Khi Hùng và Thanh đến bến cũ, bà Lài đã đứng ngoài sợi dây phân chỗ từ trước.
Bà không mang theo gì ngoài cây gậy đầu mòn. Những người của hai phường tránh bà như tránh một cọc mốc đã bị nhổ nhưng chưa ai dám vứt. Không ai xua đi, cũng không ai mời vào. Hùng gật đầu với bà từ xa. Bà không gật lại, chỉ nhìn chàng một thoáng, cái nhìn của người đã đến đúng hẹn và chờ xem bên kia có giữ lời.
Bến nằm ở chỗ con lạch gặp sông lớn. Ba bậc đá đầu đã chìm dưới phù sa, bậc thứ tư nứt đôi, cỏ mọc trong kẽ. Trên nền cao, người ta dựng một mái vải. Quan coi thủy lộ ngồi sau chiếc bàn thấp, hai viên lại đặt thẻ tre thành từng chồng bên cạnh. Phía trái là phường Thượng Lạch, gồm các nhà nhuộm và vườn ở đầu dòng. Phía phải là phường Hạ Bãi, nơi những ruộng rau, ruộng lúa và mấy xóm thuyền dựa vào phần nước còn lại.
Người Thượng Lạch mang theo một dải vải hỏng. Màu chàm trên đó nhạt thành từng quầng vì nước lạnh tràn vào đúng lúc bể đang giữ nóng. Với họ, nước không chỉ là thứ đổ vào bể; nó phải đến đúng lượng, đúng lúc, khi lửa dưới đáy được nuôi đều. Nóng quá thì màu cháy xỉn, non lửa thì màu không bám. Cả một mẻ vải sống hay chết trong khoảng rất hẹp giữa hai phía ấy.
Hùng dừng trước bàn, cúi người hành lễ.
“Thưa hầu, tôi đến theo lời mời để dự việc. Tôi không có chức xét xử.”
Quan coi thủy lộ tên Phác, người thấp, vai vuông, mắt thâm vì thiếu ngủ. Ông gật đầu, nhìn chàng như cân thử xem câu nói ấy thật đến đâu.
“Ta mời Công Tự vì đường nước dưới kho lương có thể nối với lạch này. Công Tự cứ ngồi nghe. Khi cần, ta sẽ hỏi.”
Thanh cũng hành lễ.
“Thưa hầu, tôi xin được ghi lời của những người làm nghề, nếu họ bằng lòng.”
“Công Thị được ghi.” Ông gõ một ngón tay lên chồng thẻ bên cạnh. “Nhưng nhớ cho, thẻ của hầu mới là án.”
“Tôi hiểu.”
Nàng đáp nhẹ nhàng, nhưng Hùng thấy nàng siết cây bút. Hai người ngồi sang bên. Từ chỗ ấy, Hùng vẫn nhìn thấy bà Lài ngoài dây. Bà chống gậy, mắt hướng xuống những bậc đá chìm, như vụ xử trước mặt không quan trọng bằng tiếng nước đang đi dưới chân mọi người.
Quan Phác gõ thanh lệnh lên bàn.
Người nói thay cho Thượng Lạch bước ra trước. Ông tên Độ, chính là người áo nâu đã đến lều bà Lài chiều qua. Độ trình ba thẻ tre có dấu của quan giữ phường và một bản đo bờ lạch lập từ sáu năm trước. Ông đặt từng thứ xuống ngay ngắn, tự tin như người biết mình có đủ thẻ, đủ dấu.
“Cửa chia nước nằm trên đất phường chúng tôi,” ông nói, rành rọt. “Người Thượng Lạch đã thay cọc, nạo bùn và góp gỗ sửa cửa suốt ba mùa. Đêm mười hai, người Hạ Bãi phá chốt, khiến nước tràn vào các bể nhuộm sai giờ. Chúng tôi xin buộc họ đền vải, trả gỗ, và từ nay cấm đụng vào cửa!”
Viên lại đọc điều luật: vật dẫn nước nằm trong ranh phường nào thì phường ấy chịu trách nhiệm giữ; người ngoài tự ý phá phải bồi hoàn.
Tiếng tán đồng nổi lên phía trái.
Người nói thay cho Hạ Bãi là một người đàn bà tên Hòe, nước da sạm và hai bàn tay nứt nẻ như đất ruộng. Bà không có bản đo. Bà đặt trước quan một bó rễ lúa khô, một nắm đất xám và bốn chiếc gáo cũ. So với chồng thẻ của Độ, mấy thứ ấy trông nghèo đến tội. Người áo xám hôm qua đứng ngay sau lưng bà, hai tay nắm chặt.
