🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục
🔎 Tìm kiếm ⬇️ Tải app Android
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google
← Nhật Ký Thành Ma Của Ta

Q3·Ch.21: Vāk-Dhara Già

📖 Quyển 3: Lửa Dưới Tro

~17 phút đọc · 3221 từ · · ⚠️ Báo cáo

Cô tìm đến ông ta vào một chiều mà không ai tìm đến ai.

Chiều mùa khô. Giếng phụ cạn, Tharn cắt nước cách hai ngày, xóm căng, vọng nền cao hơn bình thường: giận nhiều hơn, sợ nhiều hơn, mệt nhiều hơn, mùa khô ép mọi thứ lên. Mẹ ở nhà với Hoa. Varen ở ngoài, mười lăm tuổi, đi nhiều hơn, và cô ghi nhận: Varen đi xa hơn mỗi mùa, ra rìa xóm, vào rừng, lên cao. Cô tự hỏi: có lúc nào Varen leo vách đá không? Có lúc nào Varen thấy vết khắc không? Chưa biết. Chưa hỏi, và chưa đến lúc. Bố đi trông giếng. Giếng cạn, nhưng Tharn vẫn ở đó, vì ở đó là quyền, và quyền thì không bỏ, dù giếng chẳng còn gì để giữ.

Cô, mười ba tuổi, chân trần, áo đen (mọi áo ở đây đen, nhuộm nhựa kāla), sợi dây nhật ký giắt trong áo, đi. Đi qua xóm, rồi lên phía trên, phía nhà Vāk-Dhara: nhà lớn hơn, sạch hơn, có cửa gỗ. Nhà tầng 3, nhà biết chữ.

Cô đã nghĩ về cuộc gặp này nhiều tháng. Nghĩ từ khi đọc xong vách đá, từ khi biết Vāk-Dhara gốc là người giữ tri thức, không phải người giữ kinh. Nghĩ từ khi nghe vọng Vāk-Dhara, tự tin ở bề mặt, mệt ở giữa, nghi ngờ ở đáy, và biết: ông ta không hoàn toàn tin thứ mình đang giảng. Nghĩ, rồi tính. Tính rủi ro: đến gặp Vāk-Dhara là lộ? Lộ gì? Lộ rằng cô biết? Lộ rằng cô đọc được chữ cổ? Lộ rằng đứa trẻ mười ba tuổi, con gái Kṣetra-Jan, không tên, biết nhiều hơn thầy cúng?

Rủi ro cao.

Nhưng cô đã cân, đã tính, đã sống với câu hỏi này nhiều đêm khoảng tỉnh, và không đến cũng là rủi ro. Rủi ro của không đến: sự thật nằm trong đầu cô một mình. Một mình là mỏng. Một mình là nếu cô chết, ngã khi leo vách, bệnh, Tharn đánh, bất kỳ thứ gì, ở thế giới mà tuổi thọ sáu mươi và bạo hành là nền, thì sự thật chết theo. Vết khắc trên vách vẫn ở đó, nhưng ai đọc? Ai biết có thứ để đọc?

Cô cần chia. Chia sự thật. Chia cho ai đó có thể giữ, nếu cô không giữ được.

Và Vāk-Dhara là lựa chọn duy nhất: ông già, người giữ lời, người cuối cùng ở hẻm này còn biết chữ cổ. Cô đoán vậy, vì chữ cổ là tri thức tầng 3, truyền trong dòng Vāk-Dhara, và ông ta già nhất.

Cô đứng trước nhà Vāk-Dhara. Cửa gỗ, đóng. Không phải vải che như nhà Kṣetra-Jan. Gỗ, cửa thật. Cô, mười ba tuổi, con gái tầng 4, đứng trước cửa tầng 3, không có quyền gõ. Ở Kṣāra, tầng dưới không đến nhà tầng trên. Tầng trên đến tầng dưới: Vāk-Dhara ghé nhà Tharn, bình thường; Tharn ghé nhà Vāk-Dhara, không bình thường; con gái Tharn ghé nhà Vāk-Dhara, không tồn tại trong kịch bản.

