CHƯƠNG 39: LỚP THỨ HAI
Trần Phàm không tiến vào phế tích ngay trong buổi tối đó, dù cảm giác về dao động lạ vẫn còn vương lại trong tâm trí hắn, một sự hấp dẫn mơ hồ mà chính hắn cũng chưa thể giải thích rõ ràng. Hắn lùi lại một quãng đường, tìm tới một vách đá nhô ra tự nhiên cách khu vực phế tích vài trăm bước, tạo thành một mái che đủ để tránh sương đêm, rồi ngồi xuống đó, không khởi động bất cứ trận đồ nào, chỉ nghỉ ngơi theo cách đơn giản nhất.
Đây không phải là một quyết định xuất phát từ sự sợ hãi. Trần Phàm hiểu rõ sự khác biệt giữa cẩn trọng và khiếp nhược, và hắn đã sống đủ lâu với những quyết định mang tính sống còn để biết rằng một nguyên tắc đơn giản, gần như bản năng, luôn đáng được tuân theo: không bao giờ bước vào một nơi xa lạ và nguy hiểm trong bóng tối nếu có thể chờ tới khi có ánh sáng ban ngày để quan sát rõ hơn. Bóng tối không chỉ che giấu nguy hiểm từ môi trường xung quanh, nó còn làm giảm khả năng quan sát và phân tích của chính hắn, hai thứ mà Trần Phàm coi là vũ khí quan trọng nhất của mình, quan trọng hơn bất cứ sức mạnh chiến đấu nào hắn có thể có ở Luyện Khí tầng sáu.
Hơn nữa, hắn cần thêm thời gian, không phải để nghỉ ngơi đơn thuần, mà để xử lý lại trong đầu toàn bộ những gì đã cảm ứng được từ buổi chiều - sắp xếp lại từng lớp trận pháp đã cảm nhận, từng đoạn cấu trúc Linh Tuyến đã dò theo được, ghép chúng lại thành một bức tranh tổng thể rõ ràng hơn trước khi tiếp tục bước tiếp theo.
Đêm đó, dưới mái đá tự nhiên, Trần Phàm ngồi yên trong bóng tối, không tu luyện theo cách thông thường, chỉ để cho tâm trí lặng lẽ làm việc, từng mảnh thông tin một, giống như cách hắn vẫn quen làm khi đối mặt với một mảnh trận bài phức tạp chưa từng gặp trước đây.
Sáng hôm sau, khi ánh nắng đầu tiên vừa kịp len qua những đám mây mỏng phía đông, Trần Phàm thu dọn chỗ nghỉ, ăn qua một phần lương khô còn lại, rồi bắt đầu một công việc đòi hỏi sự kiên nhẫn cao độ - đi vòng quanh toàn bộ chu vi của khu vực phế tích, đặt tay lên bức tường đá cổ tại nhiều điểm khác nhau, lặp lại quá trình cảm ứng linh khí mà hắn đã thực hiện một lần ở khe nứt phía tây vào ngày trước, nhưng lần này với một mục đích cụ thể hơn nhiều.
Hắn đang tìm kiếm một điểm mù trong lớp trận pháp thứ hai, lớp vẫn còn hoạt động đầy đủ chức năng, lớp đã ngăn cản tất cả những người trước đó.
Nguyên lý mà Trần Phàm dựa vào để tin rằng một điểm mù như vậy tồn tại không phải là một sự suy đoán mơ hồ, mà là một kết luận logic dựa trên chính những gì hắn đã học được qua nhiều năm nghiên cứu trận pháp. Bất cứ hệ thống trận pháp nào, dù được thiết kế tinh vi tới đâu, đều phụ thuộc vào một điều kiện tiên quyết - địa thế nơi nó được bố trí phải duy trì đúng như cấu trúc ban đầu khi trận pháp được khắc vào. Một khi địa thế đó thay đổi, dù chỉ là một sự thay đổi nhỏ, các đường Linh Tuyến vốn được thiết kế để khép kín hoàn toàn theo một mạch tuần hoàn liên tục có thể bị lệch khớp, tạo ra những khoảng hở nhỏ mà bản thân hệ thống không còn khả năng tự nhận biết hoặc tự sửa chữa.
Phế tích này đã trải qua một trận địa chấn cách đây không lâu, đủ để làm sụp một phần sườn đồi, lộ ra cả phần mái vòm đá đã từng bị che phủ suốt không biết bao nhiêu thế hệ. Một sự thay đổi địa thế lớn như vậy, gần như chắc chắn, sẽ tạo ra ít nhất một điểm mù nào đó trong hệ thống trận pháp đã hoạt động ổn định qua hàng trăm năm dựa trên một địa thế cố định trước đó.