“Chúng tôi không nhận phá cửa,” bà nói, giọng khàn như người đã gào nhiều đêm. “Nhưng nếu có ai cạy chốt thật thì cũng vì ba lượt nước đã bị giữ lại. Giếng cạn. Rễ lúa khô trắng ra thế này. Đất ruộng bốc lên chỉ còn bụi.” Bà quay sang phía trái, mắt long lên. “Cửa nằm trên đất các người, phải. Nhưng nước có sinh ra từ đất các người đâu!”
Hùng nhớ tới một người đàn bà khác, đứng chống tay ở cửa nhà mình bên bờ bắc, hỏi chàng thóc trong kho có phần nhà bà không. Chàng đã hứa sẽ hỏi cho ra. Nửa tháng rồi, chàng vẫn chưa hỏi.
Quan Phác hỏi:
“Phường Hạ Bãi có thẻ chia nước không?”
“Không.”
“Có dấu hầu xác nhận lượt nước?”
“Không.”
“Vậy dựa vào đâu mà nói bị giữ ba lượt?”
Hòe giơ một chiếc gáo lên, tay run vì giận hay vì mệt, không ai rõ.
“Mỗi đêm chúng tôi đặt gáo ở bốn miệng rãnh. Trước đây, gà gáy lần hai là gáo đầy. Ba đêm nay, đáy gáo chỉ dính bùn.”
Một viên lại bật cười rất khẽ. Hòe nghe thấy. Mặt bà cứng lại, nhưng bà chỉ đặt chiếc gáo xuống, nhẹ tay như đặt một đứa trẻ.
“Luật không ghi lượt nước bằng tiếng gà,” quan Phác nói.
“Ruộng cũng chẳng chờ thẻ của hầu rồi mới héo!”
Phía Hạ Bãi ồn lên. Thanh nhìn viên lại đang chép. Trên thẻ, người ấy chỉ ghi: không có thẻ xác nhận; lấy tiếng gà làm giờ.
Nàng nghiêng sang Hùng, nói qua kẽ răng:
“Bậu thấy không? Viên lại bỏ mất bốn chiếc gáo rồi.”
“Cả bó rễ nữa,” Hùng nói. Chàng thấy ngực mình nóng lên. Lại một tấm thẻ rất đẹp, và một thứ sắp bị bỏ ngoài.
Quan Phác gọi người bị tố phá cửa. Một chàng trai gầy bước ra, cổ tay còn vết dây trói. Anh tên Sỏi, làm nghề đưa thuyền. Người Thượng Lạch nói có người thấy anh ở gần cửa nước lúc nửa đêm. Sỏi thừa nhận đã đi qua, nhưng một mực không nhận cạy chốt.
“Tôi nghe có nước dưới đá nên mới cúi xuống xem.” Sỏi siết hai bàn tay đang bị trói, giọng khàn đi. “Tôi thề, tôi còn chưa chạm vào cửa thì họ đã ập tới bắt!”
“Nước dưới đá nào?” quan hỏi.
Sỏi chỉ xuống bậc bến.
“Dưới nền này. Suốt bờ lạch có đường nước chìm.”
Độ cười lớn, quay nhìn đám đông như mời họ cười cùng.
“Có thì sao bản đo không ghi?”
“Bản đo mới có sáu năm!” Sỏi cãi lại, cổ nổi gân. “Đường nước có từ hồi Cội Tự tôi còn kéo thuyền kia!”
Quan Phác nhìn bản da. Trên đó, con lạch được vẽ bằng một nét xanh, từ đầu dòng qua cửa chia rồi tỏa thành năm rãnh. Không có đường nào dưới đất.
Ông ngẩng lên, tìm Hùng.
“Công Tự đã gặp đường nước chìm dưới kho. Theo Công Tự, lời này có đáng xét không?”
Mọi ánh mắt đổ về phía Hùng. Chàng nghe rõ sự im lặng của hai phường, mỗi bên đang chờ chàng nói thay cho mình.
Chàng không đứng lên ngay. Chàng muốn nói có. Chàng đã nghe tiếng nước dưới gốc sung, đã áp tai xuống đất. Nhưng nghe ở gốc sung không phải là thấy ở dưới bến này.
“Tôi chỉ biết dưới kho có một đường dẫn từng bị bản đồ bỏ sót,” chàng nói, chậm rãi. “Điều đó chưa đủ để nói dưới bến cũng có. Nhưng nó đủ để chúng ta đừng vội coi cái không được vẽ là cái không có.”
