Cô năm mươi tuổi khi nhận ra mình đang đếm ngược.
Không phải đếm cố ý, không phải kiểu ngồi xuống, tính "tuổi thọ sáu mươi trừ năm mươi bằng mười", rồi lo. Đếm kiểu cơ thể. Cơ thể đếm thay đầu. Đếm bằng, đầu gối kêu rắc mỗi sáng (kêu to hơn năm trước, to hơn nữa năm trước nữa; đầu gối đang đếm bằng tiếng kêu). Bằng mắt mờ dần (ánh đỏ sẫm mà năm mươi tuổi thấy khác ánh đỏ sẫm mà hai mươi tuổi thấy: mờ hơn, nhạt hơn, kiểu ai đó đang từ từ vặn nhỏ đèn). Bằng tay run (run nhẹ, run kiểu rượu run ở Tharn, nhưng không phải rượu; run kiểu thần kinh mòn; run kiểu, bốn mươi mấy năm tay làm việc trên hành tinh mà mọi thứ khó, tay mệt).
Cơ thể đếm. Và cô, nghe. Nghe kiểu đã nghe nhiều cơ thể đếm ngược: cơ thể Minh (bảy mươi tám, tim chậm, phổi nông, đếm từng hơi). Cơ thể Kael (sáu mươi mấy, xương mỏng, da lạnh, đếm từng bước). Cơ thể Aṅku (một trăm năm mươi lăm, già, mòn, đếm từng mùa). Bốn cơ thể. Bốn lần đếm ngược. Và lần này, cơ thể Lửa, năm mươi tuổi Kṣāra, đếm.
Kiếp ngắn nhất.
Tuổi thọ sáu mươi. Ngắn hơn Trái Đất (bảy mươi tám). Ngắn hơn Reth (sáu mươi mấy, nhưng Reth khỏe hơn: ăn thịt, uống nước sạch, ít stress). Ngắn nhiều hơn Āyata (một trăm năm mươi lăm, Āyata tuổi thọ dài, sống chậm, nhịp chậm). Kiếp Kṣāra = kiếp ngắn nhất. Và ngắn nhất, ở kiếp mà nhiều thứ nhất cần làm (hẻm vực, bạo hành, ba lớp khóa, địa ngục trần gian), nghiệt.
Nhưng cô, năm mươi tuổi, bốn kiếp, đã quen đếm ngược, không sợ.
Không sợ vì, đã chết ba lần. Biết chết trông thế nào. Biết Trung Ấm. Biết bóng tối. Biết gió dụ buông. Biết, quy trình. Và biết quy trình = không sợ quy trình. Giống thợ mộc không sợ cưa: biết cưa cắt, biết cách dùng, biết khi nào dùng. Cưa vẫn sắc. Nhưng không sợ.
Không sợ chết. Nhưng, tiếc.
Tiếc kiểu chưa xong. Kiểu, kênh cổ chưa khai thông (Hội Nước vẫn cãi, cãi nhiều mùa, cãi chậm; hẻm đông đã đòi, hẻm nam đang đòi, hẻm mình gần đủ để đòi, nhưng chưa). Kiểu, Đạo Khát chưa sụp (yếu hơn, Vāk-Dhara đã nói một phần sự thật, đã dạy một số người chữ cổ; nhưng Đạo Khát vẫn giảng, vẫn có người tin, vẫn "khổ là đáng"). Kiểu, thế giới chưa đổi đủ.
Tiếc vì muốn thấy.
Muốn thấy kênh cổ khai thông, nước chảy tự do giữa ba hẻm, dân không cần Hẻm Chủ chia, tự có. Muốn thấy Đạo Khát sụp, dân biết Đại Cạn = thiên tai, biết "khổ là đáng" = dối, biết có thể khác. Muốn thấy, phụ nữ có tên ở hẻm mình, giữa ban ngày, mọi người, không phải chỉ nhóm, không phải chỉ đêm.
Muốn thấy. Và, có lẽ không thấy. Vì, chậm. Thay đổi chậm. Chậm hơn kiếp. Và kiếp, mười năm nữa, có lẽ ít hơn, không đủ.
Không đủ để thấy.
