Khi tiếng trống đầu ngày vang trên thành, tro từ phường gốm vẫn còn trong tóc Thanh.
Nàng chỉ kịp rửa mặt ở giếng sân trong rồi cùng Hùng đi về điện chầu, chân vẫn hơi khập khiễng. Mảnh gốm lấy từ chân cầu được bọc lại trong vải. Chiếc muỗng giữ giống, cây cọc bến và tấm ván than của phường gốm đều ở nguyên nơi chúng thuộc về. Hai người chỉ mang theo bản dập, các bản vẽ lại, những thẻ ghi lời chứng và một bó dây nhỏ buộc theo các nút Mộc đã dạy.
Bốn dấu vết đến từ bốn nơi không giống nhau: kho lương, nhà giữ giống, bến nước và lò gốm. Mỗi lần Hùng đặt chúng cạnh nhau, vài nét lặp lại hiện rõ hơn. Chưa thể nói chúng thuộc cùng một gốc; chỉ có thể nói chúng đã bắt đầu đặt ra một câu hỏi chung.
Hùng ôm chiếc hòm gỗ thấp, tì nó vào bên vai lành. Thanh giữ chồng thẻ trước ngực. Cả hai đều không nói đến ba phiến đất còn nằm trong lò nứt.
Sân điện vừa được tưới nước. Những viên đá lát còn sẫm màu, phản chiếu chân các quan đang đi vào. Áo của họ chia thành từng mảng màu theo chức phận; số lông chim trên mũ nói rõ thứ bậc hơn mọi lời giới thiệu. Nhìn qua cửa điện mở rộng, ghế của hàng quan kho lương áo nâu sẫm xếp cùng phía với quan coi thủy lộ. Ghế của hàng công tượng áo xám ở phía bên kia. Giữa hai dãy ghế gỗ là khoảng trống rộng dẫn lên những bậc cao, nơi đặt ngai đồng của vua.
Mỗi người giữ một phần việc riêng. Kho lương biết hạt, thủy lộ biết nước, công tượng biết đất và lửa; không ai quen nhìn xuống nơi công việc của họ chạm vào nhau. Khoảng trống giữa hai dãy ghế vì thế rộng và sạch. Nhưng những thứ Hùng đang ôm trong hòm cho thấy cái ranh ấy không kín như người ta tưởng.
Hùng dừng trước bậc điện. Tay chàng lạnh, dù nắng đã lên.
“Bậu còn mùi khói.”
Thanh không nhìn chàng. “Bậu cũng còn bùn ở gấu áo.”
“Qua có nên thay không?”
“Thay rồi thì những người trong kia sẽ dễ quên chúng ta vừa từ đâu tới.” Nàng liếc sang, thấy yết hầu chàng trượt lên trượt xuống. “Bậu run à?”
“Run.” Chàng cười méo. “Ở bến cũ qua chỉ sợ một đêm gáo khô. Ở đây qua sợ nói sai một câu trước mặt cả đình.”
“Thì cứ nói điều mình thấy. Chỗ nào chưa biết thì bảo chưa biết.” Nàng bước lên trước một bậc. “Qua đứng ngay cạnh bậu.”
Hùng nhìn vệt bùn đã khô dưới áo, hít một hơi, rồi bước tiếp.
Trong điện, các quan đã ngồi vào ghế. Hùng đặt chiếc hòm xuống nền đá giữa hai dãy, Thanh để chồng thẻ lên nắp hòm. Tiếng trò chuyện thấp dần rồi tắt hẳn khi vua bước ra từ cửa bên.
Ông lên từng bậc, không vội. Trên đầu ông là chiếc mũ đồng sáng, ôm sát trán. Chính giữa mũ nổi lên một đĩa tròn khắc mặt trời nhiều tia, giống mặt trống thu nhỏ. Hai bên đĩa, hai chùm lông chim Lạc xòe cong lên như đôi cánh đang mở. Vợ vua đi sau ông nửa bước. Đến trước ngai đồng, vua dừng lại, quay mặt xuống điện.
Hai dãy ghế cùng đứng dậy.
“Kinh!”
Tiếng hô dội lên mái. Bàn tay trái mỗi người ôm lấy nắm tay phải, đưa lên ngang ngực; rồi cả điện cúi người, lưng nghiêng xuống, mắt nhìn nền đá. Hùng và Thanh cúi theo. Trong khoảng lặng ấy, Hùng chỉ nghe tiếng áo sột soạt và tiếng tim mình đập. Không ai thẳng lưng lên trước.
