Hùng đến nhà giữ giống khi nắng đã hong khô vạt áo ướt, nhưng mùi bùn kho lương vẫn bám theo chàng như một kẻ đòi nợ. Bả vai hứng chiếc chum ban sáng nhức âm ỉ theo từng bước chân.
Ngôi nhà nằm ở phía tây thành, thấp và dài, tường dày hơn nhà ở, mái lợp hai lớp ngói. Trước mỗi cửa đều có máng cát để người bước vào chùi sạch giày. Không có lính canh đứng phô ra ngoài. Chỉ có hai người coi cửa kiểm thẻ, hỏi tên và ghi lúc người ra vào bằng những nét Khoa Đẩu ngắn trên thẻ tre. Nơi này không phòng kẻ trộm. Nó phòng bụi, phòng ẩm, phòng một bàn chân lạ mang theo thứ không nên vào.
Viên đội trưởng theo Hùng dừng lại trước bậc.
“Bẩm Công Tự, bề tôi chờ ở đây.”
Hùng gật đầu. Chàng tháo áo ngoài, phủi đất ở gấu quần rồi bước qua máng cát, chùi giày kỹ hơn thói quen. Sau buổi sáng ở kho lương, chàng không còn dám coi nhẹ một vệt bùn. Người coi cửa dẫn chàng vào gian giữa.
Mùi trong nhà không giống mùi lương thực. Nó khô, hơi cay, pha giữa tro bếp, lá thuốc và những lớp vỏ hạt đã ngủ qua nhiều mùa. Bước qua ngưỡng cửa, người ta tự khắc đi nhẹ chân, như vào chỗ có trẻ đang ngủ.
Thanh đang quỳ một gối trước hai hòm gỗ đặt cách nhau một sải tay.
Nàng mặc áo nâu xanh, tay áo buộc gọn đến cổ tay. Trên chiếu trước mặt là hai hàng bát đất, mỗi bát lót một lớp vải ẩm và chứa mười hạt lúa. Hàng bên trái đã nhú những mầm trắng cong như móng chim. Hàng bên phải chỉ lác đác vài hạt vừa hé mầm; những hạt còn lại sẫm màu, trương nước nhưng im lìm.
Thanh không đứng dậy ngay. Nàng đánh dấu bát cuối cùng, rửa đầu ngón tay trong chậu rồi mới quay sang, gật đầu với chàng. Chỉ đến lúc ấy Hùng mới thấy quầng mệt dưới mắt nàng.
“Bậu đây rồi.” Nàng thở ra một hơi dài, nhẹ cả người. “Qua cứ tưởng phải ngồi chờ đến xế.”
“Qua chạy từ kho lương sang đấy.” Hùng gật đầu đáp, hơi thở còn chưa đều. “Chạy thật. Hỏi đội trưởng của qua mà xem, giờ này chắc vẫn đang đứng thở ngoài cửa.”
Ánh mắt Thanh dừng ở vệt bùn trên giày chàng, rồi ở bên vai chàng đang giữ hơi cứng.
“Khỏi hỏi, qua nhìn ra.” Khóe môi nàng nhích lên rất khẽ. “Bùn kho lương mà bậu tha được vào tận đây. May cho bậu, người giữ giống chưa trông thấy đấy.”
Hùng ngó xuống giày, vội co chân lại. Chàng ngồi xuống mép chiếu, cẩn thận để gấu quần không chạm vào hàng bát.
“Rồi. Hai hòm này có chuyện gì mà bậu gọi gấp thế?”
Nét đùa trên mặt Thanh tắt đi. Nàng đẩy hai thẻ tre về phía chàng. Cùng một tên giống. Cùng nơi nhập. Cùng ngày niêm. Dấu của người nhận và người kiểm đều đủ. Hùng đọc, và thấy gáy mình lạnh đi đúng như lúc cầm bó tre trong kho lương: lại là những dòng chữ không sai một nét.
“Bậu nhìn hai hàng bát đi,” nàng nói. “Một hòm nảy phần lớn. Hòm kia chỉ vài hạt hé mầm. Vài hạt đã mềm ruột, phần còn lại vẫn chắc nhưng không chịu thức.”
Nàng cố nói đều đều, như đọc sổ. Nhưng ngón tay nàng cứ vuốt mãi mép tấm vải ẩm của một bát bên phải.
“Chúng chưa chết, bậu ạ. Chúng chỉ không chịu dậy.” Giọng nàng nhỏ lại. “Mà qua thì không hiểu vì sao. Qua ngồi nhìn chúng từ sáng, nhìn đến hoa cả mắt, vẫn không hiểu.”
“Ẩm chăng?”
“Ẩm như nhau.”
“Sâu?”
“Không một dấu cắn. Qua soi từng hạt rồi.”
Hùng ngập ngừng trước câu thứ ba. Chàng không muốn hỏi, nhưng vẫn phải hỏi.
“Hay... bị đổi?”
“Đấy!” Thanh ngẩng phắt lên, và lần đầu tiên từ lúc chàng bước vào, mắt nàng có lửa. “Đấy chính là điều mọi người đang muốn tin. Bậu nghe gian bên kia xem.”