Và không đủ để thấy, ở người mà bốn kiếp đã xây, đã gieo, đã chờ, đau. Đau kiểu nhẹ (nhẹ vì đã quen, đã quen không thấy kết quả; kiếp Reth: xây chữ viết, không thấy chữ lan ra ngoài bộ tộc; kiếp Āyata: gieo nước ngầm, không thấy Suddha thay đổi hệ thống; mỗi kiếp gieo mà không gặt). Nhưng đau có. Đau kiểu, nông dân trồng cây mà biết mình sẽ không ăn quả.
Nhưng, và cô, năm mươi tuổi, bốn kiếp, đã hiểu, không cần thấy.
Không cần thấy vì, đã gieo. Và gieo = đủ. Quả = việc của cây. Không phải việc của người gieo. Người gieo gieo. Cây mọc. Quả đến. Nhưng quả đến theo lịch cây, không theo lịch người gieo. Và lịch cây, chậm hơn lịch người. Và chậm hơn = không thấy. Và không thấy = tin.
Tin rằng quả sẽ đến. Dù không thấy. Dù không ở đây khi quả đến.
Tin, kiểu nước ngầm: không thấy nước, nhưng cây xanh. Không thấy thay đổi, nhưng đang diễn ra. Không thấy, nhưng biết.
Và biết mà không thấy = tin.
Những năm cuối, năm mươi đến... bao nhiêu? Cô không biết. Không biết vì, không ai biết. Tuổi thọ sáu mươi = trung bình; có người sáu mươi lăm, có người năm mươi lăm, có người, rượu kāla + stress + đời, ít hơn. Cô không uống rượu. Cô ít stress hơn trước (Tharn đã đi, nhà im; vọng giận không còn; sợ nền mẹ giảm dần; nhà nhẹ hơn). Nhưng cơ thể, cơ thể Kṣāra, cơ thể hành tinh khô, hành tinh ít nước, hành tinh mà mọi thứ mòn nhanh hơn, mòn. Mòn không hỏi.
Nên cô, sống. Sống kiểu không đếm. Sống kiểu, mỗi ngày. Mỗi ngày = đủ. Mỗi ngày = một ngày. Và một ngày, ở kiếp ngắn nhất, ở kiếp mà mỗi ngày quý hơn mọi kiếp trước, đủ.
Sống, và nhìn.
Nhìn cộng đồng thay đổi. Chậm. Không đều. Có thụt lùi.
Thụt lùi: một đêm, một đêm mà không ai ngờ, một ông bố trong xóm (không phải Tharn, Tharn đã đi; ông bố khác, ông bố trẻ hơn, ông bố mà cô đã nghe vọng giận nền từ nhà ông ta nhiều năm), đánh vợ. Đánh nặng. Và vọng đau, xuyên tường, xuyên đêm, xuyên tất cả, vang. Và xóm, nghe. Và xóm, giống mọi lần trước, im.
Cô nghe, nghe vọng đau từ nhà ông bố trẻ, nghe xóm im, và đau. Đau vì lặp lại. Đau vì, bốn mươi mấy năm, tất cả thứ cô đã xây, và vẫn. Vẫn có bố đánh vợ. Vẫn có xóm im. Vẫn, "bình thường".
Nhưng, khác.
Khác vì, sáng hôm sau, bốn bà mẹ đến nhà ông bố trẻ. Ngồi. Im. Nhìn. Giống bà già đầu xóm đã đến nhà Tharn, nhiều năm trước, sau đêm mà vọng đau cô vang xuyên tường (chương 18). Nhưng lần đó, một bà già. Lần này, bốn. Bốn bà mẹ. Nhóm. Đến cùng lúc. Ngồi cùng nhà. Nhìn cùng hướng.
Và ông bố trẻ, nhìn bốn bà mẹ ngồi trong nhà mình, dừng. Dừng kiểu Tharn dừng: không biết phải làm gì với người-đến-ngồi-im-nhìn.
Thụt lùi, nhưng phản ứng KHÁC.
Trước: bố đánh → xóm im → KHÔNG AI đến.
Bây giờ: bố đánh → xóm im → nhưng BỐN BÀ MẸ đến.
Bốn. Không phải một. BỐN.