Vua nhìn một lượt từ đầu dãy đến cuối dãy, gật đầu, rồi ngồi xuống ngai.
“Các hầu ngồi.”
Vợ vua ngồi bên phải vua. Bà không ngồi ngang hàng với các quan, cũng không lùi hẳn sau rèm. Trước mặt bà có một khay thẻ riêng, nhưng chưa có viên lại nào cầm bút thay. Hùng không dám nhìn bà lâu. Ở đây, bà không phải người vẫn hay hỏi chàng đã ăn chưa.
Chỉ còn Hùng và Thanh đứng giữa điện. Hai người cúi người lần nữa.
“Thưa Kinh.”
Vua nhìn chiếc hòm dưới chân Hùng.
“Nghe nói hai người đi tìm một đường nước, rồi suýt làm sập một lò gốm.”
Có tiếng cười khẽ đâu đó trong hàng ghế. Thanh thấy máu dồn lên mặt, nhưng nàng đáp rành rọt:
“Thưa Kinh, lò đã nứt trước khi Tần đến. Người nghe lò của phường chỉ cách mở ống sau cho lửa thoát. Trưởng lò ra lệnh kéo người. Thợ trong phường tự tay đập vòm.” Nàng ngừng một nhịp. “Tần là người đã thúc họ làm thế. Một phần vai lò sập sau đó. Không ai đứng dưới.”
“Vật hai người tìm?”
“Chưa biết còn hay mất.”
Vài tiếng xì xào dậy lên trong hàng công tượng. Vua giơ tay, điện lại yên.
“Trình từ đầu.”
Thanh ôm lại chồng thẻ. Hùng quỳ một gối mở hòm. Bả vai chàng nhói lên khi cúi xuống. Chàng không lấy mảnh gốm ra trước. Thứ đầu tiên chàng bày lên án nhỏ giữa điện là một thẻ kho lương đã chép lại: việc trát khe tường đông ba tháng trước, ngày làm, số người. Bên cạnh nó, chàng đặt mảnh vẽ ba dấu đóng mở trên miệng ống gốm lão Cẩn đã tìm ra. Dấu thứ ba chàng đã vẽ lại, cho nó nằm nghiêng theo dòng như lời bà Lài.
Chàng không xếp chúng thành một hàng thẳng. Từ thẻ kho lương, chàng tỏa các dây nhỏ sang bản dập cán muỗng, dấu cọc bến và những nét than chép từ tấm ván phường gốm. Mỗi nhánh mang tên người đã tận mắt biết việc. Cách bày ấy khiến chiếc án giống một mặt đất bị rễ non đội lên: chưa thành cây, chưa đủ bền, nhưng không còn có thể coi từng đầu rễ là vật riêng biệt.
“Thưa Kinh, thẻ này ghi đủ việc trát khe: ngày nào, mấy người, hết bao nhiêu vữa.” Giọng Hùng lúc đầu hơi khàn, rồi vững dần. “Không dòng nào nhắc dưới khe ấy có một đường nước. Không ai ghi sai. Chỉ là không ai biết ở đó có thứ cần ghi.”
Chàng đặt xuống hai thẻ ghi cùng một tên giống, rồi hai nút dây khác nhau.
“Ở nhà giữ giống, hai dòng hạt được nhập chung vì cùng dáng, cùng tên. Một dòng phải hong gió rồi mới ngâm, một dòng thì ngâm ngay được. Cách đánh thức từng dòng nằm trong nút buộc. Người nhận bỏ dây đi, thẻ vẫn đủ tên, mà hạt thì hỏng ngay lần thử đầu.”
Thanh cúi mắt. Mấy hạt ấy là tay nàng ngâm.
Tiếp đó là bản dập dấu trên cọc bến, bốn hình chiếc gáo và bản chép lệnh sửa chân cầu.
“Ở bến cũ, lệnh sửa cầu đúng phép, nhưng đã bịt mất đường nước chìm. Sổ ghi cửa nước mặt, không ghi giếng thở với lượt nước đêm. Bên trên thừa nước, bên dưới mất ẩm. Hai phường suýt thành kẻ thù, vì mỗi bên chỉ thấy phần thiệt của mình.”
Cuối cùng, Hùng đặt lên án một mảnh ván mỏng. Thanh đã chép lại những nét than từ tấm ván ở phường gốm: cửa lửa, khe tro, ống sau và các đường nối giữa người nghe lò, người chia củi, người xếp chum.
