Gió bấc rít gào qua kẽ đá tai mèo dựng đứng của hẻm Ma Nương, cuốn theo những đám sương muối xám xịt dày đặc tựa như chăn bông ướt trùm kín cả dải rừng vầu. Cái lạnh thấu xương buốt giá ngấm sâu vào từng ngọn cỏ cành cây, làm cho bùn đất dưới chân đóng thành từng mảng cứng quắt, giòn tan như vỏ bánh đa nướng dở. Trên chạc cây sa mộc cổ thụ cao mười trượng, Lý Quân vẫn đứng bất động tựa như một gờ đá tạc vào thân cây.
Ngón tay trỏ và ngón giữa của hắn móc chặt vào sợi dây cung bện bằng gân trâu nước ngâm sáp ong, kéo căng thân Cung Gỗ Lim thành một vầng trăng khuyết cứng cáp. Đầu mũi tên gỗ bồ đề bịt đồng thau nhọn hoắt quấn giẻ tẩm Dầu Tràm U Minh đang bốc lên một ngọn lửa màu xanh biếc. Ngọn lửa nhỏ bằng quả ổi non, cháy âm ỉ mà mãnh liệt giữa màn sương mù ẩm ướt, tỏa ra mùi hương tràm nồng ấm, ngai ngái mà cay xè nơi đầu mũi.
Phía dưới gốc cây chừng hai mươi trượng, toán thiết kỵ thi khôi giặc đang hùng hổ lao tới. Tiếng móng sắt nện trên nền sỏi đá lạo xạo, tiếng xích sắt va vào giáp thép kêu loảng xoảng chói tai xé toạc sự tĩnh mịch của rừng già. Tên đao phủ giặc dẫn đầu cưỡi trên lưng một con ngựa chiến bọc giáp sắt đen ngòm, mắt con vật đỏ ngầu tơ máu vì bị tà thuật điều khiển. Bản thân gã đao phủ là một tu sĩ phương Bắc tu vi Trúc Cơ tầng 4, toàn thân bọc trong lớp hàn băng giáp dày cộm, tay lăm lăm cây đại đao răng cưa dài trượng hai, mép đao hãy còn rỏ những giọt máu tươi đặc quánh của dân chài cõi Nam vừa bị hắn sát hại nơi đầu bản.
— Đuổi riết theo! Dấu chân đàn bà con nít còn ướt trên bùn, chúng nó chạy chưa qua khỏi hốc núi đâu!
Tên đao phủ gầm lên bằng thứ thổ âm phương Bắc the thé, đôi mắt lồi ra đầy vẻ khát máu cuồng loạn. Hắn vừa dứt tiếng quát, vung đao thúc mạnh gót sắt vào hông ngựa. Đúng lúc ấy, ngón tay Lý Quân khẽ buông lỏng.
— VÚT — !
Một âm thanh xé gió đanh gọn, trầm đục vang lên giữa tầng không. Vệt lửa màu xanh biếc của Dầu Tràm U Minh vạch một đường cong sắc lẹm qua màn sương mù xám xịt, nhanh tựa sao băng rơi xuống trần gian. Mũi tên gỗ bồ đề mang theo kình lực kinh hồn của Bách Đúc Thể Phách và một tia chân nguyên Kim Đan thuần dương, xoay tròn với tốc độ xé gió rợn người! Tên đao phủ giặc dẫu sao cũng là tu sĩ Trúc Cơ trung kỳ, giác quan vô cùng nhạy bén. Khi nghe thấy tiếng gió rít bên tai, hắn lập tức gầm lên một tiếng, vận chuyển toàn bộ chân khí hàn băng trong đan điền dồn vào tấm khiên tròn đeo bên tay trái, toan gạt phăng mũi tên đang lao tới.
Thế nhưng, hắn đã lầm to! Đây không phải là mũi tên tầm thường của đám thợ săn sơn tràng!
— XOẢNG — !
Mũi tên bịt đồng thau đâm thẳng vào chính giữa mặt khiên thép hàn băng. Lớp băng dày hai tấc bao bọc bên ngoài mặt khiên nứt toác thành trăm ngàn mảnh vụn như gương vỡ. Mũi tên không hề giảm tốc, xuyên thủng tấm khiên dày nửa tấc thép, cắm phập thẳng vào khe hở giáp sắt nơi cuống họng của tên đao phủ giặc!