Nhưng cô đã sống ở mọi tầng, bốn kiếp, ba hệ thống phân tầng. Trái Đất: trung lưu. Reth: ngoài tầng, kẻ lạ. Āyata: Kṛṣi, tầng 3 trong 4. Cô biết: kịch bản không tồn tại khác kịch bản cấm. Không có luật nào nói "con gái Kṣetra-Jan không được đến nhà Vāk-Dhara". Chỉ không ai làm, vì không ai nghĩ đến. Không ai nghĩ đến, và đó là khe hở. Khe hở như cửa không khóa, vì không ai tưởng tượng được rằng ai đó sẽ mở.

Cô gõ.

Nhẹ. Tay mười ba tuổi gõ gỗ. Tiếng gỗ khác tiếng gõ vách đá, khác tiếng gõ đất: tiếng gỗ vang. Bên trong, bước chân. Chậm, nặng, già. Rồi vọng, từ trong cửa, Vāk-Dhara: ngạc nhiên, cảnh giác nhẹ và tò mò.

Cửa mở.

Vāk-Dhara nhìn xuống, xuống, vì ông ta cao hơn cô. Già, nhưng cao, lưng còng nhẹ, và nếu đứng thẳng sẽ cao hơn hầu hết đàn ông trong xóm: tầng 3 ăn đủ hơn tầng 4, nên lớn hơn, sinh học đơn giản, dinh dưỡng quyết định chiều cao. Ánh mắt ông nhìn cô, sáng: cái sáng của người còn nghĩ, cái sáng của Taak, cái sáng của kẻ giữ bí mật, rồi nheo lại.

"Con gái Tharn," ông ta nói. Không hỏi. Ông nhận diện, phân loại, xếp ngăn: đứa trẻ tầng 4, con gái, không tên. Xong.

Cô nhìn lên. Nhìn vào mắt ông ta. Rồi cẩn thận, kiểm soát, cô phát vọng đúng mức: kính trọng nhẹ, vì đứa trẻ kính trọng thầy cúng là bình thường; tò mò nhẹ, vì đứa trẻ tò mò về nhà thầy cúng là bình thường; và sâu, rất sâu, gần-không, chỉ đủ để Vāk-Dhara nghe nếu ông ta lắng, một chút nghi ngờ.

Nghi ngờ.

Cô phát vọng nghi ngờ.

Cùng tần số, cùng tông, cùng thứ mà cô đã nghe ở Vāk-Dhara: nghi ngờ đáy, nghi ngờ mà ông ta giấu dưới tự tin bề mặt. Cô phát y hệt, như gương phản chiếu: "tôi cũng nghi. Tôi cũng biết thứ mà ông đang nghi."

Liều. Rủi ro cao. Nếu Vāk-Dhara không nghe, hoặc nghe mà không hiểu, cô chỉ là đứa trẻ gõ cửa nhà thầy cúng. Bình thường. Lạ, nhưng vô hại.

Nếu Vāk-Dhara nghe, nghe vọng nghi ngờ ở cô, nghe cái tần số giống mình, ông ta sẽ biết: đứa trẻ này không bình thường. Biết điều đó, tùy vào phản ứng của ông ta, có thể cứu hoặc giết.

Vāk-Dhara nhìn cô. Lâu.

Im.

Rồi vọng ông ta đổi, cô nghe, nghe kỹ, nghe bằng mười năm đo vọng. Từ ngạc nhiên, cảnh giác và tò mò, rồi dừng. Dừng hẳn. Vọng phẳng, như mặt nước bỗng lặng. Không giận, không sợ, không tò mò, không gì. Cái phẳng của người đang lắng, đang nghe rất kỹ.

Ông ta đã nghe: nghe vọng nghi ngờ cô phát, nghe tần số, nghe cái giống nhau.

Bây giờ ông đang lắng, đang tìm: thật hay giả? Đứa trẻ này thật sự nghi, hay đang giả? Vọng không giả được, nhưng Vāk-Dhara không biết rằng cô biết điều đó. Ông ta nghi, vì ông ta là người nghi mọi thứ. Đó là nghề.