“Ở lò gốm, cái biết không nằm trọn trong một người. Trưởng lò biết giữ mẻ, nhưng không nghe được phần dưới nền. Người nghe lò thì không đứng ở cửa lửa. Người cảm được hơi nóng lại không có quyền ngắt tay trưởng lò.” Chàng nhìn sang Thanh. “Khi mọi lời đều phải đi qua một miệng, thì lời báo nguy đến chậm hơn vết nứt.”
Vua hỏi:
“Công Tự Hùng muốn nói bốn việc ấy là một?”
Hùng dừng lại. Chàng biết cả điện đang chờ một chữ “phải”. Chữ ấy sẽ làm lời trình của chàng tròn trịa, và sẽ là một lời nói dối.
“Tần muốn nói chúng đứt ở cùng một chỗ.”
“Ta hỏi có phải một hay không.”
“...Tần chưa biết.”
Điện chầu im đến mức Thanh nghe được tiếng nước nhỏ từ mái hiên xuống chiếc máng đá ngoài sân.
Một vị quan đứng dậy từ hàng áo nâu sẫm, mũ có sáu lông. Ông tên Khâm, coi việc kho lương của cả thành, người đứng trên tất cả các quan giữ kho. Hùng nhận ra chức ấy trước cả gương mặt, và ngực chàng thắt lại. Thóc trong kho, khi đói, phát cho ai và không phát cho ai: người biết điều đó đang đứng ngay trước mặt chàng.
Chàng chưa hỏi. Hôm nay chàng đứng đây để bị hỏi. Nhưng câu chàng nợ một người đàn bà ở bờ bắc, từ giờ đã có một gương mặt để tìm đến.
Khâm cúi người về phía ngai.
“Bẩm Kinh, Tần xin hỏi Công Tự.” Ông quay sang Hùng, giọng không gay gắt, chỉ mỏi như người đã nghe quá nhiều lời trình. “Bản trình của người giữ kho phía đông đã tới tay ta. Ta không chối đường nước ấy có thật. Nhưng một đường nước bị quên khi sửa kho, một hòm giống ghi thiếu, một lệ bến không vào sổ, một lò gốm làm theo quen tay thợ. Những việc vụn như thế nơi nào chẳng có. Dựa vào đâu Công Tự gọi đó là cùng một chỗ đứt?”
Hùng đáp:
“Vì ở cả bốn nơi, cái biết vẫn còn, nhưng đã rời khỏi cách người ta cất giữ nó. Còn tên mà mất mối nối. Còn dấu mà mất người dùng. Còn luật mà mất cái nền cho luật sống.”
“Đó là lời Công Tự cắt nghĩa. Bằng cớ đâu cho thấy chúng từng chung một gốc?”
“Chưa có.”
“Có dấu nào cùng nghĩa?”
“Có vài hình gần nhau. Nhưng tôi chưa dám nói chắc là cùng nghĩa.”
“Có ai đọc được trọn?”
“Không.”
“Có thẻ nào gọi tên cái gốc ấy?”
“...Không.”
Mỗi tiếng “không” rơi xuống nền đá, to hơn chàng muốn. Hùng thấy mặt mình nóng dần. Chàng đã quen là người hỏi. Bị hỏi dồn giữa điện, trước mặt người chị của mẹ mình, là một cảm giác hoàn toàn khác.
Bên cạnh, Thanh xích lại nửa bước, vai gần chạm vai chàng. Nàng không nói gì. Nàng cũng chẳng có chữ “có” nào để đưa cho chàng.
Khâm quay về phía ngai.
“Bẩm Kinh, Tần chỉ thấy bốn chỗ sai riêng rẽ. Nếu vì bốn việc này mà bảo cái biết trong nước đã thất tán từ một gốc, e là lấy điều ngờ làm bằng cớ.”
Ông vừa ngồi xuống thì một vị quan áo xám ở hàng công tượng đã đứng lên. Ông tên Đào, coi việc đo lường và mẫu chuẩn trong thành, người gầy, nói nhanh, từng chữ gọn như đong bằng đấu.
“Bẩm Kinh, Tần lại cho rằng gỡ được việc này mà chẳng cần biết chúng có chung gốc hay không. Xin Kinh ban một mẫu sổ mới. Mọi phường phải ghi đủ vật dùng, thứ tự việc tay làm, giờ giấc và người gánh việc. Việc nào không vào sổ thì không được dùng trong kho công.”
Thanh ngẩng phắt lên.
“Nếu người thợ không biết đặt điều họ biết thành lời thì sao?”
Quan Đào quay sang nàng.
“Công Thị đã ghi được tiếng lò, nút dây và đường nước đấy thôi. Người khác cũng ghi được.”