— ẶC... !
Một tiếng kêu nghẹn ngào tắc nghẹn trong cổ họng tên giặc. Chưa dừng lại ở đó! Ngọn lửa Dầu Tràm U Minh gặp máu tươi và hàn khí lập tức bùng cháy dữ dội như đổ thêm dầu vào chảo mỡ! Ngọn lửa xanh biếc không tỏa khói đen mù mịt, mà luồn lách qua vết rách ở cuống họng, thiêu đốt thẳng vào thanh quản và mười hai đường kinh mạch quanh cổ của hắn.
Lửa tràm gặp hàn khí bốc lên xèo xèo, biến lục phủ ngũ tạng của tên đao phủ thành một đống tro tàn trong chớp mắt. Mắt hắn trợn trừng, hai tay buông rơi thanh đại đao răng cưa, thân hình to lớn như hộ pháp đổ vật xuống lưng ngựa, đập mạnh xuống nền đá tai mèo nghe "RẦM" một tiếng khô khốc!
— Chít... chít!
Trong túi áo Lý Quân, chuột Hắc Tí nhảy cẫng lên mừng rỡ, thò cái mũi đen ươn ướt ra ngửi mùi máu khét lẹt. Đòn phủ đầu diễn ra quá nhanh, quá tàn độc! Mười bốn cỗ thiết kỵ thi khôi chạy phía sau lập tức khựng lại. Những con ngựa chiến sắt hí lên những tiếng man dại, giậm chân tại chỗ làm bụi đá bay mù mịt. Lũ thi khôi phương Bắc vốn là những khôi lỗi g-iết người được chế tạo từ xác tu sĩ chết trận, bên trong cấy ghép phù văn ma đạo và kim loại sắc lạnh. Mất đi tên chỉ huy Trúc Cơ điều khiển bằng thần thức, những đốm lửa màu lam nhạt trong hốc mắt chúng bỗng chốc bùng cháy chuyển sang màu đỏ rực như máu — dấu hiệu của sự mất kiểm soát, chuyển sang trạng thái cuồng nộ cắn xé bừa bãi!
— GRÀO — !
Một cỗ thi khôi vạm vỡ nhất rú lên một tiếng the thé như quỷ khóc từ đáy mồ, vung trường thương chỉ thẳng lên chạc cây sa mộc nơi Lý Quân đang đứng. Mười bốn cỗ thiết kỵ thi khôi không chút do dự, đồng loạt vung đao thương bằng băng thiết, đạp trên xác tên chỉ huy vừa chết, điên cuồng lao thẳng về phía gốc cây! Thế nhưng, trên cành cao mười trượng, bóng áo nâu đã biến mất tự bao giờ.
Lý Quân thân hình nhẹ tựa lông hồng, lướt êm như một cánh ưng săn mồi giữa sương mù dày đặc. Hắn không hề dại dột đứng yên trên cành cây làm bia ngắm cho trường thương giặc phóng lên. Vừa buông mũi tên đầu tiên, hắn đã xoay người đạp vào thân cây sa mộc, mượn sức bật phóng vụt sang một mỏm đá tai mèo bên vách núi, rồi thoăn thoắt lùi sâu vào lòng hẻm Ma Nương.
— Đuổi theo! Băm vằn thây tên áo nâu kia ra!
Lũ thi khôi gầm thét bằng thứ âm thanh khô khốc rợn người, thúc ngựa bọc sắt rầm rập đuổi theo bóng áo nâu đang thấp thoáng giữa màn sương. Chúng không hề biết rằng, từng bước chân của chúng đang tiến thẳng vào chiếc thòng lọng mà người thợ săn vạn chài đã dày công giăng sẵn!
Hẻm Ma Nương dài chừng ba trăm trượng, là một khe nứt tự nhiên do động đất ngàn năm trước xẻ đôi quả núi đá vôi Trùng Khánh. Lòng hẻm hẹp chỉ vừa hai thớt ngựa đi song song, hai bên vách đá dựng đứng cao vút tận mây xanh, cành vầu và dây leo chằng chịt rủ xuống như những tấm rèm ma quái. Đáy hẻm là một con suối cạn, bùn lầy ngập sâu tới mắt cá chân, lởm chởm những tảng đá mồ côi trơn tuột phủ đầy rêu mốc ẩm ướt.