Im lặng, lâu. Cửa vẫn mở. Hai người nhìn nhau, ông già tầng 3 và đứa trẻ tầng 4, và giữa hai cái nhìn, vọng nói thay lời: nghi ngờ gặp nghi ngờ.

Rồi Vāk-Dhara nói, giọng trầm, đều, nhưng nhẹ hơn giọng giảng kinh. Giọng kinh to, có quyền, dành cho đám đông; giọng bây giờ nhỏ, dành cho một người.

"Vào."

Một từ.

Cô bước vào.

Nhà Vāk-Dhara, bên trong, khác nhà Kṣetra-Jan. Rộng hơn, sạch hơn. Có đồ: bình đất, nhiều hơn một, cô đếm được bốn bình nước dự trữ, tầng 4 không có nổi một bình dự trữ; vải tốt hơn, mịn hơn, ít rách; và ở góc, trên kệ đá, đá khắc chữ. Nhỏ và nhiều. Chữ Kṣāra hiện tại, không phải chữ cổ.

Cô nhìn nhanh, nhìn như quét, sang góc khác, sâu hơn, tối hơn: đá khắc chữ cổ. Vài viên, nhỏ, cũ, mòn.

Ông ta có.

Vāk-Dhara có chữ cổ. Không nhiều, vài viên đá nhỏ, có lẽ là mảnh vỡ từ một bảng lớn hơn đã mất. Nhưng có. Ở nhà ông ta, ở góc tối, giấu, nghĩa là ông ta biết chữ cổ tồn tại. Biết, nhưng không dạy. Biết, nhưng giữ.

Giống Taak giữ Lề Luật Tối.

Giống mọi kiếp.

Vāk-Dhara ngồi xuống trước. Ông đưa tay chỉ, cô ngồi, đối diện, trên sàn đất. Đất nhà ông phẳng hơn, sạch hơn; chi tiết nhỏ, nhưng cô ghi: quyền lực thể hiện qua mặt sàn. Hai người ngồi nhìn nhau, ông già tầng 3 và đứa trẻ tầng 4.

Im.

Cô chờ. Không nói trước. Ba kiếp kinh nghiệm giao tiếp với người giữ bí mật (Taak ở Reth, Dhīra ở Āyata, và bây giờ Vāk-Dhara) dạy cô: người giữ bí mật không mở trước. Họ chờ, chờ người đối diện lộ trước, chờ để biết đối phương biết gì, muốn gì, nguy cỡ nào. Nếu cô nói trước, nếu cô lộ, cô mất lợi thế. Lợi thế duy nhất cô có: Vāk-Dhara không biết cô biết bao nhiêu.

Nên cô chờ. Và Vāk-Dhara, già, kiên nhẫn, đã giữ lâu hơn cô sống, cũng chờ.

Im lặng. Lâu.

Hai người ngồi im và nghe vọng nhau: nghi ngờ của cô, nghi ngờ của ông ta, cảnh giác của cả hai, và tò mò của cả hai, vì cả hai đều muốn biết người kia biết gì.

Rồi Vāk-Dhara thua. Thua như một ông già: kiên nhẫn, nhưng mệt. Mệt kiểu người đã giữ bí mật quá lâu và muốn ai đó biết. Mệt như Taak, Taak cũng đã thua, kiếp Reth, khi Kael ngồi im đủ lâu và Taak kể. Người giữ bí mật muốn kể. Giữ là nặng. Kể là nhẹ. Khi gặp ai đó có vẻ hiểu, ai đó phát vọng nghi ngờ cùng tần số, thì nặng đòi nhẹ.

Vāk-Dhara nói:

"Mày biết đọc."

Không hỏi. Ông nói, giọng phẳng. Mắt nhìn cô, nhìn thẳng, cái nhìn của người đã quyết định rằng nói thẳng nhanh hơn vòng vo.