“Tôi chỉ ghi được phần họ chỉ cho tôi. Áp một thanh gỗ xuống nền không biến người cầm nó thành người biết nghe lò.”
“Vậy càng phải buộc họ cắt nghĩa cho đến khi người chép hiểu.”
“Có những điều chỉ hiểu được sau khi làm!”
“Phép nước không thể trị bằng câu ‘phải làm mới biết’.”
Thanh không lùi. Nàng nghe giọng mình cao lên, và không ghìm.
“Phép nước cũng không thể giữ cái biết bằng cách cấm hết những gì mình chưa ghi nổi!”
Tiếng bàn tán nổi lên. Quan Đào sa mặt. Ông cúi người về phía ngai, nhưng lời nhắm thẳng vào Thanh.
“Bẩm Kinh, Công Thị đang đặt lời truyền miệng của thợ ngang với phép nước.”
“Không!” Thanh nói. “Tôi nói phép nước cần biết mình đang cắt bỏ thứ gì, khi ép mọi cái biết vào một kiểu sổ.”
Vua gõ một ngón tay lên tay ngai.
“Công Thị Thanh.”
Chỉ ba tiếng, không cao giọng. Thanh quay lại, cúi người.
“Thưa Kinh.”
“Công Thị Thanh đến đây để trình việc, không phải để thắng lời.”
Thanh khựng lại. Hai vành tai nàng nóng bừng, như buổi sáng làm gãy chiếc nia trước mặt cả gian nhà.
“...Tần hiểu.”
“Vậy hãy nói điều mình biết. Đừng nói điều mình muốn người khác thua.”
Thanh cúi đầu. Nàng hít một hơi dài, chờ cho ngực thôi đập dồn, rồi tháo bó dây nhỏ. Khi nói tiếp, giọng nàng đã bớt sắc.
“Xin Kinh cho phép Tần hỏi hầu Đào một việc.”
Vua gật.
Thanh đưa hai sợi dây cho viên lại đứng gần nhất.
“Xin buộc giúp hai nút này, theo hình vẽ trên thẻ.”
Viên lại làm rất nhanh. Hai nút trông gần giống nút Mộc đã dạy. Thanh cầm lên, kéo nhẹ. Nút thứ nhất tuột ngay. Nút thứ hai siết chết, không để lại đầu dây để tháo.
“Hình vẽ đúng từng nét,” nàng nói, lần này chậm rãi. “Nhưng tay buộc chưa biết lực. Dùng nút đầu cho túi giống thì nó bung giữa đường. Dùng nút sau thì người mở phải cắt dây, mất luôn dấu. Sổ giữ được hình. Sổ chưa giữ được bàn tay.”
Quan Đào đáp ngay:
“Vậy thì ghi cả độ dài đầu dây với số vòng quấn.”
“Rồi phải ghi dây ẩm hay khô, sợi gì, kéo mạnh chừng nào, lúc nào người buộc dừng tay.” Thanh lắc đầu, không còn gay gắt. “Ghi thêm thì không sai, thưa hầu. Nhưng càng ghi, người ta càng thấy một dòng chữ không thay hết được người làm.”
Quan Đào không đáp nữa. Ông cúi người về phía ngai rồi ngồi xuống.
Một quan già ở hàng cuối bật cười khẽ.
“Thế thì cứ giữ thợ ở nguyên phường, đừng đem cái biết đi đâu cả.”
Thanh quay sang ông.
“Khi người biết chết đi thì sao?”
“Dạy các ấu.”
“Nếu các ấu bị gọi đi nơi khác? Nếu phường tan vì lũ? Nếu một người giữ hết mà không chịu truyền?” Nàng thấy lại đôi bàn tay của Dọi. “Nếu người có tay nghề lại là một cô thợ trẻ, không được phép ngắt lời trưởng lò?”
Quan già không cười nữa.
Hùng đứng nghe, không chen lời. Cuộc bàn cãi đang tách làm hai phía: một bên muốn mọi điều thành sổ, bên kia muốn mọi nghề ở nguyên nơi cũ. Nhưng những gì họ thấy trong nửa tháng qua không đứng hẳn về phía nào. Chàng nghĩ tới bà Sên với thanh gỗ áp tai, tới lão Cẩn với hai dấu trọn và một dấu mất.
“Thưa Kinh,” chàng nói, “chỉ giữ người thì cái biết chết theo người. Chỉ giữ chữ thì cái biết mất cách dùng. Có lẽ thứ cần giữ là sợi nối giữa người, vật, nơi chốn và cách thử.”
Quan Khâm vẫn ngồi tại ghế, hỏi sang:
“Sợi nối ấy ở đâu?”