Và bốn, ở xóm mà "nhà ai nấy lo", = THAY ĐỔI. Thay đổi CHẬM (vẫn có bố đánh). Thay đổi KHÔNG ĐỀU (vẫn có xóm im). Nhưng thay đổi CÓ: bốn bà mẹ ĐẾN. Bốn bà mẹ NGỒI. Bốn bà mẹ NHÌN.
Và nhìn, bốn đôi mắt, NẶNG HƠN một đôi mắt. Nặng gấp BỐN. Và nặng gấp bốn, ở ông bố trẻ, = DỪNG lâu hơn.
Cô nhìn bốn bà mẹ đến ngồi, và nhớ: bà già đầu xóm. Bà già đã đến ngồi nhà Tharn một mình, nhiều năm trước. Bà già đã chết (chết, vài năm trước; già, mòn, hết; cô đã có mặt, có mặt kiểu tiễn: ngồi cạnh, ở đó). Bà già không còn. Nhưng, cách bà già (đến, ngồi, im, nhìn), ở lại. Ở lại trong bốn bà mẹ. Bốn bà mẹ đến nhà ông bố trẻ cùng cách mà bà già đã đến nhà Tharn: đến, ngồi, im, nhìn.
Cách truyền.
Bà già → bốn bà mẹ. Cách "đến-ngồi-im-nhìn" = TRUYỀN. Bà già TÀN. Cách VẪN.
Giống hoa trên vách: bông tàn, hạt rơi, bông mới mọc. Bà già tàn. Cách truyền. Bốn bà mẹ SỐNG bằng cách đó.
Có thụt lùi. Nhưng, vọng tổng, vọng xóm, vọng nền, đổi tông. Cô đo, đo bằng bốn mươi mấy năm nghe vọng xóm, đo bằng ký ức:
Vọng xóm mười năm trước: giận bass to, sợ treble cao, mệt trống nặng, thương sáo nhỏ. Bản giao hưởng thứ dữ.
Vọng xóm bây giờ: giận bass nhỏ hơn (Tharn, nguồn giận chính, đã đi; và nhiều nguồn giận khác cũng yếu hơn: kinh tế ngầm hoạt động = ít thiếu = ít stress = ít giận). Sợ treble thấp hơn (nhóm mạnh = chỗ dựa = bớt sợ). Mệt trống nhẹ hơn (nước ngầm + quả + trao đổi = ít đói = ít mệt). Thương sáo to hơn (nhóm = "tao cũng" = thương lan; tên = giá trị = thương mở; khoảng tỉnh lan ra ngày = thương ban ngày).
Bản giao hưởng ĐANG ĐỔI TÔNG.
Chậm. Không đều. Có thụt lùi. Nhưng, TÔNG đổi.
Bass nhỏ hơn. Treble thấp hơn. Trống nhẹ hơn. Sáo TO HƠN.
Sáo, thương, TO HƠN.
Và to hơn, ở sáo, ở thương, ở THỨ MÀ MƯỜI NĂM TRƯỚC GẦN KHÔNG NGHE, = thay đổi LỚN NHẤT.
Vì, giảm giận = TỐT. Giảm sợ = TỐT. Giảm mệt = TỐT. Nhưng, TĂNG THƯƠNG = TỐT NHẤT. Vì giảm giận = BỚT XẤU. Tăng thương = THÊM TỐT. Và thêm tốt, khác bớt xấu. Thêm tốt = XÂY. Bớt xấu = BỚT PHÁ. Và xây, luôn luôn, quan trọng hơn bớt phá.
Cô nhìn xóm, nhìn bằng mắt năm mươi tuổi, mắt mờ, mắt mòn, và thấy. Thấy không phải bằng chi tiết (chi tiết mờ, mắt mờ = chi tiết nhòe). Thấy bằng tổng. Thấy kiểu, đứng xa nhìn bức tranh: gần thì thấy nét, xa thì thấy hình. Và hình, hình xóm, hình hẻm, hình thế giới nhỏ mà cô đã sống năm mươi năm, đổi.
Đổi kiểu mùa: không có ngày cụ thể, chỉ một sáng tỉnh dậy và gió đã khác.
Gió đã khác.
