy cho bằng được! Giá này không những không đắt, mà là quá hời cho bọn họ!"
Không gian bên trong đại điện lại rơi vào yên lặng. Từng lời phân tích sắc bén dựa trên số liệu thực tế của Ngu Thế Cơ đã đánh tan mọi sự nghi ngờ.
Bùi Củ nuốt nước bọt một cái ực, khó khăn cất lời:
"Khởi bẩm Bệ Hạ... Nếu thực sự tổ chức đấu giá công khai theo đúng quy luật thị trường tự do, thần dự đoán... mức giá chốt cuối cùng của chiếc tàu đầu tiên này hoàn toàn có thể vượt qua con số 150 vạn lượng, thậm chí chạm mốc 200 vạn lượng bạc trắng!"
Vũ Văn Khải ngồi bên cạnh nghe vậy liền ôm trán lắc đầu quầy quậy:
"Điên rồ... Thật sự quá mức điên rồ rồi! Đó chung quy cũng chỉ là một con tàu đóng bằng gỗ lim và vải bạt thôi mà..."
Bùi Củ quay sang nhìn Vũ Văn Khải, ánh mắt tràn đầy sự thương hại dành cho một người chỉ biết làm kỹ thuật thuần túy:
"Vũ đại nhân ơi là Vũ đại nhân! Dưới con mắt của thợ mộc các ngài, nó là một con tàu gỗ. Nhưng dưới con mắt của đám thương nhân chúng tôi, đó chính là một cỗ máy in bạc tự động khổng lồ!"
Ngu Thế Cơ lập tức gật đầu lia lịa tán đồng:
"Đúng vậy! Một cỗ máy in bạc chạy bằng sức gió trời! Không cần đổ dầu, không cần đốt than, chỉ cần căng buồm đón gió là bạc trắng tự động chảy vào túi!"
"Ha ha ha ha!"
Tiếng cười lại một lần nữa vang dội khắp Thái Cực Điện, xua tan hoàn toàn vẻ căng thẳng ban đầu. Các quan viên ai nấy đều hân hoan trước viễn cảnh quốc khố sắp sửa nghênh đón những đợt sóng bạc trắng khổng lồ đổ về từ đại dương.
Giữa những tiếng cười sảng khoái ấy, Dương Quảng chậm rãi tiến lại gần khung cửa sổ lớn của đại điện. Hắn phóng tầm mắt nhìn ra phương Nam xa xôi, nơi những dòng sông lớn đang cuồn cuộn đổ ra biển cả mênh mông, khóe môi khẽ cong lên một nét cười thâm trầm, sâu sắc.
"Các khanh."
Thanh âm của hắn vang lên, trầm tĩnh nhưng khiến toàn bộ tiếng cười trong điện dần lắng xuống.
"Các khanh tưởng Trẫm đem con tàu này ra bán đấu giá là vì Trẫm thèm muốn vài trăm vạn lượng bạc của đám thương nhân kia sao?"
Dương Quảng lắc đầu, ánh mắt hướng thẳng về phía chân trời vô tận:
"Không."
"Chúng ta không đơn thuần là bán một con tàu gỗ."
"Chúng ta... đang bán những tấm vé đầu tiên để đưa toàn bộ giới tinh hoa, của cải và ý chí của nền văn minh Hoa Hạ cùng bước lên con tàu định mệnh mang tên Vành Đai và Con Đường!"
Hắn quay người lại, nhìn thẳng vào từng gương mặt đang rực sáng của quần thần:
"Bởi vì một khi những cánh buồm mang cờ hiệu Đại Tùy đã no gió lướt sóng ra khơi, thì đại dương này, thế giới này... sẽ vĩnh viễn không còn đường quay trở lại như cũ nữa!"
Dương Quảng thu lại nụ cười, ánh mắt đột nhiên trở nên thâm trầm, sắc bén như lưỡi kiếm vừa tuốt khỏi vỏ. Hắn hướng tầm nhìn về phía các viện sĩ và công trình sư, cất giọng rành rọt, từng chữ nện xuống như búa điểm trên đe thép:
"Vũ đại nhân chớ vội than thở việc đóng tàu gỗ. Bởi vì ngoài mười bảy chiếc Viễn Dương Thuyền chở hàng dân sự kia, bản báo cáo mật mà Thiên Cơ Các vừa đệ trình lên long án sáng nay mới thực sự là quả bom mà Trẫm dành cho các khanh."
Cả Thái Cực Điện lập tức nín thở. Bất kỳ ai ở chốn triều đình này đều hiểu rất rõ, mỗi khi ba chữ Thiên Cơ Các được Hoàng Đế nhắc đến bằng ngữ điệu này, thì những thứ xuất hiện tiếp theo sẽ không bao giờ là vật tầm thường của trần thế.
Dương Quảng đứng thẳng lưng, ngực hơi ưỡn ra, dõng dạc tuyên bố:
"Năm chiếc! Năm chiến hạm tuần dương bọc thép thuộc dòng Trấn Hải Hạm của Trẫm... đã chính thức hoàn thành xuất xưởng!"
"Ầm!"
Dù không có tiếng pháo lệnh rền vang, nhưng tin tức ấy rơi xuống chẳng khác nào sét đánh giữa thanh thiên bạch nhật, chấn động đến tận cùng tâm can của toàn thể văn võ bá quan.
Vũ Văn Khải kinh ngạc đến mức hai mắt trợn tròn, suýt nữa đánh rơi tập hồ sơ trên tay:
"Thành... thành công rồi sao Bệ Hạ? Không phải thân thép bọc ngoài và hệ thống nồi hơi chịu mặn vẫn đang gặp nút thắt sao?"
Dương Quảng khẽ nhếch mép, cười đầy ngạo nghễ:
"Các viện sĩ của Thiên Cơ Các đã làm việc suốt ngày đêm bên bờ vịnh bí mật. Động cơ hơi nước hàng hải trục kép đã vận hành trơn tru! Các khối giáp thép tôi luyện chịu mặn đã gắn kết hoàn hảo! Toàn bộ thử nghiệm chạy sóng lớn ngoài khơi xa, thử nghiệm áp lực nồi hơi và bắn thử pháo hạm hạng nặng bằng đạn nổ không thuốc súng đen đều đã hoàn tất một trăm phần trăm! Năm cự hạm bọc thép sừng sững xé sóng đại dương, không cần chèo, không phụ thuộc hướng gió, mang theo hỏa lực có thể san phẳng bất kỳ pháo đài ven biển nào chỉ trong một khắc đồng hồ!"
Tiếng hít sâu đồng loạt vang lên khắp đại điện, lạnh toát cả sống lưng. Một thứ quái vật cơ khí bằng sắt thép và hơi nước, mang hỏa lực hủy diệt như thế, rốt cuộc sẽ đem lại điều gì?
Dương Quảng nhìn lướt qua các đầu ngành, dứt khoát hạ lệnh:
"Năm chiến hạm tuần dương này, tuyệt đối không thuộc quyền quản lý của Công Bộ, không trao cho Bộ Thương Mại, và càng không bao giờ đem ra đấu giá! Chúng sẽ được biên chế thẳng vào Hải Quân Đại Tùy!"
Hắn bước xuống từng bậc thềm đá hoa cương, tà long bào đen phần phật theo từng bước chân vững chãi:
"Nhiệm vụ của chúng chỉ có một: Làm chiếc khiên sắt kiên cố nhất của Vành Đai! Chúng sẽ tuần tiễu ngoài khơi xa, bảo vệ tuyệt đối an toàn cho các đoàn Viễn Dương Thuyền chở hàng của thương nhân Đại Tùy. Bất kể là phong ba bão táp hay hải tặc man di, bất cứ kẻ nào dám nhòm ngó, dám đưa móng vuốt cướp bóc vào tài sản và tính mạng của thần dân Hoa Hạ trên mặt biển, Trấn Hải Hạm sẽ dùng đại pháo nghiền nát chúng thành tro bụi dưới đáy đại dương! Không có sức mạnh quân sự bảo hộ, thương mại chỉ là miếng mồi béo bở cho kẻ khác xâu xé. Có chiếc khiên này che chắn, thương nhân ta mới có thể ngẩng cao đầu mà đi khắp bốn bể!"
Cao Quýnh cùng Dương Tố đứng thẳng người, hai vị lão tướng nhìn nhau, trong mắt ánh lên sự thấu triệt sâu sắc. Bọn họ hoàn toàn hiểu ra dã tâm vĩ đại của vị hoàng đế trẻ tuổi này: dùng sức mạnh tuyệt đối của hải quân sắt thép để áp đặt một trật tự hòa bình mới trên biển cả, dọn sạch mọi hiểm họa để dòng chảy kinh tế tự do tuôn trào!
Dương Quảng bước thẳng tới trước chiếc bàn tròn khổng lồ đặt giữa điện. Hắn cầm lấy cây bút lông lớn, nhúng đẫm mực son đỏ tươi, rồi dứt khoát đặt ngòi bút lên mặt tấm bản đồ thế giới.
"Xoẹt!"
Một vệt mực đỏ thắm rạch ngang không gian bản đồ.
Dương Quảng vung tay, nét bút lướt đi dứt khoát và điêu luyện. Điểm xuất phát bắt đầu từ đại cảng Quảng Châu và duyên hải phương Nam, xé toạc làn sóng Nam Hải, uốn lượn luồn qua eo biển Malacca hiểm trở. Chưa dừng lại ở đó, ngòi bút đỏ như một dòng máu nóng tiếp tục phóng thẳng vào lòng Ấn Độ Dương mênh mông vô tận, quét qua các vương quốc Ấn Độ, men theo bờ cõi vịnh Ba Tư, đâm xuyên qua Biển Đỏ, và cuối cùng dừng lại, tỏa ra khắp vùng lòng chảo Địa Trung Hải cổ kính!
Một vòng cung hải hành vĩ đại, đỏ rực như lửa, hiện lên sừng sững trên nền da thuộc, đối xứng và khép kín một cách hoàn hảo với trục Bắc Hải Hành Lang và Con Đường Tơ Lụa trên lục địa!
Dương Quảng đặt mạnh cây bút xuống mặt bàn, phát ra một tiếng "cốp" khô khốc. Hắn ngẩng đầu lên, ánh mắt bốc cháy ngọn lửa tham vọng ngút ngàn, quét qua từng gương mặt đang ngây dại vì choáng ngợp của triều thần:
"Các khanh! Nhìn cho kỹ vào!"
Ngón tay hắn ấn mạnh lên dải mực đỏ đang nối dài trên mặt biển:
"Đây... chính là Vành Đai!"
Cả Thái Cực Điện im phăng phắc, tĩnh mịch đến mức nghe rõ cả tiếng gió thu rít qua khe cửa sổ.
"Bắc Hải Hành Lang là Con Đường. Con Đường Tơ Lụa là Con Đường. Đường sắt và đầu máy hơi nước xuyên qua đồng cỏ tuyết cũng là Con Đường. Lục địa rộng lớn đã có đường sắt thép gắn kết. Nhưng biển cả bao la, không có núi cao vực sâu chắn lối, không có sa mạc chết chóc ngăn đường, không có biên giới chia cắt, đó mới thực sự là Vành Đai vĩnh cửu ôm trọn lấy địa cầu!"
Hắn gằn từng tiếng đầy uy lực:
"Một chiếc Viễn Dương Thuyền vượt sóng có thể mang tải lượng hàng hóa bằng cả ngàn cỗ xe ngựa gộp lại! Một hạm đội dong buồm có thể nối liền những đế quốc cách nhau vạn dặm trùng khơi! Hôm nay, vó ngựa và đường sắt của chúng ta đã cắm mốc ở Bắc Hải. Ngày mai, những cánh buồm Đại Tùy cùng họng pháo của Trấn Hải Hạm sẽ phủ bóng lên Ấn Độ Dương! Và một ngày không xa, toàn bộ mạng lưới này sẽ thắt chặt Địa Trung Hải, kéo toàn bộ nền văn minh của nhân loại quy về một mối!"
Dương Quảng hơi nghiêng đầu, khóe môi khẽ nhếch lên thành một nụ cười ngạo nghễ, mang theo chút giễu cợt đầy khiêu khích nhưng cũng chứa đựng sự tự tin vô bờ của một bậc bá chủ:
"Một đại chiến lược Vành Đai và Con Đường kinh thiên động địa, đầy dã tâm và tham vọng như thế này..."
Hắn chống tay lên mép bàn bản đồ, phóng ánh mắt rực lửa nhìn thẳng vào quần thần:
"Các khanh... có làm được không? Có hứng thú không?!"
Khoảng không gian trong Thái Cực Điện như đông cứng lại trong ba nhịp thở.
Không phải vì các đại thần không hiểu, mà là vì họ quá hiểu! Tầm nhìn này không còn là chuyện dẹp loạn cỏn con, không còn là việc tranh đoạt một vài châu huyện, mà là một ván cờ thế kỷ thôn tính cả thế giới bằng thương mại và công nghiệp!
Người đầu tiên phá vỡ sự im lặng là Bùi Củ!