Vấn đề chỉ còn là tìm ra đúng vị trí của điểm mù đó.
Trần Phàm đi chậm dọc theo chu vi phế tích, tay liên tục đặt lên những đoạn tường đá khác nhau, cảm nhận và so sánh, không bỏ qua bất cứ đoạn nào dù chỉ là một khoảng ngắn vài bước chân. Công việc này tiêu tốn gần hết cả buổi sáng, một quá trình tỉ mỉ và kiên nhẫn không khác gì những lần hắn từng kiểm tra hệ thống trận phòng thủ của Hàn Thị Trang dưới sự giám sát của Hàn Khinh Vân, chỉ khác là lần này, không có ai chỉ dẫn, không có sơ đồ tổng quát nào để tham khảo trước, hắn phải tự mình dựng lại toàn bộ cấu trúc chỉ từ những gì cảm nhận được qua từng điểm chạm.
Tới gần giữa buổi sáng, khi đã đi gần hết một nửa chu vi phế tích, Trần Phàm tới khu vực góc tây bắc, nơi một cột đá lớn, có lẽ từng là một phần của cấu trúc trụ chính đỡ mái vòm, đã bị đổ sập hoàn toàn, kéo theo một phần bức tường liền kề bị nghiêng lệch khỏi vị trí ban đầu.
Khi đặt tay lên đoạn tường bị lệch đó, Trần Phàm cảm nhận ngay một sự khác biệt rõ rệt so với những điểm khác hắn đã kiểm tra trước đó. Cấu trúc Linh Tuyến của lớp trận pháp thứ hai, vốn dĩ tạo thành một mạch tuần hoàn khép kín hoàn hảo ở những đoạn tường còn nguyên vẹn, tại đây lại bị đứt gãy ở một điểm, không hoàn toàn, chỉ là một sự lệch khớp nhỏ do chính bức tường đã bị xô lệch khỏi vị trí thiết kế ban đầu, kéo theo các đường Linh Tuyến khắc trên đó cũng bị kéo theo, không còn nối khớp chính xác với phần còn lại của hệ thống như nó đã từng vận hành.
Tại điểm này, có một khoảng hở nhỏ trong mạng lưới cảm ứng của trận pháp - không phải một lỗ hổng vật lý mà người có thể chui qua một cách dễ dàng, mà là một khoảng hở trong khả năng "nhìn thấy" của hệ thống, một điểm mà nếu một luồng linh khí với cường độ đủ thấp đi qua, nó có thể trượt qua mà không kích hoạt cơ chế phản ứng của toàn bộ trận pháp.
Trần Phàm hiểu ngay điều này có nghĩa là gì, và cũng hiểu ngay cái giá phải trả để khai thác được điểm mù này.
Để có thể đi qua khoảng hở đó mà không bị trận pháp phát hiện, hắn không thể duy trì linh lực của bản thân ở mức bình thường như khi đi lại tự nhiên. Hắn cần phải ép linh lực của mình xuống một mức cực thấp, gần như không vận hành, không phải tắt hoàn toàn - điều đó là bất khả đối với một người tu luyện đã đạt tới Luyện Khí tầng sáu, linh khí luôn tồn tại thường trực trong kinh mạch dù không chủ động sử dụng - mà là điều chỉnh tần số dao động của linh khí trong cơ thể xuống mức thấp nhất có thể đạt được, đủ để hệ thống trận pháp, vốn được thiết kế để phát hiện những dao động linh khí ở mức bình thường của một người tu luyện, không nhận ra sự hiện diện của hắn khi đi qua khoảng hở đó.
Đây là một kỹ thuật mà Trần Phàm chưa từng thực hiện trước đây, không có một tiền lệ cụ thể trong toàn bộ kinh nghiệm tu luyện của hắn. Nhưng nguyên lý nền tảng của nó, hắn nhận ra ngay khi nghĩ tới, lại rất gần với nguyên lý mà hắn đã dày công phát triển cho Ẩn Linh Trận - làm cho một dạng linh khí, vốn có cấu trúc và đặc tính riêng biệt, trở nên khó phân biệt với cái nền xung quanh, không phải bằng cách che giấu hoàn toàn, mà bằng cách điều chỉnh nó để hòa lẫn vào, không còn nổi bật theo cách có thể bị phát hiện.
Chỉ khác là lần này, đối tượng cần điều chỉnh không phải là linh khí từ một trận đồ bên ngoài cơ thể, mà chính là linh khí đang tồn tại trong kinh mạch của bản thân hắn, một thử thách khó hơn nhiều, bởi linh khí đó gắn liền trực tiếp với sự sống và sự ổn định của cơ thể hắn, không thể tùy tiện điều chỉnh mà không có rủi ro.