Không phải gió tốt hẳn. Gió bớt tệ. Và bớt tệ, ở đáy hẻm, ở đáy xã hội, ở đáy mọi thứ, phải đủ.
Những năm cuối, cô sống chậm.
Chậm hơn mọi giai đoạn kiếp này. Chậm vì, cơ thể chậm (đầu gối, mắt, tay, mòn). Chậm vì, không bận (đã chuyển giao, Hoa dẫn nhóm bây giờ; Varen dạy chữ ở hai hẻm; Kīra vẫn đi dù già; Āri ở hẻm đông đã xây hệ thống tương tự). Chậm vì, muốn. Muốn chậm. Muốn ở. Muốn, mỗi ngày, đủ.
Và đủ, ở năm mươi tuổi, ở kiếp ngắn nhất, ở gần hết, dày. Dày hơn mọi "đủ" trước đó. Vì, biết rằng ít. Biết rằng sắp hết. Và biết-sắp-hết = quý. Quý kiểu, mỗi chiều bình thường = quý. Mỗi bát cơm mẹ nấu = quý. Mỗi tiếng Hoa cười = quý. Mỗi hơi thở nhẹ (nhẹ vì Tharn đã đi, nhẹ vì nhà im) = quý.
Quý vì ít.
Quý vì, biết rằng SẮP KHÔNG CÒN.
Và biết-sắp-không-còn = mỗi khoảnh khắc SÁNG hơn.
Giống, kiếp Āyata, chương 29 (nhịp chậm): "khi không vội, ta THẤY nhiều hơn". Kiếp này, gần hết, cô KHÔNG VỘI. Và không vội = THẤY. Thấy ánh tím xám trên sàn nhà. Thấy tay mẹ chai khi nấu cơm. Thấy Hoa đan lưới, hai mươi sáu tuổi, tay KHÉO, mắt SÁNG, giọng TO. Thấy, MỌI THỨ, rõ hơn vì CHẬM.
Nghịch lý: mắt MỜ hơn, nhưng THẤY rõ hơn. Vì thấy rõ không cần mắt TỐT. Cần, CHẬM.
Mẹ, Jala, Nước, cũng già.
Năm mươi mấy tuổi. Già hơn cô (mẹ lớn hơn cô khoảng mười tuổi, mẹ sinh cô lúc mười mấy). Già kiểu, mòn. Tóc bạc trắng (trắng kiểu hoa trên vách, trắng sáng trên nền đen; và cô nhìn tóc mẹ bạc và nghĩ: đẹp; đẹp kiểu hoa; đẹp vì trắng giữa đen). Tay, gầy hơn, chai hơn, run nhẹ. Lưng, còng nhẹ (còng kiểu gánh, gánh đời, gánh con, gánh năm mươi mấy năm). Nhưng mắt, vẫn sáng. Sáng kiểu lửa trên tro. Lửa không dưới nữa. Lửa trên. Lửa thấy.
Và mẹ, Jala, sống khác sau khi Tharn đi.
Khác vì, không sợ nữa. Sợ nền, vọng mà cô đã nghe ở mẹ từ trong bụng, vọng mãn tính, vọng mọi lúc, mỏng dần. Mỏng mỗi tháng. Mỗi năm. Mỏng vì, nguồn sợ chính đã tắt (Tharn đi = giận tắt = sợ mất năng lượng cấp). Mỏng vì, thời gian. Thời gian lành sẹo. Thời gian, năm năm sau Tharn đi, đủ để sợ nền mỏng đến gần-không.
Gần-không. Không phải không. Sợ nền, bốn mươi mấy năm, không biến mất hoàn toàn. Giống sẹo: lành nhưng nhớ. Sợ nhớ, nhớ kiểu cơ thể nhớ: mẹ vẫn giật nhẹ khi nghe tiếng to bất ngờ (giật, phản xạ; phản xạ bốn mươi mấy năm = không tắt; giật rồi biết: không phải Tharn; và biết → bớt giật; nhưng giật trước rồi mới biết sau; vì phản xạ nhanh hơn biết).