Hùng nhìn những vật trên án. Chàng ước gì mình có một câu trả lời đẹp.
“Đó là điều tôi chưa biết gọi tên.”
“Lại chưa biết.”
“Dạ.”
Quan Khâm thở ra. Vài người mỉm cười vì Hùng đã tự làm yếu lời trình của mình. Vài người khác tránh nhìn chàng, như sợ ba chữ “chưa biết” ấy sẽ buộc họ xem lại chính những chồng thẻ dưới quyền.
Hùng đứng yên, cổ nóng ran. Chàng thấy rõ từng nụ cười. Chàng nhớ lão Cẩn, nửa tháng trước, cũng đứng giữa một sân kho đầy người đang chờ một lời chắc mà nói hai tiếng “không chắc”. Hồi ấy chàng nghe tiếng thở dài sau lưng, vậy mà vẫn thấy hai tiếng đó đáng tin hơn mọi lời chắc chắn. Giờ đến lượt chàng nói, mới biết nó nặng thế nào.
Vua ngồi yên.
Sau lưng ông, những cột gỗ lớn chống mái điện vươn thẳng lên, cột nọ cách cột kia một khoảng đều. Nhìn từ trong điện, chúng đứng riêng rẽ, sạch sẽ và có trật tự. Thanh chợt thấy cách sắp đặt ấy giống hai dãy ghế trước mặt: phần nào cũng rõ chỗ của mình, nhưng không cho thấy điều gì đang nối chúng lại.
Vua hỏi:
“Nếu ta cho rằng đây chỉ là bốn việc riêng, thì sẽ ra sao?”
Hùng đáp:
“Đình Kinh sẽ sửa từng việc. Kho mở lại đường nước. Nhà giữ giống giữ nút dây. Bến cũ ghi lệ nước đêm. Phường gốm sửa lò.” Chàng nuốt khan. “Nhưng ở nơi thứ năm, một cái biết khác vẫn có thể mất, vì không ai nhận ra chỗ đứt.”
“Nếu ta cho rằng tất cả cùng một gốc?”
“Thì đình Kinh có thể ép những điều chẳng dính gì nhau vào một lời giải. Khi ấy, bằng cớ nào trái ý cũng bị gạt đi.”
“Vậy tin hay không tin đều có thể làm sai.”
“Dạ.”
“Công Tự Hùng xin ta làm gì?”
Hùng nhìn Thanh. Đây là câu họ chưa bàn trên đường đến điện. Họ đã sửa soạn những gì tìm thấy, những gì chưa biết, cả những lời bác có thể gặp. Nhưng không ai trong hai người dám định thay vua rằng phải làm gì với một điều ngờ chưa thành hình.
“Tần xin Kinh cho thêm ngày giờ để dò cho rõ,” chàng nói.
Quan Khâm lập tức hỏi:
“Dò ở đâu? Bốn nơi ấy Công Tự đều đã xem tận mắt.”
Hùng không đáp ngay. Chàng mở miệng, rồi khép lại.
Thanh hiểu điều chàng vừa nhận ra. Trong thành, mọi manh mối đã đi qua kho công, nhà giữ giống, bến có quan xét và phường làm hàng cho các kho. Chúng đều nằm gần nơi thẻ được lập, luật được ban, và người có quyền có thể được gọi đến trong một buổi. Muốn biết chỗ đứt có lan xa hơn hay không, họ không thể tiếp tục đi vòng quanh cùng một nền thành.
Nàng nói:
“Phải ra ngoài thành.”
Hai dãy ghế lại động.
Vua nhìn nàng.
“Đi đâu?”
“...Tần chưa biết.”
Lần này tiếng cười bật ra rõ hơn. Thanh siết chồng thẻ đến trắng khớp ngón tay, nhưng nàng không nói thêm câu nào để chữa. Quan Đào không cười. Ông ngồi nguyên tại ghế, nói như người đang đo một tấm vải lệch khổ:
“Hai người xin rời thành để tìm một thứ chưa gọi được tên, ở một nơi chưa biết là đâu. Đó không phải việc đình Kinh giao được.”
“Đúng,” Thanh đáp.
Quan Đào chớp mắt. Ông đã chờ nàng cãi.
“Nếu giao theo cách ấy,” nàng nói tiếp, “thì không ai biết chúng tôi được phép làm gì, và phải trở về khi nào.”
“Vậy là Công Thị vừa tự bác lời xin của mình.”
“Tôi chỉ chưa muốn bịa ra một câu trả lời cho lời xin nghe có vẻ tròn.”