Vị Thượng thư Bộ Thương Mại toàn thân run rẩy vì hưng phấn, gương mặt đỏ bừng như say rượu. Lão thần chẳng màng phong thái điềm đạm thường ngày, bước vội ra khỏi hàng ghế, hai tay vung lên trời thét lớn:
"Có! Khởi bẩm Bệ hạ, thần cực kỳ có hứng thú! Nếu thật sự có thể dùng thuyền lớn và pháo hạm mở thông tuyến hàng hải ra tận Ấn Độ Dương và Địa Trung Hải, đưa hàng hóa của Hoa Hạ nuốt trọn thương trường Tây phương, thì cái mạng già này của Bùi Củ cùng toàn bộ thuộc hạ Bộ Thương Mại nguyện ý thức trắng đêm suốt mười năm ròng để mở đường!"
Cả đại điện cười ồ lên trước sự cuồng nhiệt hiếm thấy của lão thượng thư thương nghiệp.
Chưa kịp dứt tiếng cười, Ngu Thế Cơ đã lập tức đẩy phắt chiếc bàn tính gỗ sang một bên, đứng phắt dậy, mặt mày rạng rỡ như nhặt được mỏ vàng:
"Có! Thần có hứng thú! Quốc khố của Đại Tùy có hứng thú! Ngân Hàng Quốc Gia Đại Tùy lại càng có hứng thú tột cùng! Cứ nghĩ đến cảnh bạc vàng, châu báu và thuế quan từ khắp đại dương cuồn cuộn đổ về Trường An như thác lũ, thần nằm mơ cũng thấy tỉnh cả ngủ! Chỉ xin Bệ hạ thương tình... điều thêm cho thần vài trăm kế toán viên giỏi, chứ một mình lão già này đếm bạc đến gãy cả tay mất!"
"Ha ha ha ha!" Tiếng cười sảng khoái lại vang dội khắp các góc điện.
Dương Dũng cũng không chịu ngồi yên, Bác Lăng Vương đứng bật dậy, chắp tay dõng dạc:
"Bộ Nông Nghiệp tuyệt đối không chịu tụt lại phía sau! Dân số Đại Tùy dưới triều Thiên Khải đang tăng trưởng bùng nổ, mùa màng năm nào cũng bội thu, kho tàng khắp các châu huyện đều đã chật ních lúa gạo. Nếu mở được Vành Đai trên biển, nông sản, gạo ngon, trà mạn của Đại Tùy sẽ nuôi sống cả thiên hạ, đem no ấm đổi lấy của cải muôn phương! Bộ Nông Nghiệp thần xin dốc toàn lực ủng hộ!"
Ngưu Hoằng kéo thẳng lại vạt áo, đứng dậy vuốt chòm râu bạc, giọng nói sang sảng:
"Bộ Giáo Dục cũng có thừa hứng thú! Các xưởng đóng tàu cần hàng vạn kỹ sư, các cảng biển cần hàng ngàn quan viên thông thạo luật hàng hải và ngoại ngữ, các hạm đội cần thủy thủ đoàn có học thức, các thương đoàn cần những bộ óc kinh doanh nhạy bén! Thần mấy tháng nay đang đau đầu vì số lượng sĩ tử tốt nghiệp các học phủ mới quá đông mà không đủ chức vị xứng tầm để phân bổ. Nay đại dương đã mở ra, đất dụng võ cho nhân tài Hoa Hạ rộng lớn vô cùng! Thần xin bảo đảm sẽ cung cấp đủ người tài cho Bệ hạ!"
Lý Mật ngồi ở mép ngoài cũng đứng phắt dậy, khóe môi nhếch lên đầy tự tin:
"Ủy Ban Tân Chính cùng Cẩm Y Vệ xin nhận lệnh! Bất kể là mở đất hoang ở biên ải phương Bắc hay thiết lập thương cảng mới ở vùng duyên hải phương Nam, chỉ cần nơi nào có dấu chân của người Hoa Hạ, nơi đó thần sẽ bảo đảm luật pháp và trật tự của triều đình được thực thi nghiêm minh đến từng tấc đất!"
Cuối cùng, một tiếng quát trầm hùng mang theo sát khí ngập trời vang lên.
Cao Quýnh cùng Dương Tố đồng loạt đứng dậy. Phía sau hai vị nguyên lão, toàn bộ các tướng lĩnh thuộc Bộ Quốc Phòng và Quân Ủy Trung Ương cũng đồng loạt đứng bật dậy, áo giáp kim loại va vào nhau phát ra những tiếng leng keng sắc lạnh:
"Bộ Quốc Phòng có hứng thú! Hải Quân Đại Tùy có hứng thú! Năm cự hạm bọc thép của Trấn Hải Hạm lại càng khát khao được rẽ sóng xông pha!"
Cao Quýnh siết chặt nắm đấm, ánh mắt sắc như chim ưng nhìn thẳng vào hải trình trên bản đồ, gằn từng tiếng rực lửa:
"Chỉ cần trên vùng biển ấy, có bất kỳ thế lực man di hay quân cướp biển nào dám manh tâm cướp bóc một kiện hàng, làm tổn hại một sợi tóc của thương nhân Đại Tùy... Quân đội của Bệ Hạ sẽ khiến cho cả vương triều của chúng vĩnh viễn mất đi hứng thú làm người!"
"Ầm!"
Tiếng hô vang dội của các tướng lĩnh quân đội làm rung chuyển cả những thanh xà gồ chạm rồng trên nóc Thái Cực Điện. Máu nóng trong huyết quản của từng con người đang có mặt ở đây dường như đã sôi trào đến cực điểm.
Dương Quảng đứng trên thềm điện, nhìn ngắm quần thần của mình, ngửa mặt lên trời cười vang đầy thống khoái.
Tiếng cười của hắn vừa dứt, thì một làn sóng chấn động khác lập tức bùng nổ.
Không ai bảo ai, không cần bất kỳ một hồi trống lệnh nào nhắc nhở, từ Bùi Củ, Ngu Thế Cơ, Cao Quýnh, Dương Tố, cho đến các đại thần Lục Bộ, các viện sĩ của Thiên Cơ Các và toàn thể đội ngũ quan lại, thư lại trong điện đều đồng loạt bước ra khỏi vị trí làm việc.
Hàng trăm con người, đại diện cho toàn bộ trí tuệ, quyền lực và sức mạnh của cả một đế chế, cùng tề tựu lại, hướng thẳng về phía ngai rồng và tấm bản đồ thế giới, đồng loạt quỳ một gối xuống, chắp tay thét lớn bằng tất cả lồng ngực:
"Chúng thần nguyện theo Bệ Hạ!"
"Xin Bệ Hạ dẫn đường!"
Tiếng hô đồng thanh vang rền như sấm sét xé toạc bầu trời thu Trường An, chấn động đến tận tầng mây xanh thẳm.
Bọn họ nhớ lại hai năm trước, khi vị hoàng đế này đòi cải tổ toàn diện triều chính, cải tạo Đại Vận Hà, người đời bảo ngài điên cuồng.
Khi ngài dựng nên Thông Thiên Thành bằng bê tông cốt thép giữa hoang mạc, người ta bảo ngài mơ mộng viển vông.
Khi ngài phóng bút vẽ nên Bắc Hải Hành Lang xuyên qua vùng băng tuyết Siberia, người ta cho rằng đó là tham vọng điên rồ không tưởng.
Thế nhưng giờ phút này, tất cả những điều tưởng chừng như thần thoại ấy đều đã hiện hữu bằng xương bằng thịt, bằng những đoàn tàu hơi nước gầm rú trong gió tuyết, bằng những dòng chảy bạc trắng cuồn cuộn chảy về quốc khố, và bằng một đế chế hùng mạnh chưa từng có trong lịch sử!
Không còn một ai nghi ngờ nữa. Không còn một ai chần chừ nữa.
Trước mắt họ, Vành Đai và Con Đường không còn là một bức tranh vẽ trên da thuộc, mà chính là vận mệnh vĩ đại của nền văn minh Hoa Hạ đang chuẩn bị vươn mình thống ngự toàn cầu!
Buổi triều hội tại Thái Cực Điện vừa bế mạc, những làn sóng xung kích vô hình của một thời đại mới đã lập tức phá vỡ ranh giới của những bức tường hoàng thành cao ngất.
Khái niệm Vành Đai và Con Đường tựa như một cơn bão tư tưởng vừa hình thành từ đỉnh cao quyền lực, theo các lối cửa thành Trường An lan tỏa ra ngoài với tốc độ chóng mặt. Ban đầu, các nghị quyết, chỉ thị chiến lược được truyền xuống từng bộ viện, từng nha môn thuộc Nội Các. Nhưng không như các triều đại cũ luôn coi cơ mật quốc gia là điều cấm kỵ phải che giấu kỹ lưỡng, triều đình Thiên Khải ngay lập tức biến nó thành một lời hiệu triệu công khai gửi tới toàn thể thiên hạ.
Bộ Thương Mại vào cuộc, các xưởng in ấn của triều đình làm việc hết công suất ngày đêm, tiếng khuôn gỗ và con chữ kim loại dập liên hồi trên mặt giấy thơm mùi mực mới. Chỉ trong vòng chưa đầy hai canh giờ, toàn bộ nội dung của buổi nghị chính, từng đường nét của mạng lưới lục địa và hải hành, cùng những bài phân tích chiến lược sắc sảo đã xuất hiện trên trang nhất của Đại Tùy Nhật Báo.
Từng chồng nhật báo còn thơm mùi mực in được chất đầy lên các toa tàu hỏa của hệ thống đường sắt quốc gia, tỏa đi như những mũi tên xé toạc màn sương sớm. Chúng theo các dịch trạm thần tốc chạy ngày đêm, theo từng đoàn xe ngựa của các thương nhân, theo chân những viên lại dịch truyền tin lan ra khắp ba mươi sáu phường thị thành Trường An, rồi nhanh chóng tràn ngập các tửu lâu, trà quán, các trạm kho vận và các hội quán thương nhân khắp bốn phương trời.
Ban đầu, khi cầm trên tay tờ nhật báo với hàng tiêu đề in chữ lớn đỏ thắm: Vành Đai và Con Đường, đại đa số người đọc đều cảm thấy ngỡ ngàng. Đó là một danh xưng quá đỗi kỳ vĩ, bao la đến mức vượt ra ngoài phạm vi hiểu biết thông thường của một xã hội phong kiến vốn chỉ quen quanh quẩn bên lũy tre làng hay bờ cõi nội địa.
Nhưng rồi, khi từng dòng chữ luận giải chi tiết của các bài bình luận được đọc to lên giữa chốn đông người, khi từng bản đồ phác thảo được mở rộng ra trước ánh mắt háo hức của đám đông, toàn bộ giới thương nhân từ lớn đến nhỏ bỗng chốc lặng đi.
Bởi vì họ nhận ra một sự thật chấn động: Thiên Khải Đế không hề vẽ ra một chiếc bánh vẽ viển vông nơi tương lai xa vời. Người đang xâu chuỗi toàn bộ thực tại hiển hiện mà chính bọn họ đã trực tiếp trải qua trong suốt hai năm ròng rã!
Đại Vận Hà khơi thông từ Nam ra Bắc, mang phù sa và lúa gạo phương Nam tưới mát đất Quan Trung, chính là một phần của đại chiến lược ấy.
Thông Thiên Thành mọc lên sừng sững giữa ngã ba biên ải, mở toang cánh cửa giao thương với các dân tộc ngoài biên thùy, cũng là một mắt xích trọng yếu.
Mạng lưới các đại đô thị từ U Châu, Thái Nguyên, Lương Châu, Thành Đô, Đại Lý, Dương Châu cho tới những tiền đồn xa xôi tít tắp nơi biên cương như Bắc Hải, An Tây, Đôn Hoàng, Thanh Hải, Lạp Tát... tất cả đều đã được những thanh ray đường sắt và đầu máy hơi nước gầm rú ngày đêm kết nối thành một chỉnh thể hoàn hảo.
Hai năm qua, bất cứ khi nào Thiên Khải Đế hạ một đạo thánh chỉ, bất cứ nơi nào ngòi bút son của người chấm lên bản đồ, nơi đó lập tức hóa thành miền đất hứa cho dòng chảy tiền tệ và cơ hội sinh sôi nảy nở.
Những đại thương nhân nhạy bén nhất nhớ lại thuở đầu triều Thiên Khải, khi gia sản của họ có kẻ chỉ vỏn vẹn là một cửa hiệu tạp hóa nhỏ bé nơi góc phố. Khi Đại Vận Hà bắt đầu vận hành, họ liều lĩnh gom hàng vận chuyển đường thủy và kiếm được món hời đầu tiên. Đến khi Thông Thiên Thành hình thành, lượng hàng hóa trao đổi bùng nổ, họ trở thành những phú thương có tiếng một vùng. Rồi hệ thống đường sắt quốc gia rầm rộ trải dài, Bắc Hải Hành Lang xé toạc lớp băng giá phương Bắc, mở ra những chuyến buôn liên lục địa lợi nhuận gấp mười mấy lần, những người ấy đã vụt sáng thành những cự phú giàu nứt đố đổ vách.