Nhưng, gần-không. Gần-không sợ. Và gần-không sợ, ở mẹ, ở người đã sợ cả đời, = khác. Khác kiểu, mẹ KHÁC. Mẹ nói to hơn (giọng mẹ, trước: nhỏ, kiểm soát, giấu; bây giờ: bình thường; bình thường kiểu người không cần giấu). Mẹ cười nhiều hơn (cười, trước: hiếm; bây giờ: bớt hiếm; cười khi Hoa nói gì đó vui; cười khi nhóm gặp; cười khi, mẹ muốn). Mẹ đi xa hơn (đi, trước: nhà → giếng → suối → hết; bây giờ: nhà → suối → rừng → khe nước → nhà bà già (bà già đã chết, nhưng nhà vẫn = chỗ gặp nhóm) → xa hơn; mẹ đi không xin phép; đi vì muốn; đi vì, không ai cấm nữa).
Mẹ sống.
Sống kiểu, lần đầu. Lần đầu không sợ. Lần đầu không bị đánh. Lần đầu, năm mươi mấy tuổi, tự do.
Tự do kiểu muộn. Muộn vì, năm mươi mấy năm sống không tự do. Muộn vì, tuổi thọ sáu mươi, còn vài năm. Muộn vì, đáng lẽ phải sớm hơn. Đáng lẽ, sinh ra là tự do. Đáng lẽ, không cần chờ bốn mươi mấy năm.
Nhưng muộn, vẫn. Muộn vẫn tự do. Muộn vẫn sống. Muộn vẫn, "vẫn".
Và "vẫn", ở mẹ, ở người đã chịu nhiều nhất, mòn nhiều nhất, đau nhiều nhất, đẹp nhất.
Đẹp vì cố. Đẹp vì, không nên sống mà vẫn sống. Đẹp kiểu hoa trên vách: mọc ở chỗ không ai tưới, nở vì đến lúc, trắng trên nền đen.
Mẹ = hoa.
Mẹ = nước.
Mẹ = lửa dưới tro, mà bây giờ, lửa trên tro. Lửa thấy. Lửa sáng.
Cô, năm mươi tuổi, ngồi cạnh mẹ năm mươi mấy tuổi, hai người già ở hẻm vực dưới hai mặt trời đang tắt, nhìn mẹ. Nhìn lâu. Nhìn kiểu, ghi. Ghi trong đầu. Ghi kiểu cuối cùng: ghi mặt mẹ, ghi tóc trắng, ghi mắt sáng, ghi tay chai, ghi, tất cả. Ghi vì, sắp hết. Ghi vì, kiếp sau, mẹ sẽ mờ (giống giọng mẹ kiếp Trái Đất, đã mờ; giống mặt Rael kiếp Reth, đã mờ; mẹ Jala, sẽ mờ; qua kiếp sau, kiếp sau nữa, sẽ mờ dần; và mờ dần = mất dần; và mất dần = đau dần, đau kiểu sẹo: nhớ mà bớt đau, nhưng nhớ).
Nên, ghi. Ghi bây giờ. Ghi khi còn rõ. Ghi bằng nhìn (nhìn = ghi; ở bốn kiếp này, cô đã học: ghi tốt nhất không phải bằng chữ; bằng nhìn; nhìn kỹ, nhìn chậm, nhìn thương, và nhìn-thương = ghi sâu nhất).
Mẹ nhìn lại. Mắt, sáng, mệt, ấm. Và nói, nhẹ, giọng mẹ, giọng khoảng tỉnh giữa ban ngày (giọng mà, bây giờ, sau Tharn, sau không sợ, mẹ dùng mọi lúc; khoảng tỉnh đã lan ra ngày; và lan ra ngày = giọng thật mọi lúc):
"Con nhìn mẹ chi vậy?"
Cô cười, cười nhẹ, cười ấm: "Nhìn vì đẹp."
Mẹ cười, cười kiểu "con nói gì kỳ vậy". Cười kiểu mẹ: không tin mình đẹp (bốn mươi mấy năm bị bảo "dòng-của-Tharn" = không đẹp, không giá trị, không gì; và bốn mươi mấy năm nghe = tin; và tin đó, dù bây giờ mẹ có tên, có giá trị, có nhóm, vẫn ở; vẫn ở kiểu sẹo: lành nhưng nhớ). Nhưng cười vui (vui vì, con nói mẹ đẹp; và con nói = thương; và thương = ấm; và ấm = cười).