Trần Phàm ngồi xuống ngay tại vị trí đó, dành thêm gần một giờ để thử nghiệm cẩn thận, từng bước nhỏ một, ép linh lực của mình giảm dần xuống, theo dõi sát sao phản ứng của hệ thống trận pháp qua khả năng cảm ứng của chính mình, để tìm ra ngưỡng chính xác cần đạt được - không quá cao để vẫn bị trận pháp phát hiện, nhưng cũng không quá thấp tới mức gây ra những rủi ro không cần thiết cho sự ổn định của kinh mạch.
Sau nhiều lần điều chỉnh, cuối cùng hắn tìm được một mức cân bằng có thể chấp nhận được - linh lực trong cơ thể giảm xuống gần với mức của một người chưa từng bước vào con đường tu luyện, một trạng thái mà hắn cảm thấy yếu đuối, trống rỗng một cách kỳ lạ, nhưng vẫn nằm trong giới hạn an toàn, không gây tổn hại tới kinh mạch nếu duy trì trong một khoảng thời gian ngắn.
Trần Phàm đứng dậy, bước tới gần khoảng hở mà hắn đã xác định được, duy trì trạng thái linh lực ép xuống mức thấp nhất, từng bước chậm rãi tiến vào, chui qua phần khe hở giữa khối đá đổ và bức tường đã lệch.
Cảm giác khi đi qua lớp trận pháp đó không giống với bất cứ điều gì Trần Phàm từng trải nghiệm trước đây. Hắn cảm nhận một áp lực nhẹ bao quanh toàn thân, không đau đớn, nhưng có một sự cản trở rõ rệt, giống như đang lội qua một lớp màng nước dày, đặc hơn không khí thông thường rất nhiều, mỗi bước chân đều phải dùng một lực lớn hơn bình thường để vượt qua sự cản trở đó.
Khoảnh khắc đó kéo dài chỉ vài giây, rồi đột nhiên, áp lực biến mất hoàn toàn, để lại một cảm giác thông suốt, như vừa bước ra khỏi một lớp màng vô hình sang một không gian hoàn toàn khác.
Trần Phàm dừng lại, đứng yên một lúc, kiểm tra lại trạng thái cơ thể mình. Không có dấu hiệu của bất cứ tổn hại nào. Hắn đã đi qua được.
Hắn dần khôi phục lại linh lực về mức bình thường, không cần phải duy trì trạng thái ép xuống đó nữa khi đã ở bên trong lớp trận pháp thứ hai, rồi bắt đầu quan sát xung quanh.
Không khí bên trong phế tích khác hẳn so với bên ngoài, nặng hơn, đặc hơn, mang theo một mùi vị lạ mà Trần Phàm chưa từng gặp - không phải mùi đất ẩm thông thường, không phải mùi xác chết phân hủy như hắn lo sợ có thể tồn tại ở một nơi đã chứng kiến nhiều người mất tích, mà là một thứ mùi khó định nghĩa hơn, gợi lên cảm giác về một thứ gì đó đã ngừng hoạt động từ rất lâu, đã bị bỏ quên, đã không còn được tiếp xúc với không khí trong lành của thế giới bên ngoài qua không biết bao nhiêu năm tháng.
Kiến trúc bên trong, dù đã trải qua thời gian dài, vẫn giữ được một mức độ nguyên vẹn đáng kể so với những gì Trần Phàm dự đoán. Trần vòm đá thấp, đủ để một người trưởng thành đi qua mà không phải cúi đầu, dẫn vào một hành lang hẹp, kéo dài sâu hơn vào trong, mất hút trong bóng tối phía trước. Ánh sáng duy nhất len lỏi vào không gian này là những vệt sáng mờ nhạt, lọt qua các khe nứt nhỏ trên trần đá, tạo thành những đốm sáng yếu ớt rải rác không đều trên mặt sàn.
Trần Phàm bắt đầu di chuyển vào sâu hơn, bước chân cẩn trọng, mắt và tai luôn cảnh giác với mọi sự thay đổi nhỏ nhất trong môi trường xung quanh, đồng thời vẫn duy trì khả năng cảm ứng linh khí ở mức nền tảng, để có thể nhận ra ngay nếu có một lớp trận pháp khác xuất hiện trên đường đi của mình.