Độ lập tức quay sang chàng.
“Công Tự bênh họ vì hôm qua đã nghe Già Thị Lài!”
“Ta chưa nói ai đúng.”
“Vậy thì xin hầu cứ xử theo luật đã ghi!”
Quan Phác đặt tay lên thanh lệnh. Nếu án ban ngay, Sỏi sẽ phải bồi gỗ và bị phạt vì xâm cửa. Thượng Lạch sẽ được quyền khóa cửa, chỉ mở theo thẻ của phường. Mọi điều đều khớp với bản đo và điều luật. Sỏi nhìn bàn tay ấy, mặt cắt không còn giọt máu.
Ngoài dây, bà Lài cúi xuống áp đầu gậy vào bậc đá.
Thanh nhìn bà, rồi nhìn bó rễ lúa. Mười hai ngày ở nhà giữ giống đã dạy nàng nhìn một cái rễ. Rễ non không chết vì một buổi nắng. Đất phải mất ẩm từ trước khi mặt ruộng nứt. Nàng đứng bật dậy, quên cả cái gối đau.
“Thưa hầu! Xin cho tôi hỏi một điều trước khi định án.”
Quan Phác cau mày.
“Công Thị muốn hỏi ai?”
“Những người canh gáo.”
“Họ không có thẻ.”
“Chính vì không có thẻ nên lời của họ chưa nằm trong chồng án này.” Giọng nàng run nhẹ, nhưng nàng không lùi. “Chồng án thiếu một lời mà vẫn đem ra xử, thì có khác gì đong thóc bằng cái đấu thủng đáy.”
Quan im lặng. Viên lại bên cạnh ông trố mắt nhìn nàng. Sau cùng, ông cho gọi bốn người Hạ Bãi. Ba người đàn bà và một ông già bước ra, rụt rè như người lần đầu được hỏi. Họ không thống nhất giờ bằng tên canh. Người nói lúc gà gáy lần hai, người nói khi sao gần ngọn tre, người nói sau lúc thuyền cá đầu tiên qua bến. Nhưng cả bốn đều kể cùng một việc: nước không chảy ào trên mặt rãnh. Nó thấm từ vách đất, đầy gáo rất chậm và giữ đáy rãnh ẩm đến sáng.
“Vậy lượt nước ấy chưa từng đi qua cửa lớn?” Thanh hỏi.
“Chưa bao giờ,” người đàn bà lớn tuổi nhất đáp. “Cửa lớn mở ban ngày cho phường trên. Đêm thì nước rút xuống đường dưới, tìm đến chúng tôi.”
“Ai coi đường dưới?”
Bốn người cùng quay nhìn bà Lài.
Quan Phác thấy vậy nhưng không gọi bà. Ông hỏi viên lại xem sổ cũ có ghi nước đêm hay không. Ba cuộn thẻ được tháo ra. Chỉ có lượng gỗ sửa cửa, số ngày nạo bùn và lượt mở cửa ban ngày.
Độ cúi người trước bàn.
“Không có trong sổ. Xin hầu đừng để lời truyền miệng làm loạn phép!”
Hòe quay phắt lại.
“Chỉ thứ gì trong sổ mới được sống hay sao? Thế ruộng chúng tôi chết thì cũng là đúng phép à?”
Hai phía lại dậy tiếng. Quan Phác đập thanh lệnh xuống bàn.
Những lời buộc tội dồn vào nhau như hai dòng nước bị ép chung một miệng rãnh. Quan Phác càng muốn khép vụ việc bằng một lời phán nhanh, điều nằm khuất dưới bến càng dễ bị lấp thêm. Một tiếng “án” có thể làm đám đông im trước mặt ông, nhưng cũng có thể khóa luôn con đường đang âm thầm nuôi ruộng phía dưới.
“Im!”
Ông nhìn mặt trời. Triều đang xuống. Nếu hoãn, ông phải chịu trách nhiệm vì để cửa tranh chấp chưa khóa thêm một đêm. Nếu khóa theo luật, Hạ Bãi có thể mất nốt phần ẩm còn lại.
Từ ngoài dây, tiếng người hai phường đã bắt đầu dội vào nhau. Quan Phác day ngón tay lên thanh lệnh. Ông biết chỉ cần một người ném bùn trước, đám đông sẽ quên cả nước lẫn luật.
“Công Tự,” ông nói, và lần này trong giọng ông có cái mệt của người đang cần giúp. “Công Tự bảo đừng vội coi cái không được vẽ là cái không có. Vậy có cách nào thử cho rõ trước khi trời tối không?”
