Đầu tháng tám, cơn mưa ngang qua suốt mấy ngày trời khiến không khí có phần se lạnh, ở cuối trấn Hồ gia có ngôi miêu hoang tàn.
Bên trong miếu bụi bặm, tượng thần có vẻ nứt toác, tấm rèm cũng sớm bị xé nát, trên cao bốn chữ Thái Hoàng thần miếu không còn nhìn ra mặt chữ. Dưới đất là hàng loạt những món đồ thờ tự đổ nát, vỡ vụn mục nát, có lẽ đã có hai ba mươi năm không có ai tới chăm nom.
Ở góc miếu còn chút mái ngói che chắn là một người nam nhân tuổi trạc hai mươi, trên mắt y quấn một tấm vải đen, mái tóc có phần rối, quần áo thì chắp vá khiến nó có rất nhiều màu sắc, rõ ràng có từng cơn hàn phong thổi vào miếu nhưng nam nhân lại chẳng thấy lạnh mà ngồi vững, chỉ thấy gã từng nhịp hô hấp đều đều có quy luật, mỗi lần hít vào thì bụng hóp xuống, thở ra thì lại căng lên thật kì dị.
Hắn ta bỗng theo thói quen thử mở mắt nhưng chợt nhớ ra mình đã mù, nghe thấy y bật cười thê lương lẩm bẩm: "A... quên mất... ta đã mù rồi... haha Tô Hàn Phi ta mù rồi nhỉ?"
Hàn Phi tự hỏi, tâm trạng trong một thoáng tồi tệ đi hẳn nhưng lại chẳng biết phải làm sao, chỉ đành ôm lấy nỗi buồn mà nằm xuống, tự mình an ủi mà ngủ thiếp đi: "số trời đã vậy... thì đành vậy đi... ta cứ xem như đã chết đi." Nghĩ vậy trong lòng lại có phần nhẹ nhỏm hơn, Hàn Phi cũng dần dần chìm vào ngủ.
Sáng sớm hôm sau, trời vẫn còn mưa rất lớn, Hàn Phi vốn cũng tâm thần mệt mỏi chẳng muốn tỉnh, khổ nỗi chiếc bụng đói meo đã lôi y dậy. Đôi tay khẽ động liền nghe tiếng mưa còn rất lớn, tất đường sẽ vô cùng lầy lội khó đi, bản thân lại mù lòa thực rất khó mà tìm được vào chợ. Nhưng lại nghĩ bản thân đã nhịn đói suốt mấy hôm nay, dẫu cho nội lực thâm hậu tới đâu cũng khó mà chống đỡ nếu cứ không ăn, trong đầu đấu tranh một hồi rồi cũng đành đứng dậy, khó khăn vươn lấy một cây trúc dài khoảng ba xích nhất thốn(khoảng 103cm), trên thân trúc được phủ một lớp sáp mỏng chống mối mọt. Đầu trúc có gắn một cái lục lạc nhỏ phát ra tiếng leng keng mỗi khi cây trúc rung lên.
Hàn Phi khẽ gõ xuống mặt đất, hai tai tập trung nghe một chút thì có thể mơ hồ xác định được vật thể xung quanh vị trí tương đối, chợt y tung mình vọt tới, vận khởi Vân Tung Thuật. Chân trái vừa điểm nhẹ lên nền gạch, thân hình đã bay xa cả trượng; chân phải thuận thế đạp xuống, đẩy người lướt đi như lá tre trên mặt nước. Gió tạt qua tai, tiếng mưa rơi trên mái ngói hai bên đường trở thành thứ duy nhất dẫn lối cho đôi chân không thấy ánh sáng ấy. Chỉ có tới mỗi ngã rẽ, y mới khựng lại vài hơi thở để định hướng, nhưng cũng chẳng vì thế mà khinh công của Hàn Phi kém phần mau lẹ.