Từ gian bên cạnh vọng sang những tiếng tranh cãi bị nén thấp, thứ tiếng của những người đang sợ và cần một ai đó để sợ thay.
“Một cái tên thì dễ ghi vào sổ hơn hai chữ ‘chưa biết’,” nàng nói, cay đắng.
Hùng nhận ra có người đang chờ một cái tên để quy lỗi. Sáng nay chàng cũng đã suýt làm thế với người coi kho. Chàng thấy nóng mặt.
“Còn bậu?” chàng hỏi, khẽ hơn. “Bậu muốn tin điều gì?”
“Qua chưa muốn tin gì hết. Qua muốn biết hạt đã trải qua những gì trước khi vào hòm.” Nàng nhìn xuống hàng bát im lìm. “Trước khi có ai phải chịu tội thay cho cái dốt của qua.”
Một người đàn bà tóc hoa râm từ gian bên bước vào. Bà gật đầu với hai người, không hơn.
“Thưa Công Tự, tôi là Mộc, giữ giống ở đây.” Bà nói chậm, rành rọt, như người đã nhẩm trước từng chữ. “Hai hòm do hai nhà giữ giống của hai xóm giao tới. Một nhà giữ dòng ven sông, nhà kia giữ dòng chân gò. Trong sổ, cả hai cùng được ghi dưới một tên. Nếu phải tra, xin tra cả người nhận. Đừng có đổ ngay cho những nhà đã giữ giống.”
Câu cuối bà nói nhanh hơn, và cằm bà hơi nâng lên. Bà đã chờ sẵn một lời buộc tội.
Hùng nhìn Thanh.
“Bậu gọi qua tới để tra người à?”
“Không!” Thanh lắc đầu, gần như giận. “Để tra người thì qua đã chẳng gọi bậu. Qua gọi bậu vì mẫu hạt ở đây không chịu nảy dù lấy từ một hòm vẫn khô ráo. Rồi người đưa tin về kể hạt trong kho lương cũng vừa gặp nước.” Nàng ngừng lại, tìm chữ. “Hai chuyện có khi chẳng dính gì nhau. Nhưng cả hai đều cho thấy cái tên trên thẻ chưa kể hết điều vật đã trải qua. Qua cần một người chịu nghĩ như thế cùng qua. Một mình qua thì... nghĩ không xuể.”
Mộc cau mày. Những nếp nhăn quanh miệng bà hằn sâu xuống.
“Hạt không phải vật để Công Tự với Công Thị đem ra suy luận.” Giọng bà đanh lại. “Nó là mùa sau của người khác.”
Thanh không cãi. Câu nói ấy rơi trúng chỗ nàng đã tự trách mình suốt từ sáng. Nàng nhặt một hạt đã ngâm quá lâu, dùng móng tay tách vỏ. Phần ruột bên trong mềm và đục. Nàng nhìn nó một nhịp, lâu hơn cần thiết, rồi tách một hạt khác. Ruột hạt còn chắc, mầm vẫn nguyên nhưng chưa chịu nhú.
“Già Thị nói phải.” Nàng đặt hai hạt lên lòng bàn tay, chìa ra, không tránh mắt bà. “Mấy hạt này hỏng là tại tay Ấu, ngâm quá lâu. Ấu đọc cái tên trên thẻ rồi tưởng thế là đã biết chúng.”
Cổ họng nàng nghẹn lại ở mấy chữ cuối. Nàng nuốt xuống rồi mới nói tiếp được.
“Ấu không muốn làm hỏng thêm một hạt nào nữa. Xin Già Thị Mộc chỉ cho các ấu nhìn chúng như một mùa sau.”
Mộc khựng lại. Bà đã sẵn lời cho một cuộc cãi, chứ không sẵn cho câu ấy.
“Nhìn bằng cách nào?”
“Cho Ấu theo người của Già Thị, từ lúc chọn hạt đến khi cất hòm. Họ làm gì Ấu làm nấy.” Thanh nói nhanh dần, như sợ dừng lại thì hết can đảm. “Bao giờ Già Thị thấy Ấu chỉ biết hỏi mà không biết làm, Già Thị cứ đuổi thẳng. Ấu không kêu một tiếng.”
Mộc nhìn đôi tay nàng. Bàn tay ấy sạch, ngón thon, có vết mực ở cạnh móng nhưng chưa có vết chai của người sàng thóc. Bà nhìn lâu, không giấu vẻ ngờ. Thanh để yên cho bà nhìn, dù hai vành tai đã nóng lên.
“Một ngày không đủ đâu.”
“Ấu có xin một ngày đâu. Bao nhiêu ngày thì đủ, Ấu ở bấy nhiêu.”
Hùng định nói chuyến đi dò hỏi của nàng trong thành còn bao nhiêu việc, nhưng Thanh đã liếc sang. Chỉ một cái liếc, đủ để chàng hiểu nàng không cần ai thay mình rút bớt lời vừa nhận. Chàng ngậm câu nói lại, hơi ngượng vì suýt làm một việc thừa.
Mộc hỏi:
“Công Thị chịu ở đến hết đợt chọn giống?”