Vua nhìn hai người rất lâu. Ánh sáng ngoài sân đã lên cao, chiếu qua cửa điện thành một dải trắng trên nền. Đường sáng dừng trước chiếc án bày những bản dập, không chạm tới bậc ngai.
“Các hầu còn ai có lời?”
Người coi lễ cho rằng nếu cho phép dò hỏi lệ dân ngoài thành, các nơi sẽ nghĩ triều đình đang ngờ sổ sách của họ. Người coi đường nói một đoàn không có đích rõ sẽ tốn lương và người dẫn. Quan coi thủy lộ Phác, vừa từ bến cũ lên, mắt vẫn thâm, chỉ tâu một câu: nếu không có một đêm hoãn án, đường nước chìm đã bị khóa theo đúng luật.
Quan Khâm nhắc lại rằng một lần cứu được không chứng tỏ có cả một gốc thất truyền. Quan Phác nhận là đúng.
Không lời nào bác hẳn được lời nào.
Buổi chầu kéo qua lúc nắng đứng bóng. Cái gối đau của Thanh đã tê dại vì đứng lâu; nàng chuyển sức sang chân kia, không dám để ai thấy. Những thẻ trên khay viên lại dày lên, nhưng điều nằm giữa điện vẫn không có tên.
Vua ra hiệu ngừng.
“Ta nghe đủ điều các hầu biết rồi. Phần còn lại chỉ là các hầu sợ điều gì sẽ xảy ra nếu phía mình sai.”
Ông nhìn Hùng.
“Công Tự Hùng sợ chúng ta sửa bốn nơi rồi bỏ mất nơi thứ năm.”
“Dạ.”
Ông nhìn Thanh.
“Công Thị Thanh sợ một mẫu sổ mới sẽ cắt cái biết khỏi người giữ nó.”
“Dạ.”
Ông nhìn quan Khâm.
“Hầu Khâm sợ đình Kinh lấy điều ngờ làm sự thật.”
Khâm đứng dậy, cúi người.
“Bẩm Kinh, đúng.”
Ông nhìn quan Đào.
“Hầu Đào sợ thứ không đo được sẽ đứng ngoài phép.”
Đào cũng đứng dậy, cúi đầu.
“Tần không dám giấu.”
Vua chờ hai người ngồi lại rồi mới tì tay lên ngai. Giọng ông không nặng, chỉ như người vừa đếm xong một món.
“Nỗi sợ nào cũng có lý. Nhưng ghép bốn nỗi sợ lại vẫn không ra một lời đáp.”
Ông quay sang viên lại.
“Ghi rằng buổi chầu hôm nay chưa định được các dấu ấy có chung nguồn. Không được gọi chúng là một gốc đã mất. Cũng không được xếp lại như bốn việc đã xong.”
Viên lại chần chừ.
“Bẩm Kinh, vậy... xếp thẻ vào mục nào ạ?”
“Lập một mục chưa định.”
Viên lại cúi xuống, nhưng bút dừng trên thẻ. Trong kho của triều đình, mọi bó thẻ đều phải có tên để đặt lên giá. Một mục chưa định không có chỗ sẵn.
Vợ vua, từ đầu buổi gần như không nói, lấy bốn thẻ trắng trên khay của mình rồi bước xuống bậc, tới bên chiếc án.
Bà đặt một thẻ bên mảnh vẽ ba dấu, một thẻ bên nút dây, một thẻ bên dấu cọc và một thẻ bên đường lửa. Sau đó bà dùng sợi dây Thanh mang tới, luồn qua lỗ ở đầu cả bốn thẻ rồi buộc lại. Bàn tay bà làm việc ấy thong thả, quen thuộc, như người vẫn tự tay buộc đồ trong nhà.
“Chưa biết chúng cùng một gốc,” bà nói. “Nhưng đã biết đặt chúng cạnh nhau thì sinh ra một câu hỏi mà từng thẻ riêng không có.”
Quan Khâm đứng dậy, cúi người.
“Thưa Thị Kinh, ghép thẻ cũng có thể khiến người sau tưởng chúng đã được nhận là có dính nhau.”
“Vậy ghi bên ngoài: ghép để xét, chưa ghép thành nghĩa.”
Bà kéo nhẹ sợi dây. Nút giữ, nhưng không siết chết.
“Một câu hỏi cũng cần có chỗ để sống, trước khi có lời đáp.”
Vua nhìn bó thẻ trong tay bà.
“Mình cho rằng nên để hai người này ra ngoài thành?”
Vợ vua không nhìn Hùng trước khi trả lời.