Và không chỉ riêng giới chủ thương đoàn giàu có. Những người đi theo họ, từ phu kéo xe, thợ rèn sắt, người chăn thả gia súc, lái buôn nhỏ lẻ thu gom sản vật, cho đến người làm công nhật nơi bến bãi, tất cả đều kiếm được những đồng tiền công sòng phẳng, đầy đủ. Tiền chảy vào túi dân, dân no ấm lại chi dùng mua sắm, các châu huyện thu được bạc thuế dồi dào, kéo theo cả một đế quốc Đại Tùy phồn thịnh vượt bậc chưa từng thấy trong lịch sử. Không có bất kỳ sự bóc lột hà khắc nào, không có sự cưỡng đoạt bằng gươm đao giáo mác, đó là sự thịnh vượng thuần túy sinh ra từ trật tự, từ lưu thông và từ sự kết nối.
Thế mà hôm nay, trên Đại Tùy Nhật Báo, triều đình lại dõng dạc tuyên bố: toàn bộ những chiến tích kinh thiên động địa trên lục địa suốt hai năm qua mới chỉ là một nửa của bức tranh! Mới chỉ là Con Đường!
Còn nửa kia, Vành Đai vĩ đại ôm trọn thế giới, lại nằm ở ngoài đại dương bao la!
Tin tức ấy như một mồi lửa ném thẳng vào đống rơm khô đang tích tụ sinh lực cuồn cuộn của giới thương trường.
Đêm hôm đó, Trường An và khắp các đô thị lớn nhỏ của Đại Tùy thực sự không ngủ!
Tại các thương hội sầm uất, trong các tửu lâu lộng lẫy và các phòng trà của giới hào thương, ánh đèn lồng thắp sáng rực rỡ xuyên qua bóng đêm thu buốt giá cho tới tận lúc bình minh ló dạng. Người ta không tụ tập để chè chén hoang phí, mà vây quanh những chiếc bàn lớn trải rộng tấm bản đồ thế giới vừa được sao chép vội vã.
Những ngón tay thô ráp của các thương nhân lão luyện run run lần theo từng tuyến hải trình mà Dương Quảng đã phóng bút vẽ ra. Từ đại cảng Quảng Châu, lướt qua Nam Hải, xuyên qua eo biển Malacca hiểm trở, tiến thẳng vào lòng Ấn Độ Dương mênh mông, chạm tới bờ cõi vịnh Ba Tư, Biển Đỏ rồi vươn dài tới tận Địa Trung Hải!
Những chiếc bàn tính gỗ gõ lách cách liên hồi trong đêm tĩnh mịch. Từng bài toán kinh tế được mổ xẻ dồn dập.
"Nếu chúng ta gom bạc đấu giá lấy một chiếc Viễn Dương Thuyền thì sao?"
"Một con tàu chở hàng trăm tấn hàng hóa, không tốn cỏ nuôi súc vật, lại có năm chiến hạm tuần dương bọc thép Trấn Hải Hạm của triều đình bảo hộ hỏa lực ngoài khơi xa, thì ai còn cản nổi chúng ta?"
"Tơ lụa, đồ sứ, trà ngon của Trung Nguyên đưa tới Ấn Độ Dương sẽ đổi được những thứ gì? Và khi cập bến Địa Trung Hải, nơi phương Tây cổ kính chưa từng thấy bóng dáng thương nhân Đại Tùy, chúng ta sẽ mang về bao nhiêu ngọn núi vàng bạc?"
Những câu hỏi nối tiếp nhau rơi vào màn đêm, khiến lồng ngực của bất kỳ ai có mặt đều phập phồng dữ dội. Đó không phải là nỗi lo âu hay sự sợ hãi trước những đợt tổng động viên chiến tranh của các triều đại trước. Đó là ngọn lửa cuồng nhiệt của khát vọng! Khát vọng bước ra biển lớn, khát vọng làm giàu chính đáng, khát vọng thám hiểm những chân trời xa lạ và khát vọng đặt dấu ấn của nền văn minh Hoa Hạ lên khắp địa cầu.
Tại góc một hội quán thương nghiệp sầm uất ở kinh thành, một đại thương nhân trẻ tuổi khẽ gấp tờ Đại Tùy Nhật Báo lại, ánh mắt nhìn đăm đắm về phương Nam qua khung cửa sổ lộng gió. Nơi đó, ngoài bờ cõi trùng khơi, những khung xương khổng lồ của Viễn Dương Thuyền đang sừng sững vươn lên dưới bàn tay của Vũ Văn Khải. Hắn nuốt một ngụm nước bọt, giọng nói khẽ run lên vì chấn động:
"Nếu Đại Vận Hà tạo ra phú thương một vùng... Nếu Bắc Hải Hành Lang tạo ra cự phú một cõi... Vậy thì Vành Đai và Con Đường này... rốt cuộc sẽ tạo ra thứ quái vật kinh thiên động địa nào đây?"
Không một ai có thể trả lời được câu hỏi ấy.
Bởi vì bản chất của ván cờ này đã vượt xa khỏi tầm dự đoán thông thường. Khi từng yếu tố riêng lẻ được ghép nối lại với nhau, một quy luật kỳ vĩ của vũ trụ sẽ tự động vận hành.
Một con đường đá dăm vốn dĩ chỉ là một lối đi đơn độc, nhưng khi nó ghép với một thị trấn sầm uất, nó trở thành dòng chảy giao thương.
Một thị trấn khi ghép với một chi nhánh Ngân Hàng Quốc Gia Đại Tùy liền biến thành một trung tâm điều phối tư bản.
Ngân hàng khi ghép với những thanh ray đường sắt và đầu máy hơi nước gầm rú liền biến thành một cỗ máy công nghiệp tăng tốc với sức mạnh vô tiền khoáng hậu.
Đường sắt ghép với tầng lớp thương nhân nhạy bén liền biến thành các thương đoàn liên lục địa tự phát.
Thương nhân mang của cải tích lũy ghép với tri thức khoa học kỹ thuật của Thiên Cơ Các liền biến thành ngành công nghiệp đóng tàu viễn dương chạy bằng điện lực và máy móc chính xác.
Và rồi, những hạm đội viễn dương ấy khi ghép với đại dương bao la của toàn cầu, sẽ biến toàn bộ thế giới thành một sân khấu khổng lồ của nền văn minh Hoa Hạ!
Từng viên gạch riêng lẻ không phải là một tòa thành. Từng tấm ván gỗ không phải là một cự hạm vượt sóng. Từng con người riêng biệt không thể đại diện cho một thời đại. Nhưng khi hàng triệu con người cùng nhìn thấy một ngọn hải đăng chỉ đường, cùng chia sẻ một mục tiêu, cùng hành động, cùng lao động, cùng kết nối và cùng dốc toàn lực tiến về phía trước, thì kết quả sinh ra không bao giờ đơn thuần là phép cộng số học của hàng triệu cá nhân ấy.
Nó chính là Trồi Sinh!
Một thực thể hoàn toàn mới, một trạng thái tiến hóa vĩ đại vượt ra ngoài mọi dự liệu, lớn hơn gấp ngàn vạn lần tổng thể các bộ phận tạo nên nó!
Trong đêm thu thanh tịnh của năm Thiên Khải thứ hai, dưới ánh sáng của hàng vạn ngọn đèn dầu soi bóng các trang báo Đại Tùy Nhật Báo, không một ai hay biết rằng Vành Đai và Con Đường đã không còn là một kế hoạch nằm trên giấy tờ của riêng Thiên Khải Đế. Nó đã bước ra khỏi cung cấm, thoát khỏi những bài tấu chương của quan lại, và bắt đầu tự sống cuộc đời rực rỡ, mãnh liệt của chính nó.
Nó đang đập rộn ràng trong tâm trí của những đại thương nhân đang vung bạc mua tàu; nó đang bốc cháy trong ánh mắt của những học giả trẻ chuẩn bị tốt nghiệp học phủ; nó đang hiện hữu trong đôi bàn tay chai sần của những người thợ rèn đang ngày đêm tôi luyện vỏ thép Trấn Hải Hạm; và nó đang nảy mầm trong giấc mơ của những đứa trẻ nghèo lần đầu tiên biết đánh vần chữ "Hoa Hạ" bên ánh đèn dầu.
Ngay cả Dương Quảng, người khởi xướng vĩ đại đứng trên đỉnh cao ngự tọa, giờ đây cũng không thể nào đoán định chính xác được cỗ máy khổng lồ này sẽ đưa nền văn minh này bay xa đến tận đâu.
Bởi vì kỳ tích rực rỡ nhất của triều đại Thiên Khải chưa từng nằm ở những thanh ray sắt thép vô tri, không nằm ở những khối bê tông Thông Thiên Thành, cũng không nằm ở năm cự hạm bọc thép oai hùng ngoài khơi xa.
Kỳ tích vĩ đại nhất, chính là việc một vị thiên tử đã thành công thắp lên ngọn lửa khát vọng trong tâm khảm của hàng triệu con người, để họ tự mình mở mắt nhìn ra biển lớn, tự mình cầm bút viết nên tương lai, và cùng nhau tạo nên một cuộc Trồi Sinh chấn động thiên cổ!
Sau buổi đại triều chấn động tại Thái Cực Điện, những mệnh lệnh mang dấu ấn phượng hoàng và mực son của Thiên Khải Đế bắt đầu truyền đi khắp giang sơn với tốc độ kinh hoàng.
Công Bộ cùng các nha môn trực thuộc lập tức nhận được chỉ thị tối mật kèm theo ngân khoản khổng lồ: huy động toàn bộ nhân lực địa chất, thủy văn tinh nhuệ nhất tỏa về dọc dải duyên hải phía Nam. Những đoàn xe chở đầy thước đo quang học, địa bàn chỉ nam thế hệ mới và máy đo độ sâu chạy bằng hơi nước rầm rộ tiến vào các làng chài hẻo lánh ven bờ biển Quảng Châu, Phúc Kiến, Hải Nam. Những vùng bãi bồi quanh năm chỉ có tiếng sóng vỗ và bóng dáng vài chiếc thuyền nan rách nát bỗng chốc mọc lên san sát những lán trại công binh. Tiếng cọc gỗ đóng xuống đáy biển, tiếng máy xúc hơi nước gầm rú nạo vét luồng lạch, và những tấm bảng quy hoạch bằng sắt đóng khung gỗ lim sừng sững dựng lên giữa trời gió lộng:
QUY HOẠCH HỆ THỐNG THƯƠNG CẢNG NƯỚC SÂU ĐẠI TÙY
Không khí công trường hầm hập hơi nóng của xi măng đông cứng dưới nước và sắt thép tôi luyện đã trở thành hồi chuông báo động đánh thẳng vào thần kinh của giới kinh thương toàn quốc. Suốt hai năm qua, triều đình Thiên Khải đã rèn cho các thương nhân một phản xạ có điều kiện sắc như dao cạo: bất cứ nơi nào hoàng đế ra lệnh đo đạc và quy hoạch, nơi đó đất đai lập tức hóa thành vàng ròng; bất cứ công trình nào triều đình chịu chi bạc đầu tư hạ tầng, nơi đó dòng tiền sẽ cuộn trào như thác lũ.
Và nơi cảm nhận được chấn động này đầu tiên, mãnh liệt nhất, chính là Thông Thiên Thành.
Nằm sừng sững tại ngã ba biên ải, Thông Thiên Thành từ lâu đã không còn là một tiền đồn quân sự đơn thuần. Dưới bóng những ống khói nhà máy cao ngút ngàn và mạng lưới đường sắt đan cài chằng chịt, thành phố này đã vươn mình thành một đại chợ trời khổng lồ của cả thế giới văn minh. Tại đây, người ta có thể tìm thấy mọi thứ: từ len cừu thảo nguyên, da chồn tuyết Bắc Hải, ngọc bích Hòa Điền, cho đến vải lụa Giang Nam, máy tiện cơ khí Trường An và hương liệu Ba Tư.
Những ngày này, các đại tửu lâu, trà quán xa hoa dọc theo đại lộ trung tâm Thông Thiên Thành không lúc nào ngớt tiếng ồn ào. Không ai buồn nâng chén thưởng rượu hay nghe ca kỹ gảy đàn; khắp các mặt bàn gỗ trắc đều bị chiếm trọn bởi những tờ Đại Tùy Nhật Báo còn thơm mùi mực in, bên cạnh những tấm địa đồ hàng hải vẽ vội và những chiếc bàn tính lách cách không ngừng nghỉ.
Tại tầng ba của Vạn Khách Lâu, một thương nhân trung niên đập mạnh tờ báo xuống bàn, giọng khàn đặc vì mất ngủ:
"Các vị đã đọc kỹ chưa? Công Bộ không chỉ nạo vét luồng lạch thông thường. Họ đang đổ bê tông cốt thép xây cầu cảng vươn dài ra ngoài hải phận sâu mười trượng! Mười trượng nước sâu để làm gì? Để những con tàu đáy chữ V sâu hoắm chở hàng ngàn tấn hàng hóa có thể cập mạn ăn hàng trực tiếp!"