Hùng nhìn bà Lài ngoài dây. Hôm qua chàng đã hứa sẽ hỏi trước mặt mọi người. Chàng đứng dậy, nói to cho cả hai phường cùng nghe:
“Có. Hãy hỏi người từng giữ lệ gọi nước. Người ấy đang đứng ngay ngoài dây kia.”
Độ phản đối ngay, mặt đỏ lên.
“Ba năm trước người giữ phường đã gạt Già Thị Lài khỏi việc gọi nước, vì Già Thị không biết chữ trên thẻ!”
“Thẻ ấy tôi chưa thấy.” Thanh nói, và giọng nàng lạnh đi. “Nhưng người Hạ Bãi sống nhờ dòng nước dưới chân họ. Muốn biết lời nào đúng thì cứ mở đường nước ra mà thử.”
“Công Thị lấy gì làm chắc?”
“Tôi không dám chắc điều gì cả. Nhưng chưa hỏi, chưa thử mà đã gạt đi, thì chồng án này vẫn còn thiếu.”
Quan Phác day trán. Ông ngồi im lâu đến mức Hùng nghe được tiếng mái vải phần phật trong gió. Rồi ông bảo viên lại tháo dây ở một đoạn.
“Gọi Già Thị Lài vào. Chỉ hỏi việc dẫn nước, không hỏi cửa là của ai.”
Bà Lài bước qua dây mà không nhìn ai. Đến trước bàn, bà chống gậy, cúi người vừa đủ lễ, rồi đứng thẳng lên như một gốc cây khô.
“Già Thị nói có đường nước chìm?” quan hỏi.
“Có.”
“Cửa ở đâu?”
“Không có một cửa.”
Độ cười nhạt.
“Đấy. Lại lời nói không đo được.”
Bà Lài quay sang ông ta, thong thả như quay sang một đứa trẻ hỗn.
“Nước chìm không đi bằng cửa lớn. Nó đi qua ba giếng thở và một lớp sỏi dưới bến. Ban ngày mở dòng mặt. Chạng vạng đóng cửa cao, tháo bùn ở cửa thấp. Khi mặt lạch hạ một gang, nước tự ngấm vào lớp sỏi. Đến nửa đêm mới ra tới Hạ Bãi.” Bà gõ gậy xuống nền. “Đo được hết. Chỉ là không đo bằng thẻ.”
Quan Phác hỏi:
“Ba năm nay Già Thị không giữ cửa. Ai làm việc ấy?”
“Không ai.”
“Vậy sao trước năm nay Hạ Bãi vẫn có nước?”
“Vì đường dưới chưa bị bịt hẳn.”
“Ai bịt?”
Bà Lài chỉ cây cầu mới gia cố ở đầu bến. Chân cầu được trét kín bằng đất sét vàng để chống lún.
“Mùa trước họ đắp thêm chân cầu. Nước vẫn còn lách qua được. Tháng này phường Thượng Lạch nện đất lần nữa, lấp luôn giếng thở cuối cùng. Dòng dưới dội ngược, nước mặt dâng vào phường nhuộm, nước ngầm không xuống được Hạ Bãi.”
Hùng nhớ bể chàm bị tràn hôm qua, người thợ vạm vỡ với mẻ vải hỏng. Cùng một chỗ bịt đã sinh ra hai tai họa trái nhau: nơi trên thừa nước, nơi dưới khô hạn. Và cả hai nơi đều tưởng bên kia hại mình.
Độ đỏ mặt, lần đầu tiên nói vấp.
“Chúng tôi... chúng tôi gia cố cầu theo lệnh hầu! Đất sét do kho công cấp!”
Quan Phác quay sang viên lại. Lệnh sửa cầu có đủ dấu. Không ai ghi bên dưới chân cầu có giếng thở. Ông nhắm mắt một thoáng. Dấu trên lệnh ấy là dấu của chính ông.
“Có thử ngay được không?” ông hỏi.
Bà Lài lắc đầu.
“Mở giếng thở thì được. Muốn biết nước có xuống Hạ Bãi thì phải chờ. Dòng dưới không chạy như dòng mặt.”
“Bao lâu?”
“Đến khi trăng vượt ngọn sung.”
Độ kêu lên:
“Một vụ xử mà phải đợi lời trăng sao!”
Hòe siết bó rễ trong tay, siết đến mức mấy sợi rễ khô gãy vụn.
“Ruộng chúng tôi đã đợi ba đêm rồi. Các người đợi một đêm thì chết ai?”