Cô không phủ nhận. Phủ nhận là giả, mà vọng sẽ nói giả. Ở thế giới này, vọng không giả được.

"Con đọc được chữ trên vách," cô nói. Nhẹ, thẳng. Mắt nhìn mắt ông ta.

Im. Vāk-Dhara nhìn cô. Vọng ông ta: nghi ngờ, mệt, và một cái gì đó nữa. Cô lắng, và thấy nhẹ nhõm. Nhẹ nhõm nhẹ. Cái nhẹ nhõm của người vừa biết rằng mình không phải một mình.

Ông ta cũng cô đơn.

Cô, người đã cô đơn bốn kiếp, người chưa bao giờ có bạn, người mang ba kiếp trong xương mà không ai biết, nhận ra: Vāk-Dhara cũng cô đơn. Cô đơn kiểu người biết thứ mà không ai biết. Cô đơn như kẻ giữ bí mật mà không ai chia. Cô đơn như một ông già, gần chết, và bí mật sẽ chết theo.

Giống cô.

Hai người cô đơn. Hai người giữ bí mật. Hai người biết thứ mà hẻm này không biết.

Ngồi đối diện. Sàn đất phẳng, ánh tím xám qua cửa gỗ.

"Mày biết gì?" Vāk-Dhara hỏi. Giọng, không còn giọng thầy cúng nữa. Giọng người. Giọng hỏi thật.

Và cô, Lửa, mười ba tuổi, bốn kiếp, ngồi trước người giữ lời cuối cùng còn biết chữ cổ, trả lời:

"Con biết Đại Cạn là thiên tai. Không phải tội tổ tiên."

Im.

Vọng Vāk-Dhara: nhẹ nhõm bùng lên. Mạnh, mạnh hơn cô tưởng: cái nhẹ nhõm kiểu đập vỡ nắp sau bao nhiêu năm đóng. Dưới nhẹ nhõm, mệt. Mệt tuôn ra. Mệt mà ông ta đã giữ, giữ dưới tự tin bề mặt, giữ dưới giọng kinh đều, giữ dưới vai thầy cúng, bây giờ tuôn. Vì có ai đó biết. Vì không cần giữ trước mặt người đã biết.

"Mày đọc được bản đồ nước," ông ta nói. Không hỏi. Biết.

"Vâng."

"Mày biết kênh ngầm còn."

"Vâng."

Im. Lâu. Rồi Vāk-Dhara, già, mệt, vọng nhẹ nhõm và buồn, cô nghe, buồn như người biết mình đã sai nhưng quá muộn, nói. Không phải giọng kinh. Giọng kể. Giọng ông già kể chuyện thật cho người đầu tiên nghe thật sau rất lâu:

"Tao biết. Tao biết từ khi còn trẻ. Ông tao dạy, ông tao là Vāk-Dhara trước tao, ông cố tao là Vāk-Dhara trước nữa. Truyền. Chữ cổ truyền trong dòng Vāk-Dhara, nhưng mỗi đời ít hơn. Ông tao biết nhiều. Tao biết ít hơn. Con tao, không có con. Dòng tao hết."

Dòng Vāk-Dhara, dòng giữ lời, dòng mà kỹ sư cổ đã giao bản đồ nước, sắp tuyệt; và bí mật, bản đồ nước, lịch sử thật, chữ cổ, sắp chết theo.

"Sao ông không nói?" cô hỏi. Nhẹ. Không giận, dù có giận, giận ở đáy, giận vì tại sao ông giấu trong khi mọi người khát. Nhẹ vì ba kiếp kinh nghiệm nói chuyện với người giữ bí mật: giận không mở cửa, hiểu mới mở cửa. Cô muốn hiểu. Hiểu tại sao Vāk-Dhara giữ im, hiểu tại sao mọi kiếp, mọi thế giới, người giữ tri thức lại giấu tri thức.

Vāk-Dhara nhìn cô. Mắt sáng, nhưng mệt, mệt đến mức cái sáng nhạt đi. Rồi ông nói:

"Vì nói ra thì loạn."