“Mình ạ, nếu chỉ xét trong Phong Thành, họ sẽ tiếp tục tìm thấy những nhánh đã đi qua tay đình Kinh. Muốn biết phía dưới còn nối hay không, phải đến nơi đình Kinh chưa sửa hộ người dân mọi dấu vết.”
“Đi không đích?”
“Không. Đi với câu hỏi rõ, và quyền hẹp.”
Quan Khâm vừa ngồi xuống, quan Đào đã đứng dậy:
“Thưa Thị Kinh, ai định câu hỏi?”
“Hai người tìm thấy chỗ đứt phải nói họ cần dò điều gì. Các hầu định giới hạn, để họ không biến việc dò hỏi thành quyền nhúng tay. Kinh định có giao hay không.”
Quan Đào cúi người, ngồi xuống.
Hùng nhìn người chị của mẹ mình. Bà vẫn không nhìn lại. Nếu bà chỉ xin vua cho cháu đi, cả điện sẽ có cớ coi việc này là ân riêng. Bởi vậy, từng lời của bà đều đặt Thanh ngang với Hùng, và đặt cả hai dưới một giới hạn họ chưa được phép tự chọn. Chàng thấy cổ họng nghèn nghẹn. Bà đang che cho chàng bằng chính cái cách làm như không che.
Vua hỏi:
“Nếu họ trở về tay không?”
“Tay không sau khi đã biết cách tìm vẫn là có được một điều. Ít nhất đình Kinh sẽ không phải lấy nỗi sợ làm lệnh.”
Vua im lặng. Ngoài sân, gió lay tán những cây cổ thụ trồng dọc tường điện. Không ai nhìn thấy rễ chúng. Chỉ có những viên đá lát hơi nhô lên ở vài chỗ, đủ cho người tinh mắt biết bên dưới vẫn có thứ đang lớn và tìm đường gặp nhau.
Cuối cùng, vua nói:
“Chưa giao việc hôm nay.”
Hùng nghe hai dãy ghế phía sau cùng thở ra, người nhẹ nhõm, người thất vọng. Chính chàng cũng không biết mình thuộc bên nào.
Vua nói tiếp:
“Công Tự Hùng và Công Thị Thanh, trong ba ngày phải trình một bản định việc. Ghi rõ câu hỏi cần dò, nơi đầu tiên định đến, số người, số lương, cách lấy lời chứng, và những quyền hai người không được có.” Ông ngừng một nhịp. “Nếu bản ấy chỉ viết ‘đi tìm cái biết đã mất’, ta sẽ trả lại.”
Hùng cúi người hành lễ. Chàng im một nhịp trước khi đáp:
“Tần hiểu.”
Thanh cũng hành lễ. Giọng nàng thấp hơn:
“Tần xin nhận.”
“Hầu Khâm và hầu Đào sẽ cùng xét bản ấy.”
Lần này cả Hùng lẫn Thanh đều ngẩng phắt lên. Hai người bác họ mạnh nhất sẽ là người đọc giới hạn chuyến đi.
Vua thấy vẻ mặt ấy nhưng không đổi giọng. Chỉ có khóe mắt ông hơi nheo lại.
“Người đồng ý với hai người chỉ giúp lời xin dễ nghe. Người không tin mới buộc được nó đứng vững.”
Ông đứng dậy. Buổi chầu kết thúc mà không có lời nào nhận rằng cái biết kia thuộc về đâu, không có tên cho thứ đã đứt, cũng không có lệnh cho họ rời thành.
Chỉ có ba ngày.
• • •
Khi các quan đã ra gần hết, Thanh trở lại án giữa điện để thu các bản dập. Bó bốn thẻ vẫn nằm trước mặt vợ vua.
“Thưa Thị Kinh,” nàng nói, “nút ấy buộc đúng.”
Vợ vua nhìn sợi dây, và lần đầu trong buổi sáng, nét mặt bà mềm đi.
“Hồi nhỏ, người giữ túi thuốc dạy cho. Không phải nút của nhà giữ giống, nhưng nó để tháo được mà không cần cắt.”
“Ngài muốn giữ bó thẻ lại?”
“Không. Ta muốn viên lại tìm cho nó một chỗ không làm người sau lầm rằng câu hỏi đã thành lời đáp.”
Hùng bước đến. Trước mặt người khác, chàng vẫn cúi người hành lễ.
“Thưa Thị Kinh, vì sao ngài xin cho Tần và Công Thị Thanh đi?”
Bà nhìn chàng lúc ấy.
“Ta chưa xin cho hai người đi. Ta xin để hai người chứng tỏ mình biết phải đi làm gì.”