Một địa hình như thế này chính là tử địa đối với kỵ binh nặng bọc sắt! Khi mười bốn cỗ thiết kỵ thi khôi giặc ùa vào giữa lòng hẻm, tốc độ phi nước đại của chúng lập tức bị ghìm lại. Móng sắt của ngựa chiến giẫm phải đá cuội trơn trượt, loạng choạng chới với, bùn lầy bết chặt vào các khớp giáp chân khiến từng bước chạy trở nên nặng nề, ì ạch. Phía trước chúng năm mươi trượng, bóng áo nâu của Lý Quân bỗng nhiên dừng lại trên một phiến đá lớn giữa dòng suối cạn.
Hắn thong thả quay người lại, chiếc Nón Lá Lưu Ly khẽ nghiêng, để lộ đôi mắt đen láy sâu thẳm mang theo vẻ điềm đạm, lạnh lùng của kẻ nắm chắc phần thắng trong tay.
— Đến đủ cả rồi sao?
Lý Quân khẽ lẩm bẩm một mình. Bàn tay chai sạn của hắn rút từ trong túi trữ vật ra một cuộn dây thừng bện bằng xơ gai ngâm dầu trẩu, đầu dây nối liền với một chiếc then gài bằng đồng thau chôn sâu dưới khe đá ven suối. Trong hốc mắt lũ thi khôi, ngọn lửa đỏ rực bốc lên ngùn ngụt. Thấy con mồi đứng im không chạy nữa, chúng gầm lên man dại, thúc ngựa chém rạp những cành vầu chắn đường, vung trường thương dài nhọn hoắt lao thẳng về phía phiến đá! Khoảng cách thu hẹp lại: Bốn mươi trượng... ba mươi trượng... hai mươi trượng...
Mười lăm trượng! Đúng khoảnh khắc toàn bộ mười bốn cỗ thiết kỵ thi khôi dồn cục lại trong đoạn hẻm hẹp nhất, Lý Quân đột ngột giật mạnh sợi dây gai trong tay!
— CẠCH!
Một tiếng then đồng bật mở khô khốc vang lên từ vách đá:
— OÀNH... OÀNH... ĐÙNG — !
Một chuỗi âm thanh nổ liên hoàn chấn động lòng hẻm núi bỗng chốc vang lên chát chúa! Dọc theo hai bên vách đá tai mèo và dưới lớp bùn lầy của lòng suối cạn, hơn một trăm lá bùa màu đỏ sẫm giấu kín dưới lớp rêu phong đồng loạt phát nổ! Đó chính là bẫy phù vỏ điệp độc môn do Lý Quân tự tay bào chế!
Hắn dùng bột vỏ điệp ngàn năm thu thập từ rạn đá Cô Tô nghiền mịn như phấn, trộn lẫn chu sa thượng hạng, ngâm tẩm trong dịch chiết đậm đặc của rễ cây lá ngón rừng — thứ kịch độc bậc nhất của núi rừng Tây Bắc — rồi vẽ nên những đạo phù triệt hàn nổ phá. Chưa dừng lại ở đó, xung quanh mỗi lá bùa, hắn còn rải sẵn hàng chục thúng vôi sống nung từ đá vôi Cao Bằng và hàng trăm củ gừng đá già cay nồng đập dập! Khi bùa nổ kích hoạt, ngọn lửa chu sa mang theo kình lực kinh hồn xé toạc lớp bùn lầy, hất tung hàng vạn mảnh vỏ điệp sắc nhọn như dao cạo bay mù mịt khắp không trung!
— XÈO... XÈO... XÈO — !
Cảnh tượng tiếp theo khiến cho bất kỳ kẻ nào chứng kiến cũng phải kinh tâm động phách! Vôi sống gặp nước suối ẩm ướt trong lòng hẻm lập tức sôi sùng sục, bốc lên những cuộn khói trắng ngột ngạt mang theo nhiệt khí bỏng rát lên tới hàng trăm độ! Hơi nóng hầm hập hòa quyện với vị cay nồng xé họng của gừng đá và độc tố chết người của lá ngón rừng, tạo thành một luồng độc sương màu xanh lam quánh đặc như keo, phủ kín toàn bộ khúc hẻm Ma Nương! Lớp hàn băng hộ thể dày ba tấc bao bọc quanh thân ngựa chiến và giáp sắt của lũ thi khôi — thứ hàn băng vốn chỉ sợ dương hỏa cực thịnh — khi gặp phải luồng hơi nước vôi sống sôi sục và vị cay gừng đá lập tức rạn nứt chằng chịt như mạng nhện!