Một gã lái buôn ngồi đối diện gắp miếng thịt bò, tỏ vẻ dửng dưng:
"Cảng nước sâu thì đã sao? Xa xôi tít tắp tận phương Nam, chúng ta ở Thông Thiên Thành buôn bán qua đường sắt chạy lên Bắc Hải và Tây Vực không đủ kiếm bạc hay sao mà phải bận tâm chuyện biển khơi?"
Gã thương nhân trung niên trừng mắt, nhìn người kia như nhìn một kẻ mất trí:
"Ngươi mù hay điếc mà không nhận ra thời thế? Mở to mắt ra mà nhìn xem: Viễn Dương Thuyền sắp bán đấu giá công khai với giá khởi điểm tám mươi vạn lượng; năm chiến hạm bọc thép tuần dương của Hải quân chuẩn bị xuất kích hộ tống; thương lộ hàng hải vòng qua Ấn Độ Dương sang tận Địa Trung Hải đã được vẽ xong trên ngự đồ. Giờ đây triều đình lại đổ hàng đống bạc xây cảng nước sâu, ngươi còn dám bảo không liên quan đến chúng ta sao? Một chuyến tàu hơi nước chở được bao nhiêu tấn hàng? Một con tàu viễn dương vượt sóng nuốt trọn số hàng của mười đoàn tàu hỏa! Biển lớn mở ra, kẻ nào chậm chân đứng trên bờ nhìn người khác dong buồm thì chỉ có nước đi ăn mày!"
Cả bàn tiệc bỗng chốc rơi vào im lặng tuyệt đối. Mọi người nhìn nhau, sống lưng lành lạnh. Ai nấy đều hiểu ra: Thiên Khải Đế không nói chơi. Cơn lốc biển cả đã thực sự thành hình, và nó chuẩn bị cuốn phăng mọi lề thói làm ăn cũ kỹ.
Ở một góc phòng khác, một nhóm hào thương trẻ tuổi đang vây quanh một tấm bản đồ duyên hải. Một người chỉ ngón tay dính mực vào dải đất ven vịnh Quảng Châu:
"Thương cảng nước sâu mọc lên, đất đai quanh bờ biển chắc chắn tăng giá gấp trăm lần. Chúng ta có nên gom vốn mua đất đầu cơ?"
Một thanh niên khác lập tức lắc đầu, tay thoăn thoắt gạt từng hạt bàn tính:
"Tầm nhìn của ngươi chỉ dừng lại ở chuyện mua đất bán lại thôi sao? Quá nông cạn! Giá đất chỉ là món lợi cỏn con ban đầu. Hãy nhìn vào những gì mà một bến cảng nước sâu cần có: kho bãi chứa hàng khô, kho lạnh bảo quản hương liệu, xưởng kéo sợi may buồm, xưởng cơ khí đúc neo sắt và xích tải, lò mổ cung cấp thịt muối cho thủy thủ đoàn, dịch vụ hoa tiêu dẫn đường, và cả những trạm y tế cung cấp thuốc chống phù thũng! Đó là hàng chục, hàng trăm mối làm ăn mới tinh chưa từng xuất hiện trong sách vở của thánh hiền. Kẻ nào nắm được hạ tầng phụ trợ bến bãi, kẻ đó nắm giữ huyết mạch của toàn bộ thương đoàn viễn chinh!"
Những tiếng xuýt xoa tán thưởng vang lên. Những bộ óc nhạy bén nhất của giới tài phiệt sơ khai đang tự mình bóc tách cơ hội, vạch ra những chuỗi ngành nghề công nghiệp và dịch vụ mới toát mồ hôi hột vì kích thích.
Thế nhưng, cơn địa chấn của Vành Đai và Con Đường không chỉ dừng lại ở tầng lớp thương nhân buôn bán thuần túy. Nó bắt đầu đánh thẳng vào thành trì kiên cố nhất của xã hội phong kiến ngàn năm: các đại thế gia vọng tộc.
Hai năm trước, nếu nhắc đến thế gia, người ta sẽ nghĩ ngay đến những đại gia tộc nắm giữ hàng vạn mẫu ruộng phì nhiêu, nuôi hàng ngàn nông nô tá điền, dùng quyền lực địa phương lũng đoạn giá thóc và sống sung túc dựa vào việc bóc lột tô thuế. Nhưng dưới triều Thiên Khải, bức tranh ấy đã bị đảo lộn tận gốc rễ.
Triều đình ban hành luật thuế lũy tiến nghiêm ngặt: ai càng nắm giữ nhiều ruộng đất thì mức thuế đất phải nộp vào quốc khố càng cao khủng khiếp. Trong khi đó, các chính sách nông chính của Bộ Nông Nghiệp lại phát huy hiệu quả thần kỳ: cung cấp giống lúa lai tạo năng suất cao, phổ biến phân bón hóa học sơ khai, hệ thống thủy lợi bằng xi măng kiên cố và đưa công cụ cày bừa bằng sắt thép tôi luyện về tận tay bách tính. Nông dân tự cày cấy trên mảnh đất của mình, nộp thuế nhẹ nhàng, giá lương thực trên thị trường được triều đình điều tiết giữ ở mức ổn định tuyệt đối. Sau khi trừ đi phần ăn và nộp thuế, nông dân khắp các châu huyện lần đầu tiên trong đời có thóc dư đem bán lấy tiền tích lũy trong túi, bắt đầu có tiền mua vải mới, sắm nông cụ và cho con em đến học phủ khai tâm.
Nông dân ấm no, nhưng các thế gia ôm nhiều đất thì bắt đầu toát mồ hôi lạnh. Lương thực không thể đầu cơ tăng giá c-ắt cổ như trước, mà thuế đất lại nặng như núi Thái Sơn đè lên vai. Nếu cứ ôm khư khư ruộng đất để thu tô, gia sản ngàn năm của các vọng tộc sớm muộn gì cũng bị tiền thuế nghiền nát thành tro bụi.
Bị dồn vào chân tường, tầng lớp thế gia buộc phải thay đổi để sinh tồn. Thay vì tích trữ ruộng đất, họ bắt đầu dùng lượng vốn liếng khổng lồ tích lũy qua nhiều thế hệ để chuyển dịch sang sản xuất thương phẩm.
Một đại thế gia ở Thái Nguyên không còn trông chờ vào vài ngàn héc-ta lúa mì, mà đem tiền mở xưởng luyện kim, sản xuất đường ray và xích sắt bán cho Công Bộ; lợi nhuận một quý từ xưởng thép đã vượt xa tiền thu tô của cả đời tổ phụ họ cộng lại. Một gia tộc danh giá ở Thành Đô gom vốn xây dựng những xưởng chế biến trà mạn, ép dầu hạt cải đóng thùng quy mô hàng vạn cân. Một cự tộc ở Dương Châu thâu tóm các xưởng dệt lụa, trang bị khung cửi cơ khí cải tiến chạy bằng sức nước, năng suất dệt vải tăng gấp hai mươi lần.
Thế gia không còn là những kẻ ăn bám trên lưng nông dân, mà bị bánh xe thời đại cuốn phăng trở thành những ông chủ xưởng, những nhà đầu tư công nghiệp sơ khai.
Và chính vào thời điểm bước ngoặt ấy, khái niệm Vành Đai và Con Đường ập đến như một tia chớp xé toạc màn đêm u tối trong nhận thức của họ.
Tại một đại sảnh kín cổng cao tường ở Thông Thiên Thành, nơi các vị gia chủ đại diện cho bảy đại thế gia danh tiếng đang tề tựu, không khí ngột ngạt đến mức nghẹt thở. Trên chiếc bàn tròn bằng gỗ đàn hương, tấm bản đồ thế giới của triều đình được trải rộng ra dưới ánh sáng của hàng chục ngọn đèn lồng dầu hạt cải sáng rực.
Một vị gia chủ tóc bạc phơ, tay chống cây gậy đầu rồng bằng gỗ trắc, nhìn chằm chằm vào những nét vẽ hải trình đỏ rực nối liền Nam Hải sang tận Địa Trung Hải. Lão nhân trầm ngâm rất lâu, rồi chậm rãi thở dài một tiếng:
"Chư vị đồng liêu... Bao năm qua, chúng ta đã hoàn toàn sai lầm rồi."
Mấy vị gia chủ xung quanh khẽ nhíu mày, đồng loạt quay sang:
"Lục lão thái gia, lời này của ngài là có ý gì? Sai là sai ở đâu?"
Lão nhân khẽ cười cay đắng, lắc đầu:
"Chúng ta từng nghĩ rằng giang sơn này là cuộc tranh đoạt giữa các dòng họ. Nhà này nhiều ruộng hơn nhà kia, gia tộc này nhiều bổng lộc hơn gia tộc nọ, ranh mãnh tính toán từng mảnh đất, từng chức quan nhỏ ở địa phương để giữ vững vị thế. Nhưng hãy mở mắt ra nhìn tấm bản đồ trước mặt mà xem!"
Ngón tay gầy guộc đầy đồi mồi của lão gõ mạnh lên đại dương xanh thẳm:
"Trước mặt chúng ta không còn là cuộc chơi chia chác chiếc bánh nhỏ hẹp trong nội địa nữa! Đại dương ngoài kia vô tận, thế giới ngoài kia rộng lớn gấp trăm lần Đại Tùy! Một chiếc Viễn Dương Thuyền vượt sóng, giá sàn tám mươi vạn lượng bạc, giá đấu thực tế có thể lên tới trăm vạn lượng. Nó nuốt hàng vạn tấm lụa, hàng trăm tấn trà, hàng ngàn hòm đồ sứ và dược liệu. Một gia tộc chúng ta... có đủ sức một mình nuốt trọn một con tàu như thế không?"
Cả sảnh đường rơi vào im lặng tuyệt đối. Mọi người đưa mắt nhìn nhau, những nét mặt kiêu ngạo thường ngày của giới quý tộc phong kiến bỗng chốc biến mất, thay vào đó là sự tính toán lạnh lùng và thực tế.
Một gia chủ trẻ tuổi hơn ngập ngừng lên tiếng:
"Ý của Lục lão là... một mình chúng ta không gánh nổi?"
"Không thể gánh nổi!" Lão nhân khẳng định chắc nịch, giọng nói đanh thép. "Một con tàu vượt sóng ra khơi đối mặt với muôn trùng hiểm nguy: sóng to gió lớn, dịch bệnh của thủy thủ, bão biển bất ngờ, và cả những biến động giá cả ở những vương quốc xa xôi vạn dặm. Nếu một gia tộc dồn toàn bộ gia sản mua tàu, chất đầy hàng hóa của riêng mình rồi chẳng may gặp nạn đắm thuyền, gia tộc đó sẽ lập tức phá sản, tan gia bại sản chỉ sau một đêm! Ngược lại, nếu chúng ta chia nhỏ miếng bánh ra..."
Ánh mắt lão nhân sáng quắc, quét qua từng gương mặt:
"Gia tộc họ Thôi ở Dương Châu có xưởng dệt lụa lớn nhất, hãy góp vào chuyến tàu ba ngàn cây lụa thượng hạng! Gia tộc họ Lư ở Thành Đô có đồn điền trà hảo hạng, hãy góp vào một ngàn rương trà bánh! Gia tộc họ Trịnh ở Thái Nguyên nắm xưởng đúc sắt thép, hãy cung ứng nông cụ và dao kéo cơ khí! Còn bản thân gia tộc ta, ta có mạng lưới kho vận và đội ngũ kế toán viên sắc sảo nhất, ta sẽ đứng ra lo liệu việc kiểm đếm và điều phối bến bãi! Thậm chí, chúng ta có thể mời thêm các thương hội chuyên nghiệp am hiểu ngoại ngữ Tây Vực cùng tham gia để phụ trách việc bán hàng tại xứ người!"
"Ầm!"
Tư duy ngàn năm của giới quý tộc như bị một nhát búa tạ nện vỡ vụn.
Không còn là chuyện môn hộ riêng rẽ, không còn là sự nghi kỵ cấu xé lẫn nhau. Đứng trước sự mênh mông của đại dương và sức hấp dẫn điên cuồng của siêu lợi nhuận, họ buộc phải ngồi lại với nhau, liên kết lại thành một khối thống nhất!
Hơn thế nữa, một vị gia chủ khác đột nhiên đập bàn thốt lên:
"Còn lương thực thì sao? Nông dân của chúng ta làm ra lúa gạo dư thừa, bán ở nội địa giá cả bình ổn không lời nhiều. Nhưng nếu đem số gạo ngon, bột mì hảo hạng ấy đóng bao cẩn mật, chất lên khoang tàu viễn dương đưa sang những tiểu quốc cằn cỗi ở Tây Á hay những hải đảo quanh năm thiếu lương, hạt gạo Đại Tùy sẽ có giá đắt tựa cát vàng! Chúng ta vừa giải quyết được kho thóc đầy ắp, vừa thu về bạc trắng, hương liệu và kim loại quý cho gia tộc!"