Ba từ. Nghe ba từ đó, cô nhận ra: Taak. Giống y hệt Taak. Kiếp Reth, Kael hỏi Taak "tại sao giữ Lề Luật Tối?" và Taak đáp: "Vì bộ tộc cần sợ để sống." Cùng logic. Cùng lý do: giấu sự thật vì sợ loạn. Sợ rằng nếu mọi người biết, biết lời giảng về Đại Cạn là sai, biết kênh nước còn dấu vết và Hẻm Chủ giữ kín, thì sẽ nổi loạn. Và nổi loạn, ở xứ thiếu nước, ở hẻm vực chật, ở thế giới mà mọi thứ mỏng, là chết.

"Nói ra thì loạn. Loạn thì chết. Chết nhiều hơn giữ im."

Cô hiểu logic đó. Hiểu bằng ba kiếp. Taak cũng đúng, theo cách của Taak: bộ tộc Reth cần sợ lửa để không chơi với lửa khi chưa biết cách. Dhīra ở Āyata cũng đúng, theo cách của Dhīra: tri thức y tế trong tay người không được đào tạo là nguy. Vāk-Dhara cũng đúng, theo cách của ông ta: nói ra rằng lịch sử Đại Cạn bị kể sai, rằng Hẻm Chủ giữ kín cửa kênh và nguồn nước còn lại, thì bùng nổ. Bùng nổ, ở hẻm vực, ở đáy, là chết.

Nhưng cô đã bốn kiếp, ba lần ngồi trước người giữ bí mật, ba lần nghe cùng một lý do, nên cô cũng biết: đúng theo cách đó không có nghĩa là đúng duy nhất. Giữ im để tránh loạn là một cách. Nhưng giữ im thì dân khát. Giữ im thì mẹ bị đánh. Giữ im thì Hoa sợ. Giữ im thì Varen biến thành bố. Giữ im thì đau tiếp tục. Mà đau tiếp tục, cô tính, cũng chết. Chết chậm hơn loạn. Nhưng chết.

"Nếu gỡ Đạo Khát ra," cô nói, nhẹ, chậm, mắt nhìn mắt ông ta, "thì lấy gì đắp vào?"

Vāk-Dhara nhìn cô. Lâu. Vọng đổi, cô nghe: từ mệt, buồn và nhẹ nhõm, rồi ngạc nhiên. Ngạc nhiên sâu. Cái ngạc nhiên của người vừa nghe một đứa trẻ mười ba tuổi hỏi đúng câu mà ông ta đã hỏi chính mình cả đời mà không trả lời được.

Lấy gì đắp vào?

Câu hỏi đó, câu hỏi mà Kael đã hỏi Taak, không trực tiếp, và Kael đã trả lời bằng cách mang lửa đến: gỡ Lề Luật Tối bằng cách cho thứ tốt hơn. Câu hỏi mà Aṅku đã hỏi Dhīra, không trực tiếp, và Aṅku đã trả lời bằng nước ngầm: gỡ đẳng cấp bằng cách cho một nền kinh tế khác. Câu hỏi cốt lõi của mọi cuộc cách mạng: phá cái cũ dễ, xây cái mới khó, và phá mà không xây là loạn.

Vāk-Dhara không trả lời. Không phải vì không muốn, mà vì không có câu trả lời. Ông ta đã giữ im vì không có câu trả lời cho câu hỏi đó. Gỡ Đạo Khát, rồi dân biết vẫn còn nước ngầm, rồi dân đòi mở kênh và đo lại phần được chia; Hẻm Chủ không cho, rồi loạn. Hoặc: gỡ Đạo Khát, rồi dân mất niềm tin, rồi dân mất cấu trúc, rồi một thứ loạn khác, loạn vì không biết tin gì, loạn tinh thần, không phải loạn vũ lực, nhưng cũng loạn.

Cô nhìn ông ta: ông già, mệt, đã giữ cả đời, đã sai cả đời, sai vì giữ, nhưng cũng sai vì không biết cách khác. Rồi cô thương.