Vào nội trấn thì đã gần giờ tỵ, cơn mưa cũng đã vơi bớt đi ba bốn phần, tuy vậy trên phố quả thực không có mấy người qua lại, chỉ có tiếng nói cười vui vẻ trong quán rượu, tiếng bọn nhóc con đọc chữ trong thư quán cùng mùi thơm của bánh bao hay bát mì nóng. Hàn Phi sờ vào trong túi, ngón cái khẽ miết lên vài văn tiền trong túi áo nhẩm tính một phen, đôi mày cau lại thành chữ 川(xuyên), hóa ra chỉ còn lại chín văn tiền, trong lòng y khó chịu vốn khi còn sáng mắt thì chút tiền này đâu có bõ bèn gì. Nhưng nay mù lòa thì ăn một bát mì cũng phải tính toán, Hàn Phi cười tự giễu một cái, cuối cùng vẫn ngồi xuống gọi một bát mì nóng. Chủ quán là một người trung niên độ tứ tuần, dáng người tròn mập, thấy một kẻ mù đội mưa vào ăn mì thì sinh lòng thương sót, bèn lấy thêm ít mì cùng một bát nước gừng nóng bưng ra cho hắn. Hàn Phi nghe tiếng bước chân, hữu thủ không tự chủ mà nắm chặt lấy trúc côn, phải tới lúc chủ quán đặt hai bát một mì một gừng nóng ra trước mặt thì y mới thả lỏng, nhanh chóng nói: "chủ quán hình như thừa rồi, ta không có gọi thêm gì cả?"
Chủ quán cọc cằn đáp lời: "là ta cho ngươi, uống lấy một hớp đi không dính phong hàn, đừng có lằng nhằng."
Tô Hàn Phi tâm tình phức tạp, ngổn ngang cảm xúc khó tả, cuối cùng chỉ thốt ra được hai chữ: "đa tạ." Y không biết phải nói thế nào cho phải? Lòng tự trọng của Hàn Phi kêu gào không muốn nhận sự thương hại của người khác, nhưng lý trí lại tạt cho y một gáo nước lạnh rằng ngươi mù rồi còn vác chút sĩ diện hão mà chết dẫm ở xó chợ ư?
Vốn khi ăn phải thấy ấm bụng, thoải mái nhưng gã ăn mà chẳng cảm nhận được chút vị gì, ngoài tiếng sì sụt ăn mì thì chỉ còn tiếng mưa rơi. Ăn xong lại uống hết chén nước gừng, cả cơ thể lập tức thấy ấm hẳn lên, nhưng quần áo lẫn cơ thể vẫn còn ướt đẫm nước mưa. Nghĩ một hồi rồi gã bèn đề khí, nội kình ấm nóng hầm hập thổi căng phồng y phục của Hàn Phi, nội tức bên trong đan điền liên tục vận chuyển đi khắp cơ thể đẩy hàn phong trong cơ thể ra bên ngoài, chỉ trong ba mươi hơi thở thì y phục lẫn tóc tai đã khô ráo, đủ thấy công phu nội gia thâm hậu nhường nào.
Gã lấy ra chín văn tiền đặt lên bàn, toan rời đi thì tay trái bị người giữ lại, là chủ quán, ông ta khoác lên người chàng một chiếc áo tơi khá cũ có lẽ đã có vài chỗ rách, giọng nói hơi gắt đặc trưng của người phương bắc bỗng vang lên: "tiểu tử lấy mà mặc tạm đi, dẫu sao cái áo này ta cũng vứt rồi... cho ngươi đó."
Tô Hàn Phi cả người đờ đẫn, muốn nói nhưng lại thôi, cuối cùng chỉ gật đầu hai cái, bèn vội quay người chạy ra màn mưa. Vân Tung Thuật khi này được y vận sử tới mười thành công phu, lại thêm quen thuộc một phần đường lối, trên thân còn có Áo tơi nên khi về chỉ mất có hai lăm hơi thở, tuy rằng sau lưng vẫn còn vài chỗ bị ướt do áo rách nhưng thế cũng đã là điều rất tốt. Đêm ấy, Hàn Phi trằn trọc không sao ngủ nổi. Một bên lòng chàng thầm nhủ: chẳng qua là bát mì, tấm áo cũ, có đáng gì mà phải bận tâm — người ta thương hại kẻ mù lòa như chàng, thế thôi. Nhưng bên kia lại có tiếng nói khác vang lên, khẽ khàng mà day dứt: đã bao lâu rồi chàng không được ai đối xử tử tế đến vậy? Từ ngày đôi mắt tắt lịm, thế gian này với chàng cũng lạnh lẽo như cơn mưa ngoài kia, vậy mà một chén nước gừng nóng lại khiến khoé mắt chàng cay xè. Hai luồng cảm xúc ấy giằng co mãi trong đầu, một bên là gai góc chàng dựng lên để tự vệ, một bên là đứa trẻ trong lòng vẫn còn khát khao được thương xót. Chàng không sao đuổi đi được, cứ thế mà thao thức tới gần sáng.
Hết chương