“Nếu cần.”
“Mười hai ngày.” Bà buông con số ra như ném một hòn đá xuống nước, chờ xem nó chìm tới đâu.
Thanh im một nhịp. Hùng biết nàng đang nghĩ tới những bó tre chép dở, những nơi đã hẹn. Rồi nàng nhìn hàng bát bên phải, và vai nàng thẳng lại.
“Được. Mười hai ngày.”
Người đàn bà mím môi, rồi quay sang Hùng.
“Còn Công Tự?”
Hùng nhìn những mầm trắng ở hàng bát bên trái. Chàng muốn ở lại. Nhưng chàng nhớ bàn tay khép chặt của lão Cẩn quanh vết khía thứ ba, và lời mình đã hứa.
“Ấu thì chịu, chẳng biết gì về giữ giống,” chàng nói thật, gãi gáy. “Ấu chỉ xin được xem hai hòm với nghe người đã mang chúng tới. Còn lại thì Công Thị nhận cả rồi, Ấu có muốn tranh cũng không tranh nổi.”
Mộc gật đầu, vẻ mặt dịu đi rất ít. Nhưng có dịu.
• • •
Ngày đầu tiên, Thanh làm rách một chiếc nia tre.
Nàng tưởng sàng hạt chỉ cần lắc đều. Những hạt chắc dồn mạnh vào một góc. Mộc vừa kịp kêu “Khoan!” thì nan nia đã cũ bật gãy. Tiếng tre khô khốc khiến mấy cô gái làm cùng im bặt. Có đứa liếc nhau. Không ai dám cười.
Thanh đặt chiếc nia xuống, nhìn số hạt vừa rơi qua khe tre. Hai vành tai nàng đỏ lên.
“Ấu... Ấu xin lỗi.” Tiếng nàng lạc đi. “Ấu sẽ đền chiếc nia.”
“Nia mới thì trả lại được số hạt vừa rơi xuống đất chắc?”
Mộc không gắt. Chính vì bà không gắt mà câu nói nặng hơn. Thanh cắn môi.
“Dạ không. Vậy Ấu nhặt lại. Từng hạt một.”
Nàng ngồi xuống nền, nhặt. Hùng đứng ngoài cửa nhìn một lúc rồi cũng ngồi xuống nhặt cùng.
“Bậu làm gì thế? Không cần đâu,” nàng nói nhỏ, không ngẩng lên.
“Sàng thì qua chịu. Nhặt thì qua biết.” Chàng thả một hạt vào lòng bàn tay nàng. “Với lại ngồi cạnh bậu lúc này, qua đỡ thấy mình vụng nhất nhà.”
Nàng suýt bật cười, và bờ vai đang gồng cứng chùng xuống một chút. Mộc không cản, chỉ dúi cho Hùng chiếc bát riêng.
“Hạt dính đất để riêng. Cấm trộn lại.”
“Có dính tí bụi thôi mà, Già Thị.”
“Tí bụi ấy mang nấm vào được cả hòm đấy.”
Hùng nhìn hạt lúa trên đầu ngón tay mình, nhỏ và nhẹ như không. Chàng nhớ đến dải vữa trát chống chuột dưới tường đông. Cũng chỉ là một việc nhỏ. Chàng lặng lẽ làm theo.
Đến trưa, họ tìm được hai gia đình đã giao giống. Mỗi nhà giữ giống cho một xóm. Nhà thứ nhất giữ dòng ven sông, phơi hạt trên giàn tre cao để đón gió từ mặt nước. Nhà thứ hai giữ dòng chân gò, phơi trên sân đất nện vì giàn bị gãy sau một trận mưa. Cả hai đều chờ hạt khô, cắn thử thấy giòn rồi mới đóng túi.
Sổ nhận chỉ ghi một chữ: khô.
Thanh hỏi người nhà thứ hai:
“Sau trận mưa, Công Thị phơi lại số hạt này qua bao nhiêu nắng?”
“Dạ... ba nắng.” Người đàn bà đáp dè dặt, mắt cứ liếc về phía Mộc.
Mộc hỏi tiếp, giọng dịu hẳn đi so với lúc nói cùng hai người từ thành:
“Nắng đầu gió bấc hay gió sông hả bậu?”
Người đàn bà đáp ngay, mặt giãn ra như được hỏi bằng đúng tiếng của mình:
“Gió bấc lúc sáng, trưa thì đổi gió sông. Qua còn phải chạy ra lật nia giữa chừng đấy!”
Hùng nhận ra câu hỏi của Thanh đo thời gian; câu hỏi của Mộc đo cách hạt đã khô. Trên thẻ tre, cả hai đều bị ép thành một chữ. Chàng thấy Thanh cúi xuống ghi, đầu bút ngừng lại giữa chừng.
“Ấu hỏi mấy nắng,” nàng nói khẽ, gần như với chính mình. “Già Thị hỏi nắng thế nào.”
Mộc không đáp. Nhưng bà đã nghe.
Ba nắng vẫn chưa giải thích được vì sao mẫu hạt từ một hòm không chịu nảy.