Đi được khoảng năm mươi bước vào trong hành lang hẹp đó, Trần Phàm bắt đầu nhìn thấy những dấu vết khác, lần này không còn nằm ở rìa phế tích như những thanh kiếm gãy và bộ áo giáp rách hắn từng thấy bên ngoài, mà là những dấu vết để lại ngay trong chính không gian bên trong này, gần hơn với nơi mà những người trước đó đã thực sự trải qua những giây phút cuối cùng của họ trước khi biến mất.
Một túi vải đã bị xé rách nằm vương trên mặt sàn đá, một số vật dụng nhỏ đã rơi ra ngoài, nằm rải rác xung quanh. Cách đó không xa, vài viên trận phù đã được sử dụng hết năng lượng, lớp giấy đã cháy xém một phần ở góc, nằm lăn lóc trên sàn, dấu hiệu của một người đã từng kích hoạt chúng trong một khoảnh khắc hoảng loạn, cố gắng tìm một phương án bảo vệ bản thân trước một nguy cơ mà họ không thể hiểu hay đối phó.
Và gần đó, trên một đoạn tường đá thấp gần lối đi, một dấu vết khác khiến Trần Phàm dừng bước hoàn toàn, đứng yên một lúc lâu hơn bất cứ điều gì hắn đã quan sát trước đó trong suốt cuộc hành trình này.
Một dấu tay cào trên đá, rõ ràng tới mức không thể nhầm lẫn - bốn vệt dài song song với nhau, dấu vết của bốn ngón tay đã cào mạnh vào bề mặt đá cứng, để lại những đường rạch nông nhưng đủ sâu để khắc ghi lại một khoảnh khắc tuyệt vọng nào đó đã từng xảy ra tại chính nơi này.
Trần Phàm đứng yên trước dấu tay đó một lúc, không nói gì, không có một âm thanh nào thoát ra khỏi miệng hắn trong khoảnh khắc đó.
Bốn vệt cào trên đá kể lại một câu chuyện mà hắn không cần phải tận mắt chứng kiến mới có thể hiểu được - một người, có thể là chủ nhân của túi vải rách hoặc những viên trận phù đã cháy nằm gần đó, đã từng đứng ở chính nơi này, đã cố gắng tìm đường quay lại lối ra, đã đặt tay lên bức tường này trong một khoảnh khắc hoảng loạn cùng cực, cào mạnh vào đá như một phản xạ cuối cùng của cơ thể trước khi nhận ra mình không còn có thể tìm được đường thoát.
Người đó đã không trở về. Trần Phàm hiểu rõ điều này, không cần một bằng chứng cụ thể nào khác ngoài chính sự tồn tại của dấu vết này, và sự vắng mặt hoàn toàn của bất cứ ai còn sống trong toàn bộ khu vực bên trong phế tích này.
Hắn không cảm thấy vô cảm trước dấu tích đó, không phải là một sự thờ ơ lạnh lùng trước một bi kịch của người khác. Nhưng cùng lúc đó, Trần Phàm cũng hiểu rằng việc đứng yên thương cảm trước một dấu vết đã xảy ra không thể thay đổi được gì, không thể giúp được người đã mất, và quan trọng hơn, không giúp hắn tránh được số phận tương tự nếu hắn không tiếp tục tiến lên với một sự cẩn trọng và hiểu biết đủ tốt hơn so với người đã từng đứng tại chính nơi này.
Sự khác biệt giữa hắn và người đã để lại dấu tay đó, Trần Phàm tự nhận thức một cách rõ ràng, không nằm ở sức mạnh chiến đấu, không nằm ở vận may, mà nằm ở một điều đơn giản hơn nhiều - người kia, rất có thể, đã tiến vào phế tích này mà không hiểu trận pháp đang giam giữ họ hoạt động theo nguyên lý gì, không có cách nào để phân tích hay đối phó với một nguy cơ mà họ không thể nhận thức được bằng mắt thường hay bằng sức mạnh linh lực thuần túy.
Còn Trần Phàm, dù chưa hiểu toàn bộ, dù vẫn còn rất nhiều lớp trận pháp phức tạp phía trước chưa được giải mã hoàn toàn, ít nhất đã hiểu được một phần - đủ để tìm ra điểm mù trong lớp trận thứ hai, đủ để vượt qua nó một cách an toàn mà không cần phải đối đầu trực diện với toàn bộ sức mạnh của hệ thống đó.
Hắn quay người, tiếp tục bước đi sâu hơn vào trong hành lang tối, để lại phía sau dấu tay cào trên đá, không quay đầu nhìn lại lần nào nữa, nhưng cũng không quên nó, giữ nó trong tâm trí như một lời nhắc nhở thầm lặng về cái giá thực sự của sự thiếu hiểu biết trong một nơi như thế này.