Chiếc bánh lợi ích không hề bị thu nhỏ lại, mà dưới bàn tay quy hoạch của Thiên Khải Đế, nó đã phình to ra đến mức không một cá nhân hay gia tộc đơn lẻ nào có thể tự mình nuốt trọn. Muốn ăn được miếng bánh ấy, chỉ có một con đường duy nhất: HỢP TÁC!
Và thế là, một hiện tượng kinh tế kỳ vĩ, một bước nhảy vọt mang tính bản lề của lịch sử nhân loại đã bắt đầu thai nghén ngay giữa lòng Thông Thiên Thành.
Tại phòng hội nghị của Vạn Bảo Thương Hội, một bản khế ước kỳ lạ nhất từ trước đến nay đang được đặt trên bàn. Bốn đại thương gia và hai đại diện của các thế gia cùng ngồi lại quanh ngọn nến le lói lúc nửa đêm.
"Chiếc Viễn Dương Thuyền số một sắp đưa ra đấu giá, giá dự kiến sẽ chạm mốc một trăm hai mươi vạn lượng bạc trắng. Ta đề xuất: chia con tàu này thành một trăm phần bằng nhau!"
Người chủ trì hội nghị, một thương nhân lão luyện họ Triệu, cất giọng sang sảng:
"Nhà họ Triệu ta bỏ ra ba mươi vạn lượng bạc mặt, nắm giữ hai mươi lăm phần! Nhà họ Tiền có đội xe thồ và kho bãi tại Quảng Châu, quy đổi giá trị kho bãi thành mười phần! Xưởng dệt họ Tôn cung cấp toàn bộ số lụa cho khoang hàng thứ nhất, quy đổi thành hai mươi phần! Thương hội Tây Vực của Lão Mã có ba mươi tay buôn thông thạo tiếng Ba Tư và tiếng La Mã, phụ trách dẫn đoàn và tiêu thụ hàng hóa, nắm giữ mười lăm phần! Số ba mươi phần còn lại, chúng ta bán chứng thư góp vốn cho các thương nhân nhỏ lẻ khác trong thành phố để thu hồi bạc trắng làm chi phí dự phòng!"
Các thành viên ngồi quanh bàn tròn nhìn vào bản khế ước, hai mắt mở to, tim đập thình thịch.
Một người run run hỏi:
"Nói như vậy... Không một ai trong chúng ta làm chủ hoàn toàn con tàu này?"
"Đúng vậy!" Thương nhân họ Lý cười lớn. "Không ai làm chủ toàn bộ, nhưng tất cả chúng ta đều là chủ nhân của nó! Tàu thuận buồm xuôi gió mang bạc vàng trở về, lợi nhuận chia đều theo đúng tỷ lệ phần trăm đã ghi trên khế ước! Nếu chẳng may gặp bão tố tổn thất, mỗi nhà chúng ta chỉ mất đi một phần vốn nhỏ đã góp, tuyệt đối không ai bị phá sản đến mức phải nhảy sông t-ự vẫn!"
"Góp vốn chia sẻ rủi ro, đồng lòng hưởng trọn lợi nhuận!"
Ý tưởng ấy như một luồng điện cực mạnh chạy dọc sống lưng từng người. Ngay trong đêm đó, bản khế ước lịch sử được sáu bàn tay run rẩy điểm chỉ bằng mực đỏ tươi.
Một tổ chức mới tinh ra đời, mang tên: ĐẠI TÙY VIỄN DƯƠNG ĐỆ NHẤT THƯƠNG HỘI.
Chỉ trong vòng chưa đầy ba tháng sau đó, mô hình này lan tỏa như một phản ứng dây chuyền dữ dội khắp Thông Thiên Thành, Trường An, Lạc Dương và Dương Châu. Hàng loạt tổ chức tương tự nối đuôi nhau xuất hiện trên mặt giấy công chứng của quan phủ: BẮC HẢI HỢP THƯƠNG ĐOÀN, THIÊN KHẢI HÀNG HẢI LIÊN HỘI, TÂY VỰC THƯƠNG NGHIỆP CÔNG TY...
Tên gọi tuy có khác nhau, nhưng tất cả đều vận hành trên cùng một nguyên lý cốt lõi: tách rời quyền sở hữu cá nhân, biến một thực thể kinh doanh thành sự kết hợp của vốn liếng, hàng hóa, nhân lực và trí tuệ của hàng trăm con người.
Nhận thấy sự biến chuyển dữ dội ấy từ báo cáo của Cẩm Y Vệ, Ngu Thế Cơ ở kinh thành lập tức ngửi thấy mùi cơ hội. Thượng thư Bộ Tài chính kiêm Tổng đốc Ngân Hàng Quốc Gia Đại Tùy không hề dùng quyền lực quan trường để ngăn cấm hay áp chế. Ngược lại, lão thần lão luyện này ngay lập tức cho triệu tập các chuyên gia tiền tệ hàng đầu, tung ra một chính sách tài chính chưa từng có: TÍN DỤNG THƯƠNG NGHIỆP VÀ BẢO HIỂM HÀNG!
Các thương hội hợp tác chỉ cần có khế ước liên kết minh bạch, có tài sản đối ứng hoặc hàng hóa bảo đảm, Ngân Hàng Quốc Gia sẵn sàng cho vay tới bốn mươi phần trăm giá trị con tàu với lãi suất ưu đãi bằng ngân phiếu Thiên Khải. Đổi lại, các thương đoàn phải trích một phần lợi nhuận mua bảo hiểm rủi ro của ngân hàng và cam kết nộp thuế đầy đủ khi cập bến.
Bánh xe tài chính và kinh tế của đế chế đã chính thức ăn khớp vào nhau một cách hoàn hảo đến mức đáng sợ.
Thiên Khải Đế Dương Quảng thậm chí không cần phải hạ một đạo chỉ dụ ép buộc nào mang tên "thành lập công ty". Hắn chỉ cần vẽ ra Vành Đai và Con Đường, mở toang đại dương, kiểm soát chặt chẽ giá lương thực và đánh thuế nặng vào ruộng đất tù đọng. Chính lòng tham chính đáng, khát vọng sinh tồn và trí tuệ nhạy bén của hàng triệu con người đã tự động kết nối lại, tự động tìm ra giải pháp tối ưu nhất để sinh sôi nảy nở.
Một sinh vật kinh tế hoàn toàn mới đã chính thức cựa mình trỗi dậy giữa lòng Đại Tùy.
Nó lớn hơn bất kỳ một thương nhân đơn lẻ nào, nhưng lại linh hoạt và bền bỉ hơn bộ máy hành chính nặng nề của triều đình. Nó có thể sống qua nhiều thế hệ, sở hữu hàng chục con tàu, hàng trăm nhà xưởng, hàng ngàn nhân công và một mạng lưới thương mại trải dài khắp địa cầu.
Đó chính là Công Ty. Hình thái tổ chức kinh tế đỉnh cao của kỷ nguyên cận đại, đã được sinh ra sớm hơn dòng chảy lịch sử cũ hàng ngàn năm!
Và giống như tất cả những điều kỳ diệu khác dưới triều đại này, nó không phải là một sự áp đặt giáo điều từ trên xuống.
Nó chính là Trồi Sinh!
Một kỳ tích tiến hóa tự nhiên của một nền văn minh rực rỡ, nơi ngọn lửa khát vọng của vạn dân đã hòa làm một với ý chí sắt đá của đấng quân vương, cùng nhau đạp sóng vươn ra biển lớn bao la…
…
Bắc Hải, nơi chỉ 2 năm trước trên bản đồ Trung Nguyên vẫn còn là một vùng đất hoang vu mờ mịt bị tuyết trắng vùi lấp. Nơi tận cùng của phương Bắc ấy từng là chiến trường đẫm máu của muôn vàn bộ tộc du mục suốt ngàn năm lịch sử. Họ từng tự xưng là Hung Nô, Đột Quyết, Thiết Lặc, Khiết Đan; mỗi người một cánh cung, mỗi người một lá cờ, tranh đoạt từng vạt cỏ dưới cái rét thấu xương để rồi chôn thây trong quên lãng.
Thế nhưng giờ đây, dưới bầu trời Thiên Khải, họ đã mang chung một danh xưng mới: Công dân Đại Tùy.
Không có gươm đao áp bức, không có những chính sách đồng hóa cưỡng bách tàn nhẫn. Sự thay đổi ngấm sâu vào đời sống từng ngày: con cái họ được cắp sách đến học phủ đọc sách khai tâm, người già ốm đau có y sĩ tận tình bắt mạch kê đơn, mùa đông khắc nghiệt có Hỏa Kháng ấm áp xua tan giá rét. Họ có tấm thẻ căn cước ghi rõ tên tuổi, có ruộng đất được công nhận, có tiền công sòng phẳng trả bằng ngân phiếu Thiên Khải, và có những đoàn tàu hỏa hơi nước gầm vang xé toạc màn sương mang lại sinh kế dồi dào. Không biết tự bao giờ, họ nhận ra mình đã trở thành một phần máu thịt của vận mệnh chung Hoa Hạ.
Nếu Thông Thiên Thành là nút giao của những nút giao, là bộ não điều phối vĩ đại hội tụ đường sắt, đại vận hà, quốc lộ, ngân hàng và thương mại; thì Bắc Hải chính là quả tim sống của phương Bắc. Một quả tim khổng lồ ngày đêm co bóp, bơm hàng ức vạn lượng giá trị hàng hóa tuôn chảy vào mạng lưới thương lộ liên lục địa. Từ nơi rừng Taiga và thảo nguyên tuyết phủ, những dòng chảy bất tận của da chồn Zibeline, gỗ thông đại thụ, quặng sắt lộ thiên, chiến mã thuần chủng và hổ phách tự nhiên theo tuyến Bắc Hải Hành Lang và đường sắt cuộn trào xuôi nam, đổ về Trường An, Thông Thiên Thành, Dương Châu, Thành Đô, Đại Lý.
Rồi cũng từ quả tim ấy, dòng máu tươi lại được bơm ngược trở về nuôi dưỡng phương Bắc: từng chuyến tàu chở đầy sách vở, giấy in, nông cụ gang thép, thuốc men, cùng đội ngũ giáo viên, kỹ sư, máy móc cơ khí và tri thức tiên tiến. Một vòng tuần hoàn kinh tế trù phú không ngừng nghỉ, biến nơi từng bị coi là chốn lưu đày hoang dã thành trung tâm lưu thông phồn vinh bậc nhất của đế quốc.
Trong khi phương Bắc đang chuyển mình mạnh mẽ, thì ở dải đất mênh mông của Tây Đột Quyết cũ, một kỳ tích tương tự cũng đang nảy mầm.
Nơi đây từng là chiến trường tử địa đẫm máu bậc nhất lịch sử. Suốt hàng trăm năm ròng rã, các bộ lạc du mục chém giết lẫn nhau không dứt chỉ để giành giật quyền kiểm soát Con Đường Tơ Lụa. Hôm nay một vị Khả Hãn cướp được đoàn buôn, ngày mai một thủ lĩnh khác lại xua quân đồ sát báo thù; của cải chảy qua sa mạc bao nhiêu thì xương trắng chất chồng bấy nhiêu.
Mọi hỗn loạn chỉ thực sự chấm dứt kể từ ngày Thiên Khải Đế điều động đại quân, dùng sấm sét cơ khí cùng tư tưởng Hoa Hạ Đồng Tâm Luận đồng thời đánh bại Đông Đột Quyết, Tây Đột Quyết, Thổ Cốc Hồn và Thổ Phồn, thu trọn 4 vùng đất mênh mông về chung một mối.
Chiến tranh tàn khốc lùi xa, nhường chỗ cho những tuyến đường ray sắt thép thẳng tắp vươn dài qua cát bỏng.
Ban đầu, khi đặt bút quy hoạch cứ điểm An Tây, triều đình Thiên Khải vốn chỉ định dựng lên một tòa thành quân sự kiên cố, một chốt chặn thép để canh giữ cửa ngõ Tây Vực. Thế nhưng sự phát triển thần tốc của thời đại đã vượt xa mọi dự toán trên giấy mực. Khi bóng ma chiến tranh tan biến, An Tây không trở thành một doanh trại lạnh lẽo, mà nhanh chóng hóa thành tổ ấm bình yên che chở cho hơn 50.000 gia đình thảo nguyên.
Những người cả đời sống bấp bênh trên lưng ngựa giờ đây đã có thể dựng nhà tường gạch kiên cố, mở sạp buôn bán, cho con cái học hành và an tâm làm việc với mức thu nhập ổn định. Kỳ diệu hơn cả là sự thay đổi của chính mảnh đất cằn cỗi xung quanh. Theo chỉ lệnh đặc biệt từ triều đình, giống cỏ Khai Thiển chịu hạn sinh trưởng mạnh mẽ được đưa về gieo trồng trên diện rộng. Hàng loạt kênh mương dẫn nước được khai đào, các hồ chứa nước nhân tạo được xây dựng liên hoàn, cùng với hàng ngàn cụm máy bơm va thủy lực không cần nhiên liệu liên tục đẩy nước từ các mạch ngầm lên sườn đồi.