“Nếu bản định việc không được nhận?”
“Thì ở lại.”
Hùng nhìn theo những hàng quan đã khuất ngoài cửa điện, rồi mới thả lỏng vai. Chàng cười, bất lực.
“Ngài không nói được một câu dễ nghe hơn sao?”
“Ở đây ta là Thị Kinh. Công Tự Hùng đừng mong ta nói với Công Tự như Diêu nói với Ấu trong nhà.”
Nhưng mắt bà dừng trên bả vai chàng đang giữ lệch, lâu hơn một cái nhìn của vợ vua giữa điện.
Thanh cúi mắt để giấu một nụ cười.
Vợ vua quay sang nàng.
“Công Thị cũng đừng vội vui. Ba ngày không dài. Hầu Đào sẽ muốn mọi thứ thành thước. Hầu Khâm sẽ không nhận một mối nối chưa có bằng cớ. Công Thị phải nói cho rõ cách giữ lời dân, mà vẫn để người khác xét lại được.”
“Tần sẽ làm.”
“Còn một việc.”
“Xin ngài dạy.”
“Hôm nay Công Thị suýt biến buổi trình việc thành cuộc đấu với hầu Đào.” Giọng bà không nặng, nhưng thẳng. “Ra ngoài thành, người không tin Công Thị sẽ nhiều hơn. Nếu mỗi lần bị ngờ đều phải thắng một người, Công Thị sẽ không còn tai mà nghe những người khác.”
Thanh nhớ ba tiếng vua gọi tên nàng giữa điện. Nàng nhớ cả Mộc, người nàng đã trách nhầm vì bảy ngày ôm túi. Cái tật ấy không mới.
“Tần hiểu.”
“Hiểu trong điện dễ hơn làm ngoài đường.”
Vợ vua giao bó thẻ cho viên lại rồi rời đi.
Hùng và Thanh mang chiếc hòm xuống bậc điện. Nắng ngoài sân làm cả hai nheo mắt. Những gì họ trình lên không được gọi là đúng, cũng không bị phán là sai. Không ai ban cho họ lời đáp về các dấu, về nguồn gốc hay về nơi phải tìm.
Nhưng lần đầu tiên, chỗ thiếu một lời đáp không còn là khoảng trống để người ta lấp bằng điều tiện nhất.
Nó đã thành một việc phải làm.
Thanh hỏi:
“Ba ngày. Bậu định bắt đầu từ đâu?”
“Từ câu hầu Đào sẽ bác trước nhất.”
“Còn qua bắt đầu từ những điều chúng ta không được phép làm.”
Hùng nhìn nàng, ngạc nhiên.
“Bậu đã nghĩ tới giới hạn rồi cơ à?”
“Không khóa quyền trước thì chuyến đi sẽ biến chúng ta thành hạng người đến đâu cũng đòi mở kho, gọi dân, lấy vật.” Nàng nhăn mặt. “Qua đã thấy hạng người ấy để lại gì ở nhà giữ giống rồi.”
“Nhưng qua cần được xem sổ nghề.”
“Xem thì được. Xem không có nghĩa là được mang đi.”
“Bậu vừa bị nhắc là đừng cố thắng lời đấy.”
“Qua có thắng đâu. Qua đang nói điều qua biết.” Khóe môi nàng nhích lên. “Bậu thua là việc của bậu.”
Hùng bật cười, lần đầu từ lúc bước vào điện.
Hai người vừa đi qua sân vừa cãi nhau. Sau lưng họ, viên lại vẫn loay hoay tìm chỗ cho bó thẻ chưa định. Cuối cùng ông không đặt nó lên một giá riêng. Ông buộc nó dưới thanh ngang nối hai giá thẻ khác nhau, nơi không thuộc hẳn kho lương, thủy lộ, giữ giống hay công tượng.
Bó thẻ khuất dưới bóng gỗ.
Sợi dây mảnh giữ bốn đầu thẻ ở gần nhau, như những rễ non vừa chạm được nhau trong đất tối. Chưa ai biết chúng sẽ liền thành một mạch sống hay chỉ tình cờ vướng nhau dưới nền.
Muốn biết, họ không thể chỉ xem những dấu đã đi qua tay triều đình. Họ phải ra ngoài thành, tới nơi cái biết còn được nuôi bằng nghề, mùa và trí nhớ của người dân.
Nhưng từ hôm ấy, mỗi khi một viên lại cúi xuống lấy thẻ ở hai giá bên cạnh, người ấy đều phải nhìn thấy câu hỏi đang treo ở giữa.