"Mẹ đẹp," cô nói lại. Thật. Không phải an ủi. Thật vì, bốn kiếp, đã thấy nhiều người, nhiều mặt, nhiều mắt, và mẹ, bây giờ, năm mươi mấy tuổi, tóc trắng, tay chai, mắt sáng, đẹp. Đẹp kiểu, sống. Kiểu vẫn. Kiểu, bốn mươi mấy năm, tất cả, và VẪN.
Đẹp nhất mà bốn kiếp từng thấy.
Không phải đẹp kiểu Raan tròn (kiếp Āyata, mặt trăng lớn gần chạm, ánh sữa, đẹp kiểu vĩ đại). Không phải đẹp kiểu cánh đồng thở bằng ánh sáng (kiếp Āyata, đom đóm, bạc, đẹp kiểu thiên nhiên). Đẹp kiểu, người. Kiểu mẹ. Kiểu, tóc trắng và mắt sáng và tay chai và VẪN.
Đẹp vì VẪN.
Và "vẫn", từ đẹp nhất ở thế giới mà mọi thứ tối, đẹp nhất khi ở trên mặt mẹ.
Hai mẹ con ngồi. Chiều. Nắng nghiêng. Gốc kāla-vṛkṣa, gốc cũ, rễ nhẵn, chỗ mà Mắt đã nằm (Mắt đã đi, nhiều năm; chỗ Mắt nằm vẫn lõm; lõm kiểu vết; vết không mất; giống sẹo: lành nhưng nhớ; đất nhớ Mắt). Ngồi cạnh nhau. Không nói. Không cần. Vì, bốn mươi mấy năm cạnh nhau, đủ để không nói mà hiểu.
Và cô, ngồi cạnh mẹ, chiều, nắng, gần hết, ổn.
Ổn kiểu, đã nói ở chương trước (chương 37, vọng bình). Ổn kiểu Suddha. Ổn kiểu, đã bơi qua sông.
Nhưng thêm, thêm gì đó mà chương trước chưa có. Chương trước: bình vì đã làm đủ. Bây giờ: bình vì đã SỐNG đủ. Khác: làm = hành động (gieo, dạy, xây, truyền). Sống = ở đây (ở cạnh mẹ, ở cạnh Hoa, ở trong mọi thứ, không ngoài, không trên, không kiểm soát; trong). Và sống đủ, đủ kiểu không cần thêm, sâu hơn làm đủ.
Vì làm = vẫn hướng ra ngoài (làm cho ai, làm để gì, làm vì mục đích). Sống = hướng vào trong (sống = ở đây; không cho ai; không để gì; chỉ ở).
Và ở, ở đây, bây giờ, cạnh mẹ, chiều bình thường, = đủ.
Bốn kiếp. Hàng trăm năm. Và, cuối cùng, SỐNG = ĐỦ.
Không cần xây. Không cần gieo. Không cần dạy. Không cần PHÁ. Không cần, GÌ.
Chỉ, ở đây. Cạnh mẹ. Chiều. Nắng nghiêng.
Đủ.
Tri thức lan đi, không tên.
Cô ghi nhận (ghi trong đầu, thói quen cũ, không bỏ được; nhưng ghi nhẹ hơn; ghi kiểu ghi chú thay vì kiểu nhật ký; ghi vì thấy, không vì cần): ở xóm, nhiều người biết thứ mà trước đây ít người biết. Biết chữ cổ (Varen dạy, Hoa dạy, bạn dạy bạn, lan). Biết lịch sử thật (kể chuyện, truyền miệng, kiểu khoảng tỉnh, kiểu "tao cũng"; kể không chính xác hoàn toàn, truyền miệng méo, giống mọi truyền miệng; nhưng lõi đúng: Đại Cạn = thiên tai, không phải tội; nước đủ; có thể khác). Biết, nhiều hơn trước. Biết, không nhờ cô.
Không nhờ cô. Vì, tri thức đã lan. Lan không tên. Lan kiểu, ai dạy đầu tiên? Không ai biết. Ai nghĩ ra? Không ai biết. Chữ có, ai cũng biết có. Bản đồ nước có, ai cũng biết có. Nhưng ai mang đến? Ai gieo? Ai bắt đầu?