Quan Phác nhìn Hùng. Chàng hiểu ông không xin một lời giải. Ông đang tìm người cùng gánh cái giá của sự trì hoãn. Chàng nuốt khan. Nếu đêm nay gáo vẫn khô, tên chàng sẽ nằm cạnh tên ông trong lời trách của cả hai phường.
Hùng đứng thẳng lên.
“Thưa hầu, tôi không thể xin hầu bỏ luật. Tôi chỉ xin hầu chưa đóng vụ xử, khi điều cần biết có thể thử ra trong một đêm.” Chàng hít một hơi. “Tôi sẽ ở lại đường nước cùng người của hai phường, suốt đêm. Công Thị Thanh ghi giờ, ghi chỗ và ghi lời chứng. Sáng mai, hầu có thể xét cả điều đã thử được.”
“Nếu đêm nay họ đánh nhau?”
“Xin hầu cử người giữ yên. Tôi không có quyền sai bầy lính của hầu.”
Quan Phác nhìn thẳng vào chàng, rồi bất ngờ mỉm cười, một nụ cười mệt mỏi.
“Ít nhất Công Tự còn nhớ mình không có quyền gì.”
Ông ra lệnh tạm niêm cửa lớn, không cho bên nào tự ý mở. Mỗi phường cử sáu người chứng kiến. Hai lính thủy lộ giữ chốt. Vụ xử hoãn đến sáng.
Độ không hài lòng. Hòe cũng không. Một bên sợ mất quyền đã nằm trong tay, bên kia sợ một đêm thử thất bại sẽ biến ruộng héo thành bằng chứng chống lại chính mình.
Thanh nói nhỏ với Hùng khi mọi người rời mái vải:
“Bậu để ý không? Chẳng ai cảm ơn bậu.”
“Vậy có lẽ qua chưa đứng hẳn về bên nào.”
“Hoặc là cả hai bên đều nghĩ bậu vừa làm họ chậm thêm một ngày.”
Hùng cười khẽ, rồi nụ cười tắt. Chàng hỏi, và lần này chàng hỏi thật:
“Còn bậu? Bậu có nghĩ thế không?”
Thanh nhìn mặt lạch lặng như một dải chì. Nàng nhớ hai hàng bát đất im lìm suốt một ngày trời, và mình đã đi qua đi lại trước chúng thế nào.
“Qua nghĩ có những thứ chỉ chịu hiện ra khi người ta chịu đợi.” Nàng khẽ chạm vào khuỷu tay chàng. “Qua đợi cùng bậu.”
• • •
Giếng thở cuối cùng nằm dưới một phiến kê chân cầu.
Người Thượng Lạch phải tháo ba hàng đất sét chính họ đã nện. Người Hạ Bãi đứng nhìn, lúc đầu hả hê ra mặt, nhưng bà Lài bắt họ xuống xúc bùn khỏi rãnh dưới.
“Nước của ai thì bùn của người ấy,” bà nói, gậy chỉ thẳng vào mấy người đang khoanh tay. “Không ai được đứng khô chân mà đòi người khác moi!”
Đến chiều muộn, họ mở được một lỗ nhỏ. Không có nước phun lên. Chỉ một luồng khí lạnh thoát ra, mang mùi sắt và rễ mục.
Độ khoanh tay.
“Hang chuột chứ gì nữa.”
Bà Lài áp gậy xuống phiến đá.
“Đợi.”
Họ đợi.
Thợ nhuộm đi đâu cũng mang nghề theo: người Thượng Lạch mang tới một bếp than nhỏ để giữ ấm nồi nước thử màu. Họ gạt than từng chút, che gió và thêm củi đúng lúc màu nước bắt đầu đổi. Người Hạ Bãi ngồi đối diện, thay nhau xuống bãi canh bốn chiếc gáo. Một bên nhìn mặt nước trong nồi, một bên chờ hơi ẩm dâng từ đất.
Mặt trời khuất sau mái thành. Muỗi bay dày trên lạch. Người hai phường ngồi cách nhau một khoảng, mỗi bên giữ đồ ăn của mình. Hùng đi xem chốt cùng lính thủy lộ, bả vai đau âm ỉ trong hơi sương. Thanh đặt bốn thẻ ghi giờ: khi tắt nắng, khi thuyền cá cuối cập bến, khi gà lên chuồng và khi trăng chạm ngọn sung. Nàng không ép những dấu giờ khác nhau thành một tên chung. Nhà giữ giống đã dạy nàng cái giá của việc ấy.
Ở Hạ Bãi, bốn chiếc gáo cũ được đặt vào miệng rãnh. Đáy gáo khô.