Màu xanh của sự sống bắt đầu lan tỏa, nuốt chửng cát vàng khô khốc. Những đồng cỏ xanh ngắt bạt ngàn hiện ra, những mặt hồ biếc ngọc phản chiếu mây trời, biến An Tây từ một pháo đài khô cằn thành vùng đất an cư lạc nghiệp trù phú bậc nhất trong mắt các bộ lạc du mục.
Đứng trên triền đồi lộng gió nhìn xuống toàn cảnh An Tây, một vị lão nhân người Đột Quyết tóc bạc phơ chống gậy đứng lặng hồi lâu.
Phía dưới chân đồi, tiếng còi tàu hơi nước trầm hùng ngân vang báo hiệu một đoàn tàu chở đầy hàng hóa vừa tiến vào sân ga. Bên bờ hồ nước mát lành rợp bóng liễu, đám trẻ con Hán, Hồ đang tíu tít nô đùa, đuổi bắt bướm trong tiếng cười giòn giã.
Lão nhân đưa tay khẽ gạt giọt nước mắt lăn trên gò má nhăn nheo, lẩm bẩm trong miệng:
"Cả đời ta rong ruổi chém giết, cứ ngỡ thảo nguyên chỉ có máu và cát bụi. Hóa ra người du mục chúng ta cũng có quyền được sống bình yên, có mái nhà để che mưa nắng, có tương lai để ngóng chờ..."
Không biết từ bao giờ, An Tây đã không còn là tiền đồn xa lạ của một vương triều Trung Nguyên cai trị, mà đã trở thành quê hương ruột thịt của muôn dân. Đó là cánh cửa phương Tây rộng mở của Hoa Hạ, nơi kết nối phương Đông và phương Tây, nơi quá khứ hận thù khép lại để cùng bước vào một kỷ nguyên thái bình thịnh trị.
Lạp Tát, thành phố ngự trị trên nóc nhà thế giới, sừng sững tựa lưng vào sườn phía đông của rặng tuyết sơn Himalaya huyền thoại.
Suốt hàng ngàn năm dằng dặc trước khi niên hiệu Thiên Khải xuất hiện, nơi đây từng là một thánh địa cô tịch lơ lửng giữa tầng mây. Nó nằm ở giao điểm tự nhiên giữa thảo nguyên, cao nguyên, Trung Nguyên và các tiểu quốc Nam Á xa xôi, nhưng cũng chính sự khắc nghiệt tàn bạo của địa lý đã giam hãm nó trong sự cô lập triền miên. Những hẻm núi sâu thăm thẳm không đáy, không khí loãng buốt giá thấu xương, bão tuyết vùi lấp quanh năm và những lối mòn hiểm trở chỉ vừa một bàn chân ngựa bước đã biến khoảng cách vài trăm dặm trên bản đồ thành ranh giới sinh tử không thể vượt qua. Người bên ngoài nhìn lên xem Lạp Tát như cõi thần bí xa xăm, còn người trên cao nguyên nhìn xuống chỉ thấy một cõi hồng trần nghìn trùng cách biệt.
Thế nhưng, bánh xe cơ khí và ý chí của triều đình Thiên Khải đã bạt núi xẻ đèo, xé toạc bức màn ngăn cách ngàn năm ấy.
Những đoàn kỹ sư địa chất của Thiên Cơ Các mang theo thuốc nổ công nghiệp, máy đo áp suất và máy khoan hơi nước tiến thẳng vào lòng núi đá. Hàng ngàn nhịp cầu thép uốn lượn vượt qua vực sâu muôn trượng, những đường hầm xuyên thẳng qua lòng đá hoa cương vĩnh cửu, và từng thanh ray sắt kiên cố được tôi luyện chịu lạnh liên tục vươn cao, cắm sâu vào từng thềm đất cao nguyên.
Ngày đầu tiên đoàn tàu hỏa hơi nước vượt qua đèo tuyết tiến vào thung lũng Lạp Tát, hàng vạn người dân bản địa, từ các vị lạt ma khoác áo cà sa đỏ thẫm cho đến những mục dân chăn bò yak, đều kéo nhau đứng chật kín hai bên thềm ga đá mới dựng.
Không một tiếng hò reo. Không một lời bàn tán.
Cả không gian rộng lớn chìm trong một sự nín thở đầy kinh ngạc. Họ sững sờ nhìn con quái thú bằng thép đen tuyền khổng lồ, tiếng xả hơi nước phì phò rền vang như tiếng thở của cự long tiền sử, chầm chậm lăn bánh trên đường ray rồi dừng lại trước sân ga. Tiếng còi tàu rúc lên từng hồi trầm hùng, dội vào vách đá Himalaya rồi ngân vang khắp tầng mây xanh thẳm, chính thức tuyên cáo sự khởi đầu của một thời đại mới.
Kể từ thời khắc ấy, huyết mạch kinh tế bắt đầu đảo chiều cuồn cuộn. Lạp Tát không còn phải co cụm tự cung tự cấp qua từng mùa đông dài đói rét. Từng chuyến tàu mang theo gạo trắng và lụa là từ Ba Thục trù phú xuôi ngược tới nơi; giấy in và sách giáo khoa từ Trường An theo tàu vượt núi; máy móc cơ khí, công cụ đúc sắt và xi măng chịu nhiệt từ Thông Thiên Thành đổ về tấp nập. Đi cùng những cỗ xe thép ấy là đội ngũ y sĩ mang theo dược liệu, các giáo viên mang theo chương trình học phủ hiện đại, và những thương đoàn mang theo túi bạc rủng rỉnh săn đón sản vật địa phương.
Những xưởng chế biến len dạ, xưởng thuộc da bò yak, các khu chợ buôn bán đông trùng hạ thảo, khoáng sản và ngọc lam mọc lên san sát quanh trục đường sắt. Lạp Tát lột xác hoàn toàn, từ một pháo đài cô độc giữa mây ngàn vươn mình trở thành Cửa Ngõ Tây Nam của Đại Tùy, mắt xích chiến lược nối liền Hoa Hạ, Thanh Tạng với toàn bộ tiểu lục địa Nam Á trù phú nằm bên kia rặng núi tuyết.
Nếu Lạp Tát là cánh cổng tiền đồn vươn ra thế giới, thì vùng đất Thanh Hải kế bên chính là bờ vai vững chãi, là nền móng chống đỡ cho toàn bộ không gian cao nguyên.
Nằm ở vị trí yết hầu kẹp giữa Trường An, Ba Thục, Tây Vực và Lạp Tát, Thanh Hải vốn là vùng đất khắc nghiệt nổi danh với gió rít và cát lạnh. Nhưng bù lại, nơi đây sở hữu những đồng cỏ chăn thả bao la, những hồ muối và hồ nước ngọt khổng lồ, cùng kho tàng khoáng sản giàu có ẩn sâu trong lòng đất.
Khi các tuyến đường bộ rải đá dăm cùng đường ray sắt nối liền các châu huyện, Thanh Hải lập tức chuyển mình thành trung tâm trung chuyển và hậu cần vĩ đại của toàn bộ vùng tây nam. Những đồng cỏ được quy hoạch lại theo phương thức khoa học, gia súc được tiêm phòng dịch tễ, các xưởng khai thác muối ăn và khoáng sản mọc lên như nấm, cung ứng vật liệu ngược trở lại cho các trung tâm công nghiệp nội địa. Thanh Hải biến thành một trái tim thứ hai của miền sơn cước, co bóp nhịp nhàng để bơm nguồn lực, hàng hóa và con người luân chuyển liên tục giữa bốn phương trời.
Và rồi, sự trỗi dậy của các huyết mạch giao thông và kinh tế từ Bắc Hải, An Tây cho tới Thanh Hải, Lạp Tát đã tạo nên một dòng chảy di dân đảo chiều ngoạn mục đổ thẳng về vùng Trung Nguyên phồn hoa.
Tại kinh thành Trường An hay các đại đô thị như Thông Thiên Thành, Lạc Dương, người dân bắt đầu chứng kiến những cảnh tượng mà suốt hàng trăm năm lịch sử phong kiến chưa từng xuất hiện.
Trên phố Chu Tước thênh thang, một mục dân thảo nguyên phương Bắc khoác áo choàng da thú thô mộc, bên hông đeo túi da đựng thẻ căn cước công dân, đang đứng trước một hiệu buôn lụa Giang Nam, thong thả dùng tiếng phổ thông hơi lơ lớ để mặc cả từng xấp vải hoa.
Bên trong một tửu lâu sang trọng tại Thông Thiên Thành, một học giả trẻ xuất thân từ bộ tộc du mục Bắc Hải đang ngồi đối ẩm, tranh luận sôi nổi về kinh tế học và cơ học máy hơi nước cùng các sĩ tử thế gia đến từ Quan Trung.
Trên sân ga xe lửa Trường An, người ta dễ dàng bắt gặp một gia đình Thổ Phồn mang theo hành lý gọn gàng, người cha cẩn thận dắt tay đứa con nhỏ chuẩn bị đón chuyến tàu hỏa xuôi nam để nhập học tại học viện cơ khí Thành Đô.
Còn ngay trong các xưởng đúc thép và xưởng cơ khí chính xác, những người thợ rèn gân guốc đến từ cao nguyên Thanh Hải đang kề vai sát cánh cùng những công nhân kỹ thuật lành nghề đất Dương Châu, cùng nhau căng mắt đo đạc từng răng cưa trên bản vẽ thiết kế máy móc mới.
Thời gian đầu, người Trung Nguyên không khỏi tò mò. Họ ngoái nhìn, xì xào bàn tán về những bộ trang phục kỳ lạ, những nước da ngăm đen vì nắng gió thảo nguyên, hay những ngữ điệu khẩu âm gồ ghề khác biệt.
Thế nhưng, chỉ sau vài tháng ngắn ngủi, chẳng còn một ai ngoái lại nhìn nữa.
Bởi vì những hình ảnh ấy đã hòa vào nhịp sống thường nhật, tự nhiên như hơi thở của một xã hội đang vận hành ở tốc độ cao.
Tại các ga tàu tấp nập, người ta đã quá quen với cảnh tượng người Hán, người Đột Quyết, người Thổ Phồn, người Thổ Cốc Hồn cùng xếp thành một hàng dài ngay ngắn, trật tự chờ đến lượt xuất trình giấy tờ mua vé tàu. Sự phân biệt chủng tộc, vùng miền từng là bức tường thành đẫm máu qua bao triều đại bỗng chốc bị xóa nhòa trước một hệ thống thể chế và pháp luật bình đẳng.
Một đứa trẻ sinh ra ở Bắc Hải xa xôi học chung một cuốn sách giáo khoa do Bộ Giáo Dục Đại Tùy biên soạn giống hệt một đứa trẻ tại Trường An. Một thương nhân Lạp Tát dùng chung những tờ ngân phiếu Thiên Khải có giá trị quy đổi ngang bằng với một thương nhân Dương Châu. Một người chăn thả gia súc ở An Tây bước lên cùng một toa tàu hỏa hơi nước với một viên quan chức ở Lạc Dương.
Một biến chuyển âm thầm nhưng vĩ đại bắt đầu bén rễ sâu trong tâm thức của hàng triệu con người. Họ vẫn nhớ cội nguồn, vẫn giữ gìn bản sắc và tiếng mẹ đẻ của tổ tiên, nhưng nguồn gốc ấy không còn là ranh giới để chia rẽ hay thù hằn.
Khi một người lữ khách phương xa bước vào một quán trọ ven đường và được hỏi:
"Ngươi đến từ đâu?"
Họ sẽ tự hào ngẩng cao đầu mà đáp:
"Ta đến từ Đại Tùy."
"Vậy ngươi là ai?"
"Ta là công dân của Hoa Hạ."
Câu trả lời ấy vang lên ngày càng nhiều, dõng dạc và kiêu hãnh trên khắp mọi nẻo đường đất nước.
Thế nhưng, sự chuyển biến kỳ diệu nhất lại không nằm ở lớp người lớn tuổi từng nếm trải chiến tranh, mà hiển hiện rực rỡ nơi thế hệ mầm non đang lớn lên.
Tại một trường tiểu học công lập ven hồ Bắc Hải, một đứa bé tám tuổi có đôi mắt sáng ngời đang ngồi nắn nót viết từng nét chữ vuông vức. Cha nó là một dũng sĩ Đột Quyết từng tung hoành trên lưng ngựa, còn mẹ nó là một cô giáo người Quan Trung theo đoàn di dân lên phía bắc lập nghiệp. Trong tâm trí non nớt của đứa trẻ ấy, những khái niệm như huyết hải thâm thù, ranh giới man di hay biên ải ngoại tộc hoàn toàn là những câu chuyện cổ tích xa lạ không thể hiểu nổi.
Thế giới quanh nó là những đoàn tàu hỏa rầm rộ chở hàng hóa văn minh, là những trang báo Đại Tùy Nhật Báo thơm mùi mực in mà cha nó đọc mỗi buổi tối, là lớp học khang trang rộn rã tiếng cười của bạn bè đến từ mọi miền đất nước, và là một cuộc sống ấm no chưa từng có bóng đen của đói rét đe dọa.