Trước khi nắng xế, Hùng rời nhà giữ giống để trở lại khu bờ bắc như đã hẹn với lão Cẩn. Ra đến cửa, chàng ngoái lại. Thanh đang cầm một chiếc nia khác, lắc chậm và vụng, môi mím chặt. Nàng không ngẩng lên.
Những ngày sau, chàng đi lại giữa các miệng nước cũ và nhà giữ giống, nghe Thanh kể từng điều nàng tìm được. Trong áo chàng lúc nào cũng giắt một mảnh vải vẽ lại ba vết khía trên miệng ống gốm ở bờ bắc.
Ngày thứ ba, Thanh học ngửi hạt. Hạt mới có mùi cỏ khô. Hạt từng ngậm nước có mùi ngai ngái, rất nhẹ, chỉ hiện ra khi người ta úp hai bàn tay quanh một nắm rồi hà hơi. Nàng ngửi đến đau đầu, vẫn không phân biệt được. Một bé gái tên Miên làm việc bên cạnh chỉ cần đưa lên mũi là tách đúng cả năm mẫu, nhanh như nhặt sỏi.
Thanh nhìn năm nắm hạt đã được xếp đâu ra đấy, rồi nhìn nắm hạt còn nguyên trong tay mình. Bao nhiêu bó tre nàng từng đọc cũng không giúp được cái mũi của nàng. Nàng bật cười, một tiếng cười ngắn, nửa chua nửa phục.
“Thôi, Kỷ thua. Kỷ ngửi đến nhức cả đầu mà vẫn chịu thua Mậu đấy. Mậu học ở đâu mà giỏi vậy?”
“Cơ dạy Mậu ạ.” Con bé lí nhí, mặt đỏ bừng vì được khen.
“Thế Mậu còn nhớ Cơ dạy phân biệt thế nào không?”
Miên nghĩ rất lâu, ngón chân di di trên nền đất.
“Cơ bảo hạt nào ngủ yên thì mùi nằm trong vỏ. Hạt nào từng thức rồi bị ép ngủ lại thì mùi chạy ra tay.”
Thanh ngồi sững. Không có câu ấy trong sổ. Không bó tre nào nàng từng đọc nói được điều đó gọn đến thế.
“Khoan, khoan đã!” Nàng vội với lấy thẻ và bút, suýt làm đổ cả nắm hạt. “Mậu nói lại cho Kỷ đi. Chậm thôi. Đúng lời của Cơ, đừng bớt chữ nào nhé.”
Nàng ghi nguyên lời lên thẻ nhỏ, không sửa thành từ ngữ của người chép. Viết xong, nàng đọc lại cho con bé nghe, hỏi đã đúng chưa. Miên gật, mắt tròn ra: chưa ai chép lời nó bao giờ.
Mộc nhìn thấy nhưng không nói gì. Bà chỉ đứng đó lâu hơn một chút rồi mới quay đi.
Ngày thứ năm, họ phát hiện ở đáy hòm có mẫu hạt không nảy một lớp bụi mỏng màu bạc. Hùng nghĩ đó là tro bếp chống mọt, nhưng trong lớp bụi không có những mảnh than nhỏ thường lẫn với tro dùng trong nhà giữ giống.
Mộc lấy một nhúm đặt lên mảnh gốm rồi nhỏ vào đó một giọt nước. Lớp bụi vón lại và tỏa hơi ấm rất nhẹ.
“Tro vỏ sò.”
Mọi con mắt quay về phía người nhận kho. Ông tái mặt, nhưng thừa nhận ngay: ông đã rắc loại tro ấy vào cả hai hòm sau khi nhập giống. Ông lấy tro từ cùng một vò, dùng cùng một muỗng và rắc theo cùng một lệ. Khi họ xem lại hòm nảy tốt, dưới đáy cũng có lớp bụi bạc như vậy.
Hùng thấy vai người nhận kho chùng xuống vì nhẹ nhõm, và thấy nỗi thất vọng lướt nhanh qua mặt mấy người đứng xem. Họ đã tưởng có được một cái tên. Thanh thì không thất vọng. Nàng chỉ lặng lẽ gạch đi một dòng trên thẻ, tay ấn mạnh hơn cần thiết.
Tro có thể chống mọt, nhưng không giải thích được vì sao hai hòm nảy khác nhau.
Ngày thứ bảy, Hùng không ghé nhà giữ giống. Chàng theo lão Cẩn và người giữ bản đồ đi xa hơn dọc các miệng nước cũ. Thanh không hỏi. Nàng tiếp tục quay hạt dưới nắng, học cách dùng mu bàn tay cảm hơi nóng trong nia. Da tay nàng đã sạm đi, và vết mực cạnh móng đã bị bụi trấu che mất.
Đêm ấy trời trở lạnh. Mộc gọi mọi người trở dậy chuyển hạt vào gian trong. Thanh bê một hòm nhỏ, bước hụt ở bậc cửa. Miên đỡ được nắp, còn cạnh hòm va vào đầu gối Thanh. Nàng ngồi thụp xuống, mặt trắng đi, hai tay vẫn ôm cứng lấy hòm.