— RĂN RẮC... CHOẢNG — !
Từng mảng băng lớn thi nhau vỡ vụn, tan chảy thành những dòng nước đục ngầu cuốn trôi lớp phòng ngự kiên cố nhất của quân thù. Và khi lớp băng bảo hộ đã mất, tai họa thực sự mới giáng xuống đầu bầy quỷ dữ! Dịch độc lá ngón rừng mang tính ăn mòn cực mạnh hòa lẫn trong nước vôi sôi sục, theo các kẽ hở giáp sắt tràn vào từng ổ trục, khớp nối, then cài bằng kim loại của mười bốn cỗ thi khôi. Chất độc chua chát ăn mòn kết hợp với sự chênh lệch nhiệt khí đột ngột giữa băng tuyết và nước sôi khiến cho bề mặt sắt thép bị rỉ sét mục rỗng trong chớp mắt!
— KÉT... RẮC... KENG — !
Những tiếng kêu ken két chói tai vang lên liên hồi tựa như tiếng răng cưa miết trên đá nhám. Các khớp khuỷu tay, khớp đầu gối và ổ trục quay của ngựa sắt bỗng chốc bị gỉ sét màu nâu đỏ bám chặt cứng đờ! Dầu bôi trơn ma đạo bên trong các then nối bị nước vôi tẩy sạch, khiến cho các bánh răng kim loại kẹt cứng vào nhau, phát ra những tia lửa xám xịt rồi gãy gập từng khúc! Mười bốn con ngựa chiến sắt mất thăng bằng, bốn chân cứng đờ như bốn khúc gỗ mục, trượt ngã dúi dụi trên nền đá cuội trơn tuột.
— RẦM... RẦM... BỘP!
Những cỗ thi khôi nặng hàng ngàn cân ngã chồng đè lên nhau trong bùn lầy, áo giáp sắt va đập loảng xoảng. Chúng gầm rú điên dại, cố sức vùng vẫy để đứng dậy, nhưng các khớp chân tay đã hoàn toàn rỉ sét, tê liệt, chỉ có thể nằm quằn quại dưới đáy suối như những con cua gãy càng bị ném vào nồi nước sôi!
— Chít... chít!
Chuột Hắc Tí trên vai Lý Quân sướng quá kêu toáng lên, hai chân trước vỗ bành bạch vào cổ áo hắn. Lý Quân nhìn cảnh tượng trước mắt, khuôn mặt chữ điền không hề có lấy nửa phần đắc ý. Ngược lại, ánh mắt hắn càng thêm lạnh lùng, sắc bén như lưỡi rìu đốn củi. Đánh rắn phải đánh giập đầu! Đã ra tay phục kích thì tuyệt đối không được để sót lại một mẩu tàn dư nào báo tin về đại bản doanh giặc! Hắn buông cung lim gài lại sau lưng, bàn tay thô ráp với ra sau hông, nắm chặt lấy chuôi kiếm quấn dây mây.
— XOẸT — !
Long Văn Cổ Kiếm rời vỏ! Lưỡi kiếm bằng đồng cổ ánh lên sắc xanh rêu trầm mặc của thời tiền nhân dựng nước, sống kiếm bọc thép Lãnh Hải Huyền Thiết đáy biển Cô Tô phẳng lì không tì vết. Thanh kiếm không hề phát ra ánh sáng chói lòa kinh người, nhưng sát ý lạnh thấu xương tủy ngưng tụ trên lưỡi kiếm lại khiến cho làn sương mù xung quanh phải dạt sang hai bên. Thân hình Lý Quân khẽ nhún một cái.