Qua một canh, người canh dưới bãi vẫn chưa gọi lên. Hòe ngồi ôm gối bên giếng thở, mắt không rời khoảng tối phía Hạ Bãi. Hùng ngồi xuống cách bà một quãng.
“Nếu gáo vẫn khô thì sao, Công Tự?” bà hỏi, không quay sang. Giọng bà không còn gay gắt như ban ngày, chỉ còn mỏi.
Hùng không muốn dối bà.
“Thì tôi sai, và sáng mai tôi sẽ đứng ra nhận điều ấy trước hầu.” Chàng cũng nhìn về phía ấy. “Tôi cũng đang sợ như Công Thị thôi.”
Hòe quay lại nhìn chàng, lâu, như lần đầu thấy một người trên thành biết sợ. Rồi bà đẩy về phía chàng nửa củ khoai nướng đã nguội, không nói gì.
Một lúc sau, đất sét quanh giếng thở bắt đầu sẫm màu. Không ai nói. Bà Lài lấy đầu gậy gạt nhẹ một hạt cát. Nó trượt vào khe rồi biến mất.
Độ cúi xuống. Lần đầu tiên ông không đứng thẳng khi nhìn nước.
Đến lúc trăng vừa vượt tán sung, một đứa trẻ từ Hạ Bãi chạy lên, thở không thành tiếng.
“Gáo... gáo... có nước!”
Mọi người kéo ùa xuống theo nó. Dòng rãnh vẫn không có tiếng chảy. Nhưng đáy chiếc gáo thứ nhất đã phủ một lớp nước mỏng, sáng lên dưới trăng. Chiếc thứ hai còn khô. Có người chực thò tay, bà Lài quát:
“Cấm chạm! Để yên cho nó đến.”
Hùng quỳ một gối xuống, đặt đầu ngón tay lên vách đất. Hơi ẩm đang bò ra từng chút, lạnh và bền. Nó không tràn qua mặt đất như nước ở phường nhuộm. Nó thấm từ dưới lên, gom trong những lỗ nhỏ không ai vẽ trên bản đồ. Chàng nhắm mắt, và thấy lại lớp tro sẫm dần bên chân tường kho lương.
Một lúc sau, chiếc gáo thứ hai ướt. Rồi chiếc thứ ba. Chiếc thứ tư, nằm cuối dòng, mãi gần sáng mới có nước.
Đêm ấy, hai phường cùng nhận ra điều ban ngày họ không chịu nghe: nước không chỉ đi qua cánh cửa lớn mà mắt người nhìn thấy. Có dòng phải men xuống lớp sỏi, lặng lẽ đi qua những khe thấp rồi mới trở lại nuôi rễ lúa.
Hòe ngồi bệt xuống bờ, dùng hai bàn tay che mặt. Vai bà rung lên. Không ai biết bà khóc vì ruộng còn đường sống, hay vì phải mất ba mùa cãi vã mới có người chịu nhìn đáy một chiếc gáo.
Thanh ngồi xuống cạnh Hòe nhưng không chạm vào bà. Nàng đặt bó rễ lúa đã khô sang một bên, nhường chỗ cho chiếc gáo vừa có nước. Hòe hạ một bàn tay, nhìn nàng, môi run lên mà không nói nổi lời cảm ơn. Thanh chỉ gật đầu. Nàng biết có những lúc lời nói là thừa.
Hùng quay về phía lạch. Nước chỉ phủ một lớp mỏng dưới đáy gáo, vậy mà sau lưng chàng, tiếng cãi đã lặng. Chàng thấy đầu gối mình bủn rủn, giờ mới dám nhận là suốt đêm mình đã sợ đến mức nào. Một lời phán chậm một đêm vẫn nhẹ hơn ba mùa ruộng chết mà không ai chịu hỏi vì sao.
Độ đứng nhìn chiếc gáo vừa có nước rất lâu. Rồi ông lặng lẽ đặt dải vải hỏng của phường mình xuống bên bó rễ khô. Hai thứ nằm cạnh nhau trên bờ đất, cùng hỏng vì một chỗ bịt.
Ông bước đến bên bà Lài. Khi cất tiếng, giọng ông không còn gay gắt như trước, mà gần như ngượng.
“Nếu đường dưới đã có từ trước... thì vì sao lệ này không còn trong sổ?”
“Đã từng được ghi.”
“Ở đâu?”
Bà chống gậy trở lại bến cũ. Dưới bậc đá thứ tư, nơi phù sa đóng dày, bà bảo mọi người đào ngang chứ không đào xuống. Sau một lúc, lưỡi cuốc chạm gỗ.