“Công Thị nghỉ đi,” Mộc nói.
Thanh xoa đầu gối. Nàng hít vào qua kẽ răng, chờ cho cơn đau lắng bớt mới cất được tiếng.
“Hạt... hạt có đổ không?”
“Không.”
“Thế thì Ấu làm tiếp.” Nàng chống tay đứng dậy, loạng choạng rồi trụ lại được. “Ấu đã làm gãy nia của Già Thị rồi. Chẳng lẽ đêm nay lại để dở việc vì Ấu nữa.”
Mộc nhìn nàng. Bảy ngày trước, bà đã chờ người con gái này bỏ cuộc trước bữa trưa. Bà không khuyên lần nữa. Bà đưa nàng một dải vải quấn gối, tự tay thắt giúp một vòng, rồi chuyển cho nàng việc nhẹ hơn: buộc các túi mẫu.
Đến lúc ấy Thanh mới nhận ra mỗi nút buộc khác nhau. Có nút xiết đôi, nút vòng ngược, nút để thừa một đầu ngắn hoặc hai đầu bằng nhau. Nàng đã bưng những túi này suốt bảy ngày mà chưa một lần nhìn chúng.
“Già Thị ơi...” Nàng giơ hai túi lên ngang mắt, quên cả cái đầu gối đau. “Mấy cái nút này, là dấu của từng nhà phải không?”
“Một phần.”
“Còn phần kia?”
“Cách hạt phải được thức dậy.”
Mộc lấy hai túi cùng tên giống. Bà nâng chiếc túi buộc nút vòng ngược.
“Dòng chân gò dùng nút này. Hạt phải hong gió hai đêm rồi mới ngâm.”
Bà đặt tay lên chiếc túi buộc nút xiết đôi.
“Dòng ven sông dùng nút này. Ngâm ngay được, nhưng nước đầu phải lạnh.”
Thanh nhìn các nút dây rồi nhìn thẻ tre gắn trên hai hòm. Tim nàng đập nhanh lên. Khi nhập kho, người nhận đã tháo túi để đổ hạt vào hòm lớn. Những nút buộc bị vứt đi. Trên thẻ chỉ còn tên giống.
“Hai dòng phải được đánh thức theo hai cách,” nàng nói, gần như thì thầm.
“Chúng cùng họ, cùng dáng hạt, cùng tên gọi,” Mộc đáp. “Nhưng một dòng quen đất ven sông, một dòng quen chân gò. Người giữ giống biết chúng khác nhau. Người lập sổ thì thấy chúng giống nhau.”
“Sao Già Thị không nói từ đầu rằng mỗi dòng có lệ thức riêng?”
Câu hỏi bật ra sắc hơn nàng định, và nàng không kịp giữ phần còn lại.
“Bảy ngày! Ấu ôm những túi này bảy ngày, ngửi đến mụ cả đầu, mà câu trả lời nằm ngay trên sợi dây Ấu cầm trên tay mỗi ngày!”
Mộc nhìn thẳng vào nàng, không né.
“Tôi nói bao nhiêu năm rồi, rằng không được bỏ nút dây. Có ai nghe?” Giọng bà mệt hơn là giận. “Mà dây đã mất thì chính tôi cũng không dám chỉ vào một hòm rồi bảo chắc nó thuộc dòng nào. Nảy hay không nảy còn tùy nước, tùy tay người ngâm. Tôi không lấy một lần ngâm sai làm dấu. Đoán trật thì mùa giống của cả một xóm mất trắng.”
Bà dừng lại, hai ngón tay vuốt phẳng một đầu dây vừa bị xổ.
“Người của đình Kinh trước đây chỉ hỏi tôi một cái tên để ghi vào sổ. Hỏi xong thì đi.” Bà ngẩng lên. “Tôi muốn biết Công Thị đến để lấy thêm một cái tên, hay thật bụng chịu cùng chúng tôi tìm lại cách dùng.”
Thanh siết đoạn dây trong tay. Cơn bực vừa bùng đã tắt, để lại một nỗi hổ thẹn âm ấm. Bảy ngày qua bà không giấu nàng điều gì. Bà chỉ chờ xem nàng có ở lại đủ lâu để đáng được nghe hay không. Và những người đến trước nàng, mang cùng thứ bút mực như nàng, đã không ở lại. Nút vừa buộc lệch đi, nàng phải tháo ra làm lại.
“Ấu trách nhầm rồi. Xin Già Thị thứ cho.” Nàng nói chậm, mắt vẫn dán vào sợi dây. “Ấu không biết nói sao cho Già Thị tin Ấu khác những người trước. Mà có lẽ nói cũng chẳng đủ.”
Nàng ngẩng lên.
“Ngày mai Già Thị dạy Ấu buộc lại hết các nút nhé. Hết thảy. Ấu không bỏ sót cái nào đâu.”
Mộc không đáp. Bà đẩy thêm một nắm dây về phía nàng.
Sáng ngày thứ tám, Mộc dạy Thanh buộc lại từng kiểu nút. Đầu gối nàng vẫn đau mỗi khi gập xuống, nên bà cho nàng ngồi tựa vào cột, đặt các túi mẫu thành một vòng trước mặt.