Đối với thế hệ ấy, Bắc Hải không phải là biên cương hoang dã, An Tây không phải là tiền tuyến đầu sóng ngọn gió, Lạp Tát hay Thanh Hải không phải là chốn thung lũng nghèo nàn bị lãng quên.
Tất cả đều là quê hương. Tất cả đều là nhà.
Trong khi triều đình mải miết bàn luận về những chỉ số tăng trưởng kinh tế, về những mét đường ray sắt thép và các chuyến hải trình của Vành Đai và Con Đường, thì ngay dưới lòng xã hội, một kỳ tích sâu sắc hơn ngàn vạn lần đang âm thầm hoàn tất.
Nó không cần những hồi kèn xung trận đẫm máu. Không cần những bản cáo thị cưỡng ép khắt khe. Nó lặng lẽ nảy mầm qua từng trang sách học trò, từng buổi chợ phiên tấp nập, từng chuyến tàu ngược xuôi, từng mái ấm gia đình kết duyên giữa các sắc tộc, và trong ánh mắt trong veo của những đứa trẻ cùng chung một giấc mơ tương lai.
Đó chính là thứ mà các bậc đế vương ngàn năm qua luôn khao khát nhưng chưa bao giờ với tới bằng gươm đao: không phải sự khuất phục nhục nhã của kẻ bại trận, không phải sự cai trị tàn bạo của kẻ chiến thắng, mà là cảm giác tự nguyện cùng thuộc về một mái nhà chung.
Đó mới chính là chân giá trị tối thượng của tư tưởng Hoa Hạ Đồng Tâm Luận mà Thiên Khải Đế từng khắc cốt ghi tâm. Văn minh không phải là biến hàng triệu con người thành một khuôn mẫu rập khuôn vô hồn, mà là khiến cho hàng triệu con người dị biệt, mang ngàn vạn tiếng nói và phong tục khác nhau, có thể tự nguyện nắm tay nhau cùng bước đi trên một con đường rộng mở.
Và trong khoảnh khắc chuyển mình vĩ đại của thời đại, một cuộc Trồi Sinh thiêng liêng nhất đã chính thức đơm hoa kết trái.
Cuộc trồi sinh ấy không thuộc về sắt thép, không thuộc về bạc vàng hay những thương cảng nước sâu ngoài biển lớn.
Đó là sự trồi sinh của một thực thể văn minh hoàn toàn mới, một cộng đồng gắn kết bền chặt mang tên Công dân Đại Tùy, đang sải những bước chân kiêu hãnh bước vào kỷ nguyên thái bình thiên cổ.
Gió thu cuối tháng Chín thổi qua kinh thành Trường An, mang theo cái lạnh se sắt của buổi giao mùa, nhưng lại không thể dập tắt nổi luồng nhiệt lượng khổng lồ đang bốc hừng hực khắp non sông Đại Tùy.
Chưa bao giờ trong suốt chiều dài lịch sử ngàn năm, toàn bộ một đế quốc lại cùng hướng tầm mắt về một chân trời chung với một sự đồng lòng như lúc này.
Ở những miền quê xa xôi vùng Quan Trung, một lão nông vừa gánh xong gánh thóc trĩu hạt về sân phơi. Lão cả đời chưa từng bước chân ra khỏi rặng núi Tần Lĩnh, không hề biết eo biển Malacca hiểm trở ra sao, càng không thể tưởng tượng nổi đại dương bao la hay bờ cõi Địa Trung Hải xa xôi vạn dặm nằm ở phương trời nào. Thế nhưng, khi nhìn vào gian bồ đầy ắp lúa mì vàng óng, nhìn đứa con trai út đang ê a đọc từng mặt chữ trong cuốn sách giáo khoa mới toanh của học phủ huyện, và lắng nghe tiếng còi tàu hỏa rúc lên từng hồi giòn giã ngang qua đầu làng mang theo thương lái thu mua nông sản giá cao, trong lòng lão hiểu rất rõ: cuộc sống no ấm, bình yên và tràn trề hy vọng này của gia đình lão, gắn liền mật thiết với những dòng chữ Vành Đai và Con Đường mà quan phủ vừa dán cáo thị ngoài đình làng.
Tại xưởng đóng tàu khổng lồ bên bờ vịnh Quảng Châu, một người thợ mộc trẻ tuổi đứng trên giàn giáo cao hàng chục trượng, ánh mắt đăm đắm nhìn xuống khung xương kỳ vĩ của chiếc Viễn Dương Thuyền đang dần thành hình dưới ánh mặt trời rực rỡ. Hắn cũng đang nhìn về Vành Đai và Con Đường.
Tại các tửu lâu tấp nập của Thông Thiên Thành, những thương nhân lão luyện đang chụm đầu bên ngọn đèn dầu, tay gảy bàn tính tanh tách để chia phần hùn vốn thành lập các thương hội liên kết viễn chinh. Bọn họ cũng đang nhìn về Vành Đai và Con Đường.
Và ngay cả tại một lớp học dựng bằng gỗ thông thơm mùi nhựa mới ở Bắc Hải, một đứa trẻ người Đột Quyết lần đầu tiên dùng ngón tay bé xíu đồ theo những vòng cung màu đỏ nối liền lục địa và đại dương trên tấm bản đồ thế giới. Nó cũng đang say mê nhìn về Vành Đai và Con Đường.
Không có một đạo thánh chỉ cưỡng bách nào bắt họ phải làm thế.
Không có lưỡi gươm thị uy nào kề vào cổ ép họ phải dốc sức lao động.
Tất cả diễn ra tự nhiên như hàng ngàn con suối nhỏ róc rách từ khe núi tuyết, tự động hòa làm một rồi cuộn trào chảy về dòng đại giang mênh mông mang tên Tương Lai.
Hai năm trước, khi Thiên Khải Đế hạ lệnh khơi thông Đại Vận Hà, thế nhân ngỡ rằng ngài chỉ muốn đào một con kênh dẫn nước tưới tiêu.
Khi ngài dựng nên Thông Thiên Thành, người ta tưởng rằng đó chỉ là một pháo đài ngăn giặc nơi biên ải.
Khi ngài rải những thanh ray đường sắt và đầu máy hơi nước đầu tiên, người ta ngỡ ngàng xem đó là một kỳ tích vận tải.
Khi ngài phóng bút vẽ nên Bắc Hải Hành Lang, người đời lầm tưởng ngài chỉ muốn mở rộng thương lộ kiếm bạc.
Phải đến tận giờ phút này, khi toàn bộ các mảnh ghép ấy ăn khớp vào nhau, tạo thành một chỉnh thể hoàn mỹ nâng đỡ lẫn nhau, cả thiên hạ mới bàng hoàng vỡ lẽ: ngài chưa từng làm những việc vụn vặt. Đó là những mắt xích của một cỗ máy khổng lồ, một hệ thống vĩ đại đang tự mình cựa quậy, tự mình mở rộng và tự mình bùng nổ sức sống!
Đó chính là sự Trồi Sinh của một nền văn minh!
Từng bánh xe thép vẫn đang cuồn cuộn lăn trên đường ray; những bễ lò luyện gang vẫn hừng hực nhả khói trắng lên nền trời xanh; những toán thợ đóng tàu vẫn miệt mài nện từng tiếng búa đanh thép vào thớ gỗ; và hàng triệu con người đang cùng nhau dùng chính đôi tay, khối óc của mình để đẩy bánh xe lịch sử lao vun vút về phía trước.
Thế nhưng, ngay giữa lúc toàn bộ đế quốc đang sôi sục đến mất ăn mất ngủ vì đại kế hoạch thế kỷ...
Ngay giữa lúc Thượng thư Bùi Củ của Bộ Thương Mại đang thức trắng đêm rà soát danh sách đấu giá tàu viễn dương; Thượng thư Ngu Thế Cơ của Ngân Hàng Quốc Gia đang vò đầu bứt tai bên núi sổ sách để tính toán nguồn thu thuế tương lai; Đại tướng quân Cao Quýnh đang căng mắt duyệt sa bàn bố phòng hải phận...
Thì kẻ đầu sỏ khởi xướng ra toàn bộ cơn địa chấn ấy, vị Thiên Khải Đế hô phong hoán vũ của Đại Tùy, lúc này lại đang... nằm ườn trên một chiếc ghế mây dài kê dưới bóng râm rợp mát của Ngự Hoa Viên.
Gió thu hiu hiu thổi qua mặt hồ Thái Dịch phẳng lặng như gương. Những chiếc lá ngô đồng vàng óng khẽ chao liệng trong không trung rồi nhẹ nhàng đáp xuống mặt nước trong vắt, tạo nên những vòng sóng lăn tăn êm đềm. Ánh nắng chiều dịu dàng xuyên qua kẽ lá, rải những đốm sáng ấm áp lên góc sân lát đá phủ rêu xanh.
Không long bào uy nghiêm, không mũ miện rườm rà. Dương Quảng mặc một bộ thường phục bằng lụa mỏng màu xanh nhạt, chân buông thõng, một tay lười biếng cầm chiếc quạt lông phe phẩy đuổi mấy con chuồn chuồn lượn lờ, còn tay kia thì cẩn thận vòng qua, ôm trọn lấy một cục bông nhỏ mềm mại đang say giấc nồng ngay trên lồng ngực mình.
Tiểu Thảo cuộn tròn người lại như một chú mèo con ngái ngủ.
Gương mặt bầu bĩnh trắng hồng khẽ áp vào vạt áo của hắn, đôi môi nhỏ chúm chím thỉnh thoảng lại mấp máy như đang mơ thấy một giấc mơ ngọt ngào nào đó. Bàn tay nhỏ xíu, mềm mại như búp măng của cô bé túm chặt lấy một góc áo của cha mình, siết chặt đến mức các ngón tay hơi ửng hồng, như thể sợ rằng chỉ cần mình lơ là một chút thôi là người đàn ông này sẽ lại biến mất sau những chồng tấu sớ ngút ngàn.
Dương Quảng cúi đầu nhìn xuống, ánh mắt sắc sảo, lạnh lùng thường ngày nơi triều đường giờ đây đã hoàn toàn tan biến, chỉ còn lại sự dịu dàng, cưng chiều vô hạn của một người cha. Khóe môi hắn khẽ cong lên thành một nụ cười ấm áp.
Cách đó không xa, bên ngoài tường hoa của hoàng thành, tiếng còi tàu hơi nước trầm đục vọng lại từ xa, tiếng vó ngựa truyền tin dồn dập, và tiếng gầm vang vô hình của một đế quốc đang tăng tốc vẫn không ngừng chuyển động.
Thế nhưng, khoảng không gian nhỏ bé dưới bóng cây ngô đồng này lại bình yên và tĩnh lặng đến lạ kỳ.
Được một lúc, cục bông nhỏ trong lòng hắn khẽ cựa mình. Đôi lông mi dài như cánh bướm run rẩy chớp chớp vài cái, Tiểu Thảo lười biếng dụi dụi cái trán nhỏ vào ngực Dương Quảng, cất giọng non nớt, ngái ngủ:
"Cha..."
Dương Quảng khẽ dừng tay quạt, cúi đầu ghé sát tai cô bé, thanh âm trầm ấm:
"Hửm? Thảo Thảo tỉnh rồi à?"
Cô bé chớp chớp đôi mắt to tròn, đen láy như hai hạt nhãn, ngơ ngác nhìn gương mặt cương nghị của cha mình, rồi ngước nhìn vòm cây xanh ngắt trên đầu:
"Cha đang làm gì thế ạ..."
Dương Quảng ngửa đầu nhìn lên bầu trời thu trong xanh không một gợn mây, nghiêm túc suy nghĩ mất vài nhịp thở, rồi thản nhiên đáp:
"Cha đang thất nghiệp."
Tiểu Thảo tròn xoe mắt, cái đầu nhỏ nghiêng sang một bên, vẻ mặt đầy sự mờ mịt:
"Thất nghiệp... là gì hả cha?"
"Là không có việc gì để làm cả. Chỉ ngồi chơi xơi nước thôi."
Đôi mắt Tiểu Thảo bỗng chốc sáng rực lên, cô bé há hốc cái miệng nhỏ, vẻ mặt tràn đầy sự ngưỡng mộ tột bực:
"Oa... Cha giỏi thật đấy..."
Dương Quảng nhướng mày:
"Giỏi chỗ nào?"
"Người khác phải làm việc vất vả lắm mới có tiền mua bánh kẹo. Cha không cần làm việc gì mà vẫn có cơm ăn, vẫn có áo đẹp mặc... Cha đúng là người giỏi nhất trần đời!"
Dương Quảng nghẹn lời:
"..."
Nếu lúc này mà có mặt Bùi Củ hay Ngu Thế Cơ ở đây, chắc chắn hai vị đại thần lão luyện sẽ lập tức lao tới, túm lấy góc áo hoàng đế mà gào khóc thảm thiết:
Bệ Hạ ơi là Bệ Hạ! Người vừa mới vung tay vẽ nên một mạng lưới kinh tế liên lục địa nuốt trọn từ Bắc Hải sang tận Địa Trung Hải, khiến hàng vạn thương nhân khắp thiên hạ phát điên lên vì tranh nhau mua tàu viễn dương! Người khiến cả triều đình thức trắng đêm để chạy theo guồng quay cải cách! Vậy mà người dám nằm đây nói với khuê nữ rằng mình đang thất nghiệp sao?!