Bách Đúc Thể Phách dẻo dai bộc phát sức bật kinh hoàng, biến hắn thành một vệt bóng nâu lướt đi trên mặt nước suối cạn, êm ả đến mức không làm bắn lên một giọt nước bùn! Một cỗ thi khôi đang nằm ngửa dưới bùn, hốc mắt đỏ ngầu nhìn thấy bóng người lao tới, liền vung thanh đoản đao rỉ sét lên toan chém ngang ống chân Lý Quân. Lý Quân không thèm né tránh. Hắn sải bước đạp thẳng lên cổ tay bọc thép của tên giặc!
— RẮC!
Cổ tay sắt rỉ của cỗ thi khôi bị một cước nặng ngàn cân giẫm nát bấy, thanh đoản đao văng ra xa cắm phập vào vách đá. Cùng lúc đó, mũi kiếm Long Văn trong tay Lý Quân đã đâm thẳng xuống!
— PHẬP!
Mũi kiếm đồng cổ chém sắt như chém bùn, đâm xuyên qua tấm giáp ngực bằng hàn thiết, ghim chặt viên hắc tinh thạch ma đạo — tâm mạch điều khiển thi khôi — nghiền nát thành bột mịn! Đốm lửa đỏ trong hốc mắt tên giặc bỗng chốc tắt ngấm. Thân hình to lớn của nó co giật dữ dội một nhịp rồi duỗi thẳng ra, hoàn toàn hóa thành một đống sắt vụn bất động. Một tên!
Lý Quân rút kiếm ra, bước chân thoăn thoắt lướt sang cỗ thi khôi thứ hai. Kiếm pháp của hắn không hoa mỹ, không chiêu thức rườm rà của các tiên môn kiếm phái. Đó là kiếm pháp sinh tử được tôi luyện qua hàng ngàn giờ lặn ngụp bắt cá dưới đáy xoáy nước sông Mã, là những nhát chém gãy gọn, thực dụng của kẻ bần nông cầm dao phạt bờ bẻ củi! Mỗi bước chân lướt qua là một nhát kiếm đâm trúng tim, một đường kiếm chém đứt khớp cổ.
Phập! Phập! Xoẹt! Tiếng kim loại bị chẻ đôi, tiếng tinh thạch vỡ vụn vang lên giòn giã giữa làn khói độc. Mười ba cỗ thi khôi còn lại dẫu có sức mạnh tương đương tu sĩ Luyện Khí trung kỳ, nhưng khi đã bị bẫy phù vỏ điệp và nước vôi sôi làm tê liệt toàn bộ khớp nối, chúng chẳng khác nào những tấm bia thịt nằm chờ chết! Chỉ trong vòng nửa tuần trà ngắn ngủi, khúc hẻm Ma Nương lại chìm vào sự im lặng tuyệt đối. Mười bốn cỗ thiết kỵ thi khôi cùng tên đao phủ Trúc Cơ tầng 4 đã bị tiêu diệt sạch sẽ, không một tên nào kịp phát ra tín hiệu cầu cứu hay bắn một mũi tên lệnh lên trời!
Gió núi thổi qua hẻm sâu, xua tan dần lớp khói độc màu xanh lam, để lộ bãi chiến trường ngổn ngang xác sắt vụn và bùn lầy loang lổ máu đen tanh tưởi. Lý Quân đứng giữa bãi chiến trường, lồng ngực phập phồng nhẹ nhàng, hơi thở vẫn trầm ổn, sâu lắng như mặt hồ phẳng lặng. Hắn vung nhẹ thanh Long Văn Kiếm, giọt máu đen dính trên mũi kiếm trượt dài rồi rơi tọt xuống bùn, trả lại mặt đồng thau sáng bóng sạch bóng không tì vết. Hắn tra kiếm vào bao gỗ mộc sau hông, phát ra tiếng "cạch" đanh gọn. Bây giờ là lúc thu dọn chiến trường — tác phong muôn đời của người con bần nông tiết kiệm, chắt chiu từng hạt gạo, từng cọng rơm!
Lý Quân xắn cao gấu quần vải thô lên tận đùi, lội bì bõm dưới làn nước suối cạn. Trước tiên, hắn bước tới xác tên đao phủ Trúc Cơ tầng 4. Hắn rút mũi tên gỗ bồ đề bọc đồng thau cắm nơi cuống họng tên giặc ra, đưa lên vạt cỏ lau khô chùi sạch vết máu và tro tàn, cẩn thận nhét lại vào ống tên sau lưng. Mũi tên này còn tốt, ngọn đồng thau chưa hề mẻ, đem về quấn thêm giẻ tẩm Dầu Tràm U Minh là lại đoạt mạng thêm một tên giặc nữa! Tiếp đó, hắn tháo chiếc túi trữ vật bằng da cá nhám đen bên hông tên đao phủ xuống.