Đến trưa, Thanh đã phân biệt được nút chỉ cách hong hạt với nút chỉ cách dùng nước đầu. Nàng vẫn chưa biết hòm nào thuộc dòng nào.
Thanh xin mở lại hòm có mẫu hạt không nảy để chuẩn bị lần thử thứ hai. Nàng ngờ đây là hòm của dòng chân gò, và muốn thử bằng chính lệ của dòng ấy. Nàng chia số hạt mới lấy thành hai phần bằng nhau: một phần sẽ được hong theo lệ dòng chân gò, phần kia giữ nguyên để so.
Sau khi lấy đủ hạt, Miên lau sạch bụi quanh miệng hòm trước lúc đóng nắp. Khi chiếc chốt gỗ được tháo hẳn ra, con bé bỗng kêu lên một tiếng nhỏ. Trong khe có một đoạn xơ dây bị ép sâu. Đoạn xơ ngắn và đã bẹp xuống, nhìn qua chỉ giống một dằm tre.
Người nhận kho ghé lại xem, rồi vỗ trán đánh đét. Ông nhớ ra: khi trút túi giống vào hòm, một sợi dây buộc đã xổ và mắc ngang miệng hòm. Ông kéo phần dây dài ra rồi đóng nắp, không biết một đầu xơ đã bị chốt gỗ ép giữ lại.
Mộc đặt đoạn xơ lên lòng bàn tay, nhìn rất lâu nhưng không vội gọi tên nó. Thanh nín thở chờ bên cạnh, và hiểu vì sao bà chờ.
Dây của xóm ven sông được se thuận bằng bẹ non, mặt xơ mềm và mịn. Dây của xóm chân gò được se ngược bằng bẹ già hơn, để lại những đầu xơ cứng. Đoạn mắc dưới chốt có cách se và chất xơ giống dây của xóm chân gò.
“Ấu nhìn cũng thấy nó giống dây chân gò,” Thanh nói, tay đã cầm bút mà chưa hạ xuống. “Nhưng Ấu chưa dám ghi đâu. Ấu vội một lần rồi, đủ sợ rồi. Già Thị cho Ấu mang nó tới hỏi cả hai nhà đã.”
Mộc trao đoạn xơ cho nàng, cẩn thận như trao một hạt giống.
Thanh mang đoạn xơ tới cả hai nhà giao giống, đi chậm, có Miên theo bên đỡ mỗi khi qua bậc. Người của mỗi nhà tự lấy dây đang dùng ra so. Cách se ngược, bẹ già và lời hai nhà nhận cho nhau: ba điều cùng chỉ về túi giống của xóm chân gò.
Đến lúc đó, Thanh mới cho đánh dấu lại hai hòm.
Đêm thứ tám và đêm thứ chín, Thanh tự tay hong phần hạt thử theo cách Mộc đã dạy. Nàng trải hạt thành một lớp mỏng trên nia, đặt nơi có gió nhưng không hứng sương. Hai đêm ấy nàng ngủ ngồi cạnh nia, cứ nghe gió đổi chiều lại choàng dậy. Phần hạt để so được giữ khô trong túi, không hong, để cả hai phần được ngâm cùng một lúc.
Sáng ngày thứ mười, Thanh đặt hai phần hạt vào hai hàng bát đất, dùng nước lấy từ cùng một vò. Nàng ghi rõ một hàng đã hong hai đêm, hàng kia giữ nguyên.
Suốt ngày hôm ấy, cả hai hàng đều im lìm.
Thanh đi qua đi lại trước hai hàng bát nhiều đến mức Miên phải kéo vạt áo nàng.
“Kỷ nhìn mãi thì hạt cũng có thức nhanh hơn đâu,” con bé nói, nghiêm trang như người lớn.
“Biết rồi, biết rồi.” Thanh thở dài, ngồi phịch xuống cạnh nó. “Nhưng lần này mà chúng vẫn không dậy, thì lại là tại tay Kỷ. Lần thứ hai đấy, Mậu ạ.”
Miên nghĩ một lúc rồi dúi vào tay nàng một nắm dây.
“Kỷ buộc nút đi cho đỡ sốt ruột.”
Đến chiều ngày thứ mười một, những hạt đã hong bắt đầu hé đầu mầm trắng. Hàng để so chỉ có một hạt trương lên, còn lại vẫn nằm im.
“Mậu ơi.” Thanh gọi, giọng vỡ ra. Bàn tay nàng run lên trên miệng bát. “Mậu, lại đây, mau! Chúng thức rồi. Chúng thức rồi kìa!”
Con bé chạy tới, reo lên. Thanh suýt reo theo. Rồi nàng nhắm mắt, hít một hơi dài.
“Chưa. Chưa được mừng.” Nàng nói với con bé, và với chính mình. “Chờ thêm một đêm đã. Một đêm nữa thôi.”
Nàng thay vải ẩm, áp mu bàn tay thử hơi ấm như đã được dạy, và chờ. Đêm ấy nàng gần như không ngủ.