Họ kéo ra một cọc buộc thuyền đã mục quá nửa. Mặt trên trơn nhẵn, nhưng mặt nằm ép vào bờ còn những hàng dấu khắc: một vạch dài ở trên, một chuỗi chấm dưới thấp, giữa hai hàng là dấu móc cong quay đầu.
Hùng nhận ra nhịp dấu trên chiếc muỗng giữ giống. Không giống từng nét, nhưng cùng cách đặt nghĩa vào chỗ nằm. Chàng nhìn sang Thanh. Nàng đã thấy, và nàng khẽ lắc đầu: khoan gọi tên. Chàng mím môi, gật.
Bà Lài đặt bàn tay gầy lên thân cọc, nhẹ như chạm vào một người quen cũ.
“Dòng trên là nước mặt. Dòng dưới là nước chìm. Móc quay đầu nhắc đóng cửa cao để nước trở xuống lớp sỏi.” Giọng bà trầm xuống. “Cọc này từng nằm trước bàn xử. Mỗi lần chia nước, người giữ bến đặt tay lên nó mà nhắc: trên dùng trước, dưới nhận sau; người trước không được lấy hết phần của người sau.”
Quan Phác được đánh thức và gọi xuống bến khi trời còn mờ. Ông xem cọc gỗ rất lâu. Một viên lại già đi theo ông chợt nhớ trong kho án có nhóm thẻ mang tên “nước sau bến”, nhưng nhiều năm không ai hiểu nên đã xếp vào mục sửa thuyền.
Những thẻ ấy được mang tới. Chữ Khoa Đẩu trên thẻ mới hơn dấu cọc, chỉ còn chép các khoản góp sỏi, vét bùn và thay gáo. Không thẻ nào chép trọn lệ, nhưng khi đặt cạnh cọc, lời bà Lài và bốn chiếc gáo ướt, những phần rời bắt đầu giữ được nhau.
Quan Phác mở lại vụ xử ngay trên bậc đá.
Ông không tuyên người Thượng Lạch cố ý chiếm nước. Họ sửa cầu theo lệnh và không biết đã bịt giếng thở. Ông cũng không kết Sỏi tội phá cửa, vì lời chứng chỉ cho thấy anh có mặt gần đó, không ai thấy anh cạy chốt.
“Tháo dây cho Công Tự Sỏi,” ông nói. Rồi, khẽ hơn: “Lẽ ra phải tháo từ hôm qua.”
Viên lính tháo dây ở cổ tay Sỏi. Anh xoa vết hằn đỏ, nhìn sang Độ rồi lại cúi xuống.
Hai phường phải cùng sửa đường thấm; lượt nước mặt do Thượng Lạch giữ ban ngày, nhưng trước chạng vạng phải mở giếng thở và hạ mực lạch đúng dấu cọc. Mỗi lần làm có người của cả hai bên chứng kiến, cho đến khi lệ được ghi lại.
Nghe đến đó, không một lời trách móc, Sỏi bước tới nhặt chiếc xẻng xúc bùn. Hòe lặng lẽ nhường cho anh chỗ đứng bên rãnh.
Độ hỏi, vẫn cố vớt lại một điều:
“Vậy cửa vẫn thuộc phường chúng tôi chứ?”
“Cửa thuộc phần đất phường Thượng Lạch.” Quan Phác đáp, rành từng tiếng. “Nước không vì thế mà thuộc riêng phường Thượng Lạch.”
Hòe hỏi:
“Thế nếu họ lại bịt đường dưới?”
“Phường Hạ Bãi được quyền báo hầu, không được tự phá cửa. Nhưng từ nay phải đem theo gáo, dấu ẩm và người chứng.” Ông nhìn bà, không nặng lời. “Đừng chỉ mang tới cơn giận.”
Án không làm ai thắng trọn. Quan Phác ghi rõ số vải hỏng là do việc gia cố cầu theo lệnh công mà ra, rồi giao viên lại lập thẻ đền để trình kho công xét cấp. Hạ Bãi phải góp công nạo bùn, không được coi đường nước chìm là việc người khác phải nuôi giữ thay mình.
Quan Phác quay sang Hùng. Mắt ông còn thâm hơn hôm qua.
“Công Tự xin hoãn một đêm. Một đêm ấy cứu được vụ án.” Ông ngừng lại. “Nhưng không phải vụ nào cũng có trăng, có gáo và có người còn nhớ.”