Thương như cô đã thương Taak, ông già gánh ký ức đau của bộ tộc. Thương vì hiểu: Vāk-Dhara không ác. Không tham. Ông ta sợ, sợ loạn, sợ chết, sợ mình gây ra thứ tệ hơn thứ đang có. Cái sợ đó, sợ của người giữ bí mật, sợ của người biết mà không dám nói, thì nặng. Nặng hơn bí mật. Nặng hơn giữ. Nặng vì tự chọn: tự chọn giữ im, tự chọn để dân khát, tự chọn để mẹ bị đánh, vì tin rằng nói ra tệ hơn. Tự chọn, dù vì lý do "tốt", vẫn nặng, vì biết mình đang chọn ai đau.

"Con không đến để phá Đạo Khát," cô nói. Nhẹ. Chắc. "Con đến để hỏi: nếu gỡ, lấy gì đắp?"

Vāk-Dhara nhìn cô. Vọng, cô nghe, run: cái run cũ, run như đứa trẻ bên trong ông già, đứa trẻ đã bị dạy giữ im từ nhỏ, đã bị ông nội truyền bí mật kèm gánh, đã lớn lên thành người giữ mà không ai hỏi có muốn giữ không. Đứa trẻ đó run.

Vì lần đầu tiên, có ai đó không đòi ông ta nói ra. Không ép ông ta phá. Không giận ông ta vì giữ. Chỉ hỏi: lấy gì đắp? Hỏi như cùng tìm, không phải hỏi như đổ lỗi. Cùng tìm, ở một ông già đã giữ một mình cả đời, là thứ mà ông ta chưa bao giờ có.

"Tao không biết," ông ta nói. Giọng nhẹ nhất mà cô từng nghe ở Vāk-Dhara. Không phải giọng kinh. Không phải giọng thầy cúng. Giọng ông già mệt. "Tao giữ vì không biết cách khác."

Và cô, nghe câu đó, dừng.

Dừng vì giống.

"Tao không biết cách khác."

Tharn, bố cô, cũng sẽ nói câu đó. Sẽ nói khi già. Sẽ nói khi mệt đủ để thừa nhận. "Tao không biết cách khác." Tharn đánh vì không biết cách khác. Vāk-Dhara giữ im vì không biết cách khác. Cùng câu. Khác hành động. Cùng gốc: không có lựa chọn, hoặc tin rằng không có lựa chọn.

Và cô, Lửa, mười ba tuổi, bốn kiếp, nghĩ:

Nhiệm vụ ta không phải cho câu trả lời. Nhiệm vụ ta là cho lựa chọn.

Cho Tharn lựa chọn ngoài đánh.

Cho mẹ lựa chọn ngoài chịu.

Cho Vāk-Dhara lựa chọn ngoài giữ im.

Không phải ta biết đáp án. Ta cũng không biết lấy gì đắp vào Đạo Khát. Nhưng ta biết: một mình không tìm được. Hai người, có thể.

Cô nhìn Vāk-Dhara. Ông già nhìn lại. Hai người, đứa trẻ tầng 4 và ông già tầng 3, ngồi đối diện, vọng nghi ngờ, mệt, nhẹ nhõm và thương, ở cùng nhau.

Không phải bạn, chưa. Nhưng cùng biết.

Và cùng biết, ở thế giới mà mọi người không biết, là bắt đầu.

"Con sẽ quay lại," cô nói. Đứng dậy. Nhẹ.

Vāk-Dhara gật. Không nói. Vọng: mệt, nhẹ nhõm và chờ. Chờ như người vừa đặt gánh xuống, chưa hết gánh, nhưng có ai đó đứng cạnh. Có ai đó đứng cạnh, và đứng cạnh là nhẹ hơn.

Cửa nhà Vāk-Dhara khép lại sau lưng Lửa. Trên tay cô còn bụi đá từ vách khắc. Ông già đã nhìn thấy bản đồ, nhưng ngày mai ông sẽ nói gì với dân hẻm, cô chưa thể biết.

💬 Bình luận (1)