Sáng ngày thứ mười hai, bảy trong mười hạt đã hong nhú mầm. Hàng để so vẫn chỉ có một hạt hé đầu mầm.
Thanh đặt hai hàng bát cạnh đoạn xơ dây và hai thẻ kho. Lần đầu tiên, nguồn hòm, cách buộc nút và lần thử hạt cùng chỉ về một mối. Nàng ngồi nhìn chúng rất lâu, mắt cay cay. Khi ngẩng lên, nàng bắt gặp Mộc đang đứng ở cửa. Bà không khen. Bà chỉ gật đầu một cái, như gật với người trong nhà.
Với Thanh, cái gật đầu ấy nặng hơn mọi lời khen nàng từng nhận trong thành.
• • •
Ngày thứ mười hai, Hùng trở lại.
Thanh đang ngồi giữa một vòng dây đủ màu. Trước mặt nàng là hai mươi bốn túi giống, mỗi túi có thẻ tre và một kiểu nút được vẽ lại bên cạnh. Đầu gối nàng vẫn quấn vải. Nàng gầy đi, da sạm nắng, tóc vương bụi trấu. Hùng chưa từng thấy nàng ngồi yên ổn đến thế.
Ánh mắt chàng dừng lại ở dải vải quanh đầu gối nàng, và chàng cau mày.
“Kìa, chân bậu làm sao thế?”
“Va vào cạnh hòm thôi.” Nàng nhún vai. “Hạt không đổ.”
“Qua hỏi bậu chứ có hỏi hạt đâu.”
Thanh ngẩng lên, hơi ngỡ ngàng. Mười hai ngày nay nàng đã quen đặt hạt trước mình. Nét mặt nàng mềm đi.
“Còn đau, nhưng đi được.” Nàng chạm nhẹ vào dải vải. “Già Thị thắt cho đấy. Thắt chặt đến mức qua chẳng dám kêu.”
Hùng bật cười, ngồi xuống bên vòng dây.
“Thế bậu tìm ra chưa?”
“Ra một nửa.” Mắt nàng sáng lên, và lần này nàng không ghìm lại. “Bậu thấy sợi xơ này không? Nó kẹt dưới chốt hòm, bé tí thế này thôi. Miên mà không lau kỹ thì chẳng ai thấy.”
Nàng nói liền một hơi, tay vẫn chưa chịu buông sợi xơ.
“Dây chân gò đấy. Mà giống chân gò thì phải cho nằm gió hai đêm rồi mới được ngâm. Qua nào có biết! Qua bốc hai nắm từ cùng cái hòm ấy, một nắm để yên, một nắm hong đủ hai đêm. Sáng nay bậu đoán xem?”
“Dậy cả?”
“Mười hạt hong, bảy hạt dậy.” Nàng bật cười, tiếng cười của người chưa kịp tin. “Nắm kia vẫn nằm trơ ra, được mỗi một hạt.”
“Bảy hạt!” Hùng vỗ đùi. “Vậy là bậu...”
“Đừng tính cho qua.” Nàng lắc đầu, cắt lời chàng. “Miên thấy đoạn xơ. Già Thị đọc được cách se. Qua chỉ là đứa chịu ngồi hong đủ hai đêm.”
“Còn mấy hạt thử lần đầu?”
Ánh sáng trong mắt nàng dịu xuống.
“Vài hạt hỏng hẳn rồi. Ngâm lâu quá. Tại qua.” Nàng nói thẳng, không tìm cách nói giảm. “Những hạt còn chắc thì chưa chết, có điều không nên ngâm tiếp kiểu cũ nữa.”
“Thế phần giống trong hòm?”
“Còn khô, còn nguyên.” Giọng nàng ấm lại. “Hong rồi ngâm đúng lệ thì vẫn nảy được. Mùa sau của xóm chân gò vẫn còn đó, bậu ạ.”
Hùng thở ra. Chàng không biết mình đã nín thở từ lúc nào. Một kho lương suýt hỏng, một hòm giống suýt bị bỏ; cả hai lần, thứ cứu được chúng đều nằm ngoài sổ.
“Vậy nửa chưa ra là gì?”
“Là từ nay giữ với ghi thế nào để khỏi lặp lại.” Thanh nhìn hai mươi bốn túi giống quanh mình, và vẻ hớn hở vừa rồi nhường chỗ cho một nỗi lo thành thật. “Qua chưa nghĩ ra. Nút dây thì người nhận kho vẫn cứ tháo. Còn thẻ tre... bậu bảo qua nhét gió bấc với gió sông vào đâu trên một cái thẻ?”
Hùng cầm một túi, xoay nút dây giữa ngón tay.
“Một thứ chữ mà chẳng ai gọi là chữ.”
“Chưa chắc là chữ đâu.” Thanh nói, cẩn trọng như mọi khi, rồi tự mỉm cười với cái tật ấy của mình. “Ngày đầu tới đây qua sẽ bảo nó chỉ là một cái nút. Giờ thì qua chẳng dám gọi nó là gì cho đến khi hiểu hết. Chỉ biết nó mang cái điều thẻ tre đã bỏ rơi.”