Thế nhưng Dương Quảng chẳng thèm bận tâm đến những tiếng gào thét trong tưởng tượng ấy. Hắn khẽ thở dài một hơi đầy vẻ oan ức, đưa tay vuốt nhẹ mái tóc tơ mềm mại của con gái:
"Thảo Thảo ngoan, cha rất chăm chỉ mà. Hai năm qua con xem, cha bận rộn muốn đứt cả hơi... Nào là đào Đại Vận Hà, xây Thông Thiên Thành, đặt đường sắt hơi nước, quy hoạch Bắc Hải, mở mang An Tây, cải tạo Thanh Hải, kết nối Lạp Tát... Lại còn phải chỉ huy đại quân đánh tan Đông Đột Quyết, thu phục Tây Đột Quyết, bình định Thổ Cốc Hồn, sáp nhập Thổ Phồn... Cha bận đến mức muốn gãy cả lưng luôn ấy chứ."
Tiểu Thảo chăm chú lắng nghe, khuôn mặt nhỏ nhắn tỏ ra vô cùng thấu hiểu, nghiêm túc gật đầu lia lịa:
"Vâng ạ! Cha của Thảo Thảo chăm chỉ nhất thiên hạ!"
Trái tim của vị Thiên Khải Đế lập tức tan chảy thành một bãi nước xuân. Hắn mỉm cười đắc ý, thầm nghĩ quả nhiên vẫn là tiểu áo bông của mình hiểu chuyện nhất, ấm áp nhất.
Thế nhưng, vừa dứt lời khen, cô bé liền đổi giọng, đưa mấy ngón tay nhỏ nhắn ra đếm đếm, vẻ mặt vô cùng thành thật:
"Nhưng mà... bây giờ cha đúng là không có việc làm thật mà."
Khóe miệng Dương Quảng giật giật:
"Sao lại không có việc?"
Tiểu Thảo bắt đầu bẻ từng ngón tay mũm mĩm ra tính toán:
"Con thấy việc triều đình thì có các bác ở Nội Các làm rồi. Việc đồng áng trồng trọt thì có Nhị bá bá ở Bộ Nông Nghiệp lo. Việc bán hàng kiếm bạc thì có Bùi gia gia chạy đôn chạy đáo. Việc giữ tiền thì có Ngu gia gia ngày nào cũng ôm bàn tính. Quân đội đánh giặc thì có Cao gia gia với Dương gia gia quản. Học đường dạy chữ thì có Ngưu gia gia biên soạn sách. Cẩm Y Vệ bắt người xấu… Rồi có Dương thúc thúc đi tuần tra..."
Đếm xong một lượt mười đầu ngón tay, cô bé ngẩng phắt khuôn mặt ngây thơ lên, nhìn thẳng vào mắt Dương Quảng, chốt hạ một câu xanh rờn:
"Ai cũng có việc bận rộn cả ngày. Chỉ có mỗi cha là nằm ườn ở đây phơi nắng cả buổi chiều thôi. Thế chẳng phải là cha thất nghiệp rồi sao ạ?"
Dương Quảng sững sờ nhìn con gái, hoàn toàn cứng họng:
"..."
Thật sự không có cách nào phản bác nổi!
Ngoài kia, sóng ngầm cuộn trào khắp bốn bể. Cả một nền văn minh đang gầm rú tăng tốc, hàng triệu con người đang lao vào vòng xoáy của Vành Đai và Con Đường với ngọn lửa tham vọng ngút trời.
Còn kẻ chủ mưu đứng sau tất cả, người nắm giữ sinh sát và vận mệnh của cả thế giới, thì đang thảnh thơi nằm ngắm mây trôi nước chảy, bị một đứa trẻ năm tuổi bóc mẽ là kẻ ăn không ngồi rồi!
Nhìn thấy vẻ mặt dở khóc dở cười của cha mình, Tiểu Thảo dường như cảm thấy mình vừa nói lời làm tổn thương lòng tự trọng của người lớn. Cô bé vội vàng vươn hai bàn tay nhỏ xíu ra, nhẹ nhàng vỗ vỗ lên lồng ngực Dương Quảng như đang dỗ dành một đứa trẻ to xác, giọng nói ngọt ngào như rót mật:
"Cha đừng buồn nha... Thất nghiệp cũng không sao hết á!"
Dương Quảng nhướng mày, nửa cười nửa mếu:
"Không sao á? Thế cha lấy gì mà ăn?"
Tiểu Thảo ưỡn ngực nhỏ ra đầy vẻ kiêu hãnh, hào hiệp tuyên bố:
"Con nuôi cha!"
Dương Quảng bật cười thành tiếng:
"Con lấy cái gì để nuôi cha nào?"
Tiểu Thảo lập tức huyên thuyên kể ra toàn bộ gia tài đồ sộ của mình:
"Con có tiền tiêu vặt mà các bá bá cho này! Trong phòng con còn có cả một hòm đầy bánh hoa quế, kẹo hồ lô, với mấy giỏ táo ngọt nữa! Con chia cho cha một nửa... à không, chia cho cha hết luôn! Đủ để nuôi cha béo mẫm luôn ấy chứ!"
Tiếng cười sảng khoái của Dương Quảng vang vọng khắp Ngự Hoa Viên, làm mấy chú chim sẻ trên cành ngô đồng giật mình bay vút lên trời xanh. Lồng ngực hắn rung lên từng nhịp rộn rã, bao nhiêu mệt mỏi, toan tính và áp lực nặng ngàn cân tích tụ suốt hai năm cải cách triều chính dường như đều tan biến sạch sành sanh trước tấm lòng của cô con gái nhỏ.
Tiểu Thảo thấy cha cười vui vẻ, liền rúc sâu hơn vào lòng hắn, hai mắt lim dim ngáp dài một cái, giọng nói lí nhí bắt đầu chìm vào cơn buồn ngủ:
"Cha ơi..."
"Cha nghe đây."
"Nếu cha cứ thất nghiệp mãi thế này... thì thích thật đấy..."
Dương Quảng khẽ khựng lại:
"Sao lại thích?"
"Vì nếu cha không có việc gì làm... thì cha sẽ luôn ở nhà chơi với Thảo Thảo, không phải đi xa nữa..."
Thanh âm non nớt ấy tan dần vào làn gió thu dịu nhẹ, nhưng lại chạm thẳng vào góc sâu kín và mềm yếu nhất trong linh hồn của vị hoàng đế xuyên không.
Dương Quảng im lặng rất lâu. Hắn siết chặt vòng tay hơn một chút, ôm trọn lấy sinh mệnh nhỏ bé, ấm áp đang phập phồng trên ngực mình. Đôi mắt hắn dõi theo một chiếc lá vàng đang chầm chậm buông mình, khẽ chạm vào mặt nước hồ xanh biếc, tạo nên những gợn sóng lăn tăn phản chiếu ánh hoàng hôn rực rỡ.
Hắn khẽ cúi đầu, đặt một nụ hôn nhẹ lên vầng trán thơm mùi sữa của con gái, mỉm cười thì thầm:
"Được rồi... Hôm nay cha nghỉ làm."
"Hôm nay, cha không làm Hoàng Đế của thiên hạ nữa."
"Cha chỉ làm cha của Thảo Thảo thôi."
Ngoài kia, bánh xe của thời đại vẫn đang rầm rập nghiền nát mọi rào cản để mở ra một kỷ nguyên mới cho nhân loại.
Nhưng trong góc nhỏ thanh tịnh của Ngự Hoa Viên, thế giới dường như đã dừng lại, trọn vẹn và bình yên đến vô cùng.
======================================================================
天啟雄文:《華夏同心論》
第五章:道德論 – 為天地立心
THIÊN KHẢI HÙNG VĂN:《 HOA HẠ ĐỒNG TÂM LUẬN 》
CHƯƠNG V: ĐẠO ĐỨC LUẬN – VÌ THIÊN ĐỊA LẬP TÂM
Quyển X-XX: Tứ Đại Cấm Kỵ – Bất Khả Xâm Phạm (Trọng Tâm Bản)
【 KINH VĂN 】
禁滅種,禁強同,禁消文化,禁毀文明。違反四大禁忌,即為人類之公敵。
(Cấm diệt chủng, cấm cưỡng đồng, cấm tiêu văn hóa, cấm hủy văn minh. Vi phạm tứ đại cấm kỵ, tức là kẻ thù của nhân loại.)
【 BIỆN LUẬN VÀ NHẤN MẠNH ĐẠI ĐẠO 】
Hãy nghe đây, hỡi vạn thế sinh dân và những kẻ cầm quyền nắm giữ vận mệnh giang sơn! Bản thể Hoa Hạ chân chính không đứng trên ngai vàng của sự uy quyền độc đoán, mà đứng trên nền tảng của TỨ ĐẠI CẤM KỴ - bốn lằn ranh đỏ thiêng liêng được khắc bằng thiên lý, bất luận kẻ nào, triều đại nào cũng tuyệt đối không được phép bước qua dẫu chỉ một phân:
THỨ NHẤT: CẤM DIỆT CHỦNG! Sinh mạng là lộc của trời đất, dòng máu của mỗi tộc người là dòng chảy linh thiêng của lịch sử. Kẻ nào dùng đao gươm, lửa cháy hay sự tàn độc của luật pháp để tuyệt diệt sinh học một giống nòi, kẻ đó đang phạm vào đại tội đồ sát chính đồng loại, tự tay cắt đứt huyết mạch nhân sinh.
THỨ HAI: CẤM CƯỠNG ĐỒNG! Trời đất sinh vạn vật đa sắc màu, bách hoa tề phóng. Cưỡng ép người khác phải từ bỏ căn cước, bắt các dân tộc anh em phải cúi đầu thay hình đổi dạng, sống và suy nghĩ rập khuôn theo ý chí của kẻ thống trị là hành vi bạo ngược đê hèn. Sự thống nhất chân chính phải đến từ lòng tự nguyện, không phải từ sự áp chế của sắt và máu.
THỨ BA: CẤM TIÊU VĂN HÓA! Phong tục, tập quán, lễ hội và tiếng mẹ đẻ chính là phần hồn cốt, là ký ức ngàn năm mà tổ tiên các dân tộc để lại. Tìm cách xóa nhòa, bóp nghẹt hay bức tử các giá trị văn hóa riêng biệt để dễ bề kìm kẹp, đó là hành vi xóa bỏ ký ức, biến con người thành những cỗ máy không hồn.
THỨ TƯ: CẤM HỦY VĂN MINH! Mỗi một cộng đồng, một quốc gia đều có một hệ thống tri thức, tư tưởng và thành tựu lịch sử riêng. Đốt sách, phá đền, san phẳng các di sản và bức tử một nền văn minh lâu đời khác chính là tội ác diệt tuyệt trí tuệ của nhân loại, đẩy thế giới quay về thời kỳ tăm tối mông muội.
【 LẬP NGÔN PHẢN BIỆN 】
Những kẻ mang dã tâm bành trướng và đầu óc độc tài chuyên chế từ xưa đến nay luôn tìm cách ngụy biện rằng: "Muốn giang sơn vạn thế bình trị, triều đình bắt buộc phải dùng biện pháp cực đoan để xóa sạch sự khác biệt, đồng hóa triệt để kẻ bị trị để triệt tiêu mầm mống phản kháng".
Ta lập ngôn ở đây để đập tan sự tà ác và hoang đường đó!
Tứ Đại Cấm Kỵ này chính là bài thử thách cao nhất cho nhân tính của nền văn minh Hoa Hạ. Nếu Hoa Hạ hùng cường mà phải tồn tại bằng cách dẫm đạp lên bốn điều cấm này - nghĩa là phải diệt chủng người khác, phải cưỡng ép đồng hóa, phải xóa sổ văn hóa và tiêu hủy văn minh của các tộc người anh em - thì khi ấy, Hoa Hạ đã biến chất thành một lũ quái vật man di, tàn bạo nhất dưới gầm trời.
Chúng ta đanh thép khẳng định: Thà từ bỏ vương quyền tối thượng, thà giang sơn chịu ngàn trùng thử thách, chứ quyết không bao giờ từ bỏ nhân tính. Kẻ nào dám ngạo mạn thách thức, vi phạm vào một trong Tứ Đại Cấm Kỵ này, kẻ đó đã tự đóng dấu làm kẻ thù của toàn nhân loại. Ức vạn sinh dân Hoa Hạ sẽ đồng tâm hiệp lực, thay trời hành đạo, dùng công lý tối cao để nghiền nát và tru diệt kẻ đó vạn thế, quyết không dung thứ!
* Lập thuyết Hoa Hạ Đồng Tâm Luận là sản phẩm hư cấu. Phục vụ cho ý đồ của Thiên Khải Đế Dương Quảng, nhân vật chính của truyện. Không có thật. Không mang tính học thuật. Không có giá trị tham khảo.