“Vậy phải ghi cả cách chúng ta đã thử ra nó,” Hùng nói. “Chỉ chép lại một cái tên thì người sau lại phải cãi từ đầu.”
Thanh đặt trước viên lại bốn thẻ ghi giờ, bản vẽ chỗ nằm của giếng thở và nguyên lời của những người canh gáo.
“Nếu chỉ viết ba chữ ‘chia nước đêm’,” nàng nói, “người sau sẽ lại không biết phải nhìn vào đâu.”
Viên lại già nhận thẻ. Lần này không ai cười.
• • •
Khi đám đông tan, bà Lài ngồi xuống bậc đá thứ tư. Bà rửa bùn khỏi đầu gậy. Quan Phác bước đến, đặt trước bà một thẻ gỗ chưa khắc.
“Già Thị có chịu chỉ lại lệ gọi nước cho hai người học không?”
Bà Lài không nhận ngay. Bà nhìn tấm thẻ như nhìn một món nợ người ta đem trả muộn.
“Hai người do ai chọn?”
“Mỗi phường một người.”
“Nếu chúng chỉ muốn học dấu mà không chịu moi bùn?”
“Già Thị cứ đuổi.”
“Nếu người giữ phường đòi đổi người?”
Quan Phác thở dài.
“Thì Già Thị báo ta, trước khi lấy gậy đánh người.”
Bà Lài bật cười, tiếng cười khô mà sáng. Bà cầm lấy thẻ gỗ. Bàn tay bà run một chút khi khép quanh nó, và bà quay mặt về phía lạch để không ai thấy mắt mình.
Hùng đứng xa nhìn. Chàng hiểu sự trì hoãn không phải lúc nào cũng là sợ quyết định. Có khi đó là cách giữ cho một điều nằm sâu đủ thời gian dâng lên, trước khi lời phán đóng kín mọi khe còn lại.
Án của quan Phác không thể xóa mối bất hòa chỉ trong một buổi. Nó chỉ mở lại những khe đã bị nện kín, để lời của hai phía và dòng nước dưới bến có chỗ đi qua. Từ đó, điều nằm sâu phải được nhận biết bằng dấu ẩm, rễ lúa, chiếc gáo và người chứng, trước khi một lời phán khác lấp nó đi lần nữa.
Thanh đang xem một mảnh đất sét vừa được gỡ khỏi chân cầu. Nó không giống đất sét thường. Một mặt đã đỏ sẫm và cứng, mặt kia xám, giữa lớp đất có một đường đen mảnh.
“Lạ thật. Mảnh này từng qua lửa,” nàng nói, lật nó dưới nắng sớm.
Bà Lài liếc sang.
“Không phải gạch cầu đâu. Mảnh bị loại từ lò gốm phía nam đấy. Người sửa cầu trộn vào đất cho chân bờ chắc hơn.”
Thanh gõ nhẹ. Mảnh đất phát ra hai âm khác nhau ở hai đầu.
“Sao một mảnh nung lại có đến ba lớp màu hả Già Thị?”
“Tôi giữ nước chứ có giữ lửa đâu. Hỏi người giữ lò.”
Một người chạy tin từ phía nam thành vừa đến bến, mặt bám tro. Anh ta cúi người hành lễ rồi nói vội:
“Thưa Công Thị, lò của phường gốm đã nứt từ đêm qua. Họ vẫn không chịu dừng mẻ nung. Già Thị Sên nghe tin Công Thị đang ở bến, bảo tôi tới mời gấp.”
Thanh khép bàn tay quanh mảnh gốm. Hơi lạnh của nước ngầm vẫn còn trong lòng đất, nhưng trên mặt mảnh vỡ là dấu của một sức nóng đã đi qua không đều.
Nàng nhìn Hùng. Từ hôm rời nhà giữ giống, hai người chưa tách nhau lần nào.
“Bậu ở lại cùng hầu coi thủy lộ?”
“Qua phải giúp so đường nước với bản kho cho xong. Rồi còn phải về bờ bắc, báo cho Già Tự Cẩn chuyện dấu thứ ba nằm nghiêng.” Chàng ngập ngừng. “Bậu đến lò trước đi. Mà cái gối ấy, đừng có chạy.”
“Bậu lo cái vai của bậu trước đã.”
Thanh gật đầu, bọc mảnh gốm trong vải rồi bước lên bờ.
Sau lưng nàng, nước dưới bến vẫn dâng rất chậm vào chiếc gáo cuối dòng. Không ai nghe thấy nó chảy. Nhưng từ sáng ấy, không còn ai có thể nói rằng điều im lặng dưới đất là điều không tồn tại.