Mộc đi vào gian trong. Khi trở ra, bà cầm một chiếc muỗng xúc hạt bằng gỗ đen bằng cả hai tay. Bà chưa đặt xuống ngay. Ánh mắt bà dừng ở những nút dây Thanh vừa buộc, rồi chuyển sang hai thẻ tre đã được ghi lại. Bà đứng như người đang cân một món đồ trước khi trao.
Sau một lúc, bà đặt chiếc muỗng trước mặt họ. Cán muỗng đã nhẵn vì nhiều đời cầm. Ở mặt dưới có ba hàng vết khắc nhỏ: móc cong, chấm lõm và những nét xiên giống chân chim.
“Nút dây thì thay được,” bà nói. “Muỗng này thì chẳng ai dám bỏ. Mỗi nhà giữ giống từng có một chiếc.” Bà ngừng lại. “Giờ còn mỗi chiếc này.”
Thanh không chạm vào ngay. Nàng nhìn chiếc muỗng, rồi nhìn Mộc, và hiểu mình vừa được trao điều gì.
“Già Thị... cho các ấu xem thật sao?” nàng hỏi, rất khẽ.
“Không cho thì tôi mang ra làm gì.”
Bà nói cộc, nhưng mắt bà không cộc. Lúc ấy Thanh mới đưa cả hai tay ra, lật cán muỗng về phía sáng. Những dấu ấy không giống cách ghi trên thẻ tre hiện tại, nhưng vài nét có nhịp lặp rõ ràng.
“Già Thị đọc được không?”
“Chẳng ai đọc trọn. Tôi chỉ biết hàng đầu nhắc gió, hàng giữa nhắc nước.” Ngón tay cái của bà miết qua hàng khắc dưới cùng, rất nhẹ. “Hàng cuối thì Cơ tôi cũng không biết.”
Hùng sững người. Chàng đã nghe gần đúng câu ấy hơn mười ngày trước, bên một miệng ống gốm, từ một ông già khép chặt bàn tay. Chàng rút trong áo ra mảnh vẽ ba dấu đóng mở trên đường nước dưới kho, đặt bên cạnh chiếc muỗng. Một dấu trên muỗng gần giống vết khía thứ ba lão Cẩn không nhận ra.
Tim chàng đập mạnh. Chàng ngẩng lên, và thấy Thanh cũng đang nhìn hai vật, rất lâu. Nàng đã thấy điều chàng thấy; hơi thở nàng cũng gấp lên. Nhưng nàng là người lên tiếng ngăn trước.
“Khoan. Đừng ghép chúng chỉ vì giống hình.”
“Qua biết mà.”
“Biết, nhưng mắt bậu đang ghép rồi kia.” Nàng không trách. Giọng nàng gần như nài. “Qua đã tin hai cái tên giống nhau, rồi làm hỏng mấy hạt giống. Qua không muốn bậu tin hai nét khắc giống nhau, rồi làm hỏng thứ còn khó tìm lại hơn.”
Hùng nhìn nàng. Chàng hiểu câu ấy đã khiến nàng tốn bao nhiêu để nói ra. Chàng mỉm cười, giơ hai tay chịu thua.
“Thôi được. Qua không ghép. Qua chỉ muốn hỏi.”
Thanh nhìn chàng thêm một thoáng, rồi khóe môi nàng cũng nhích lên. Lần này nàng để nó ở lại lâu hơn.
Mộc thu lại các túi giống.
“Muốn hỏi thì đi mà tìm người còn dùng dấu ấy trong việc hằng ngày.” Bà vẫn cộc lốc, nhưng không còn cái đanh của ngày đầu. “Đừng có mang nó vào phòng kín rồi ngồi đoán đến khi vừa bụng.”
Thanh trải một mảnh vải mỏng lên cán muỗng, miết than cho các nét khắc hiện lên. Xong, nàng gói chiếc muỗng lại, nhưng không đặt vào tay Hùng. Nàng đặt nó trở lại trước mặt Mộc.
“Vật này ở lại nhà giữ giống.” Nàng nói với Hùng, nhưng mắt nhìn bà. “Nó ở đây nhiều đời hơn chúng ta biết đếm. Chúng ta chỉ mang bản dập trên vải thôi.”
Hùng gật đầu. Chàng đã học được từ dòng nước rằng đem một vật ra khỏi nơi nó sống có thể khiến người ta giữ được hình mà đánh mất cách dùng.
Ngoài sân, gió lay những nong hạt mới chọn. Hàng nghìn vỏ trấu va vào nhau thành âm thanh nhỏ, khô và đều. Không hạt nào nói nó đã đi qua mưa nào, đất nào hay bàn tay nào. Những điều ấy nằm trong mùi, trong nút dây, trong một vết khắc dưới cán muỗng, kín đáo đến mức người chỉ nhìn vào tên gọi sẽ tưởng chẳng có gì ở đó.
Thanh đặt bản dập cạnh hai thẻ kho giống hệt nhau.
“Ngày mai,” nàng nói, “chúng ta tìm người còn biết dùng những dấu này.”
Hùng nhìn nét cong như một dòng nước đang khép mình dưới đất.
“Ngày mai,” chàng đáp.