Không ai biết.
Và không ai biết = an toàn nhất. An toàn cho cô (không ai chỉ vào cô; không ai nói "đứa này bắt đầu"; cô = vô hình; vô hình = tự do). An toàn cho tri thức (tri thức không tên = không mục tiêu; không ai phá được thứ không biết ai tạo; giống nước ngầm: chặn một khe → rỉ khe khác; vì nước không có nguồn duy nhất).
Tri thức lan đi, giống mưa. Mưa rơi xuống đất. Đất hút. Ai cũng dùng. Không ai sở hữu mưa. Không ai nói "mưa của tao". Mưa = chung. Và chung = mạnh nhất.
Ở Reth, Kael = "người mang lửa". Ai cũng biết. Ai cũng NHỚ. Và nhớ = TÊN. Và tên = MỤC TIÊU. Và mục tiêu, khi hệ thống muốn PHÁ, = CHẶN.
Ở đây, Lửa = KHÔNG AI BIẾT. Không tên. Không mục tiêu. Không, GÌ. Tri thức lan đi KHÔNG TÊN. Và không tên = KHÔNG CHẶN ĐƯỢC.
Bốn kiếp. Và kiếp CUỐI, kiếp ĐÁY, kiếp ĐỊA NGỤC, lại là kiếp mà ta làm ĐÚNG NHẤT.
Đúng nhất vì, KHÔNG CÓ TÊN.
Vì, ở đáy, ở nơi mà phụ nữ KHÔNG CÓ TÊN, ta đã học: KHÔNG CÓ TÊN = TỰ DO. Tự do vì KHÔNG AI KIỂM SOÁT thứ KHÔNG CÓ TÊN. Và không kiểm soát = LAN. Và lan = MẠNH.
Kiếp một: Minh, CÓ TÊN. Nổi tiếng (trong phạm vi nhỏ). MỤC TIÊU.
Kiếp hai: Kael, CÓ TÊN. "Người mang lửa". MỤC TIÊU.
Kiếp ba: Aṅku, CÓ TÊN (Kṛṣi, nhưng CÓ). "Nông dân giỏi". MỤC TIÊU (nhẹ hơn, nước ngầm ít mục tiêu hơn lửa).
Kiếp bốn: Lửa, KHÔNG TÊN. "Con gái Tharn". VÔ HÌNH. Và vô hình = TỰ DO. Và tự do = LAN. Và lan =, thay đổi thế giới MÀ KHÔNG AI BIẾT AI THAY ĐỔI.
Mỗi kiếp, ÍT TÊN hơn.
Mỗi kiếp, MẠNH hơn.
Vì, mạnh THẬT không cần TÊN.
Chiều tắt. Nắng nghiêng hết. Ánh đỏ sẫm mỏng nhất. Bóng dài. Cây kāla-vṛkṣa đen trên nền gần-tối.
Mẹ đứng dậy. "Vào nấu cơm."
Cô đứng dậy. Đầu gối kêu, rắc. Cười (cười vì đầu gối; cười vì, giống Vīra kiếp Āyata: Vīra cũng đầu gối kêu, cũng cười; và cười vì đầu gối kêu = cười vì già; và cười vì già = ổn với già; và ổn với già = ổn).
Hai mẹ con đi vào nhà. Cửa vải. Sàn đất đen. Trần gỗ đen.
Nhà, im. Im đẹp. Im bốn năm nay (bốn năm sau Tharn đi). Im kiểu nhà. Im kiểu, ở đây, có mẹ, có Hoa (Hoa ở nhà ít hơn, hai mươi sáu tuổi, đi nhiều, ở hẻm bên cạnh nhiều hơn; nhưng về; về thường; về vì, nhà). Im kiểu, đủ.
Mẹ nấu cơm. Cô giúp. Tay chai cạnh tay chai. Hai mẹ con, cùng nấu, cùng im, cùng ở đây.
Và cô, năm mươi tuổi, bốn kiếp, gần hết, ở đây.
Ở đây.
Không ở đâu khác.
Đủ.