Dùng thần thức Kim Đan khẽ quét qua một lượt, Lý Quân dễ dàng phá tan cấm chế sơ sài của đối phương. Bên trong túi trữ vật có sáu mươi lăm khối hạ phẩm linh thạch tỏa ra linh khí lành lạnh, ba bình đan dược bồi bổ chân khí của phương Bắc, hai tấm bản đồ da thú đánh dấu chi tiết hệ thống sông ngòi vùng biên ải Cao Bằng, và một xấp bùa chú cấp thấp.
— Thu hoạch không tệ...
Lý Quân khẽ gật đầu, nhét toàn bộ linh thạch và bản đồ vào túi trữ vật của mình, còn ba bình đan dược phương Bắc hắn cẩn thận cất riêng vào một góc gùi mây — thứ này đem về chia cho thương binh tàn quân của Hùng Thiệu thì quý giá không gì bằng. Chưa dừng lại ở đó, Lý Quân rút thanh dao găm bằng thép đen bên hông ra, thoăn thoắt cạy lấy những thanh hàn băng thiết còn nguyên vẹn trên giáp ngực của mười bốn cỗ thi khôi. Những thanh sắt lạnh này được tôi rèn từ khoáng thạch phương Bắc, cứng cáp vô cùng, đem về cắm chìm dưới lòng sông làm cọc nhọn đâm thủng đáy thuyền giặc thì sắc bén chẳng kém gì thép tôi Sóc Sơn!
Sau khi gom được hơn ba chục thanh thép lạnh bó tròn lại nhét vào đáy gùi, Lý Quân lấy từ túi vải ra một nắm bột vôi sống trộn lẫn tro bếp rơm rạ khô giòn. Hắn rải đều bột tro và vôi lên khắp các thi thể thi khôi và vũng máu đen tanh tưởi. Vôi sống hút sạch mùi tanh nồng của máu và thi khí, tro bếp phủ lên xóa sạch toàn bộ dấu vết cháy sém của bẫy phù chu sa. Chỉ cần một cơn mưa rừng đổ xuống chiều nay, hoặc nước suối dâng cao vài tấc, toàn bộ hẻm Ma Nương sẽ lại trở về với vẻ hoang sơ, tịch mịch ngàn năm của nó, dẫu có là đại tu sĩ Nguyên Anh kỳ của giặc đi ngang qua cũng khó lòng nhận ra nơi đây từng diễn ra một trận tuyệt sát đẫm máu!
— Xong rồi. Đi thôi, Hắc Tí.
Lý Quân vỗ nhẹ vào vạt áo. Chuột Hắc Tí lập tức chui tọt vào túi áo trong, ấm áp cuộn tròn lại. Lý Quân kéo thấp vành Nón Lá Lưu Ly xuống che khuất nửa khuôn mặt phong trần, vác chiếc gùi mây nặng trĩu trên lưng, xoay người sải bước rời khỏi hẻm Ma Nương. Bóng áo nâu của hắn thoắt ẩn thoắt hiện giữa rặng sa mộc mịt mù sương muối, lặng lẽ xuôi về phía nam — nơi đoàn dân tị nạn vừa vượt qua cửa tử trong bình an. Một trận du kích mở màn hoàn hảo! Không kèn không trống, không tốn một binh một tốt, nhưng chiếc thòng lọng tử thần của non sông cõi Nam đã bắt đầu siết chặt vào cổ họng lũ giặc cuồng bạo!
THƠ KẾT CHƯƠNG:
Rừng sâu khói tỏa mịt mùng sương,
Bẫy rải khe sâu chặn nẻo đường.
Vỏ điệp gieo sầu tan giáp sắt,
Nước vôi sôi nhiệt bẻ đao cương.
Bần nông mưu trí ghìm chân ngựa,
Áo vải kiên cường đuổi giặc vương.
Chẳng mượn hào danh khoe chiến tích,
Âm thầm gánh thuốc